Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Cho vay kinh doanh bất động sản tại các ngân hàng thương mại TP. Hồ Chí Minh.pdf



DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1. Vốn FDI đầu tư vào bất động sản Trang 27
Hình 2.2. Biểu đồ dư nợ bất động sản qua các năm Trang 30
Hình 2.3 Biểu đồ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại qua các năm Trang 34




DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. FDI đầu tư vào bất động sản giai đoạn từ 1988-2008 27
Bảng 2.2. FDI đầu tư vào bất động sản giai đoạn từ 2006-T7/2009 28
Bảng 2.3 : Kết quả lợi nhuận một số doanh nghiệp ngành bất động sản 29
Bảng 2.4 : Dư nợ cho vay bất động sản của các ngân hàng thương mại 31
Bảng 2.5 Tỷ trọng dư nợ cho vay bất
động sản 31

Bảng 2.6 Số liệu cho vay kinh doanh bất động sản tại các NHTM 32


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KINH DOANH 3
BẤT ĐỘNG SẢN 3
1.1. Thị trường bất động sản 3
1.1.1. Khái niệm thị trường bất động sản 3
1.1.2. Phân loại thị trường bất động sản 3
1.1.3. Đặc điểm thị trường bất động sản 5
1.1.4. Vai trò của thị trường bất động sản 9
1.2. Nghiệp vụ cho vay kinh doanh bất động sản của Ngân hàng thương mạ
i 10
1.2.1. Các hình thức phát triển của thị trường tín dụng bất động sản 10
1.2.1.1.Thị trường trực tiếp (hay thị trường cầm cố sơ cấp) 10
1.2.1.2. Thị trường cầm cố thứ cấp 11
1.2.1.3. Chứng khoán hóa các khoản tín dụng 11
1.2.2. Nghiệp vụ cho vay kinh doanh bất động sản của Ngân hàng thương mại 13
1.2.2.1. Các tiêu chí thẩm định cho vay kinh doanh bất động sản 13
1.2.2.2. Các sản phẩm cho vay kinh doanh bất động sản 14
1.2.3. R
ủi ro tín dụng đối với cho vay kinh doanh bất động sản 14
1.2.3.1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan 14
1.2.3.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan 15
1.3. Kiểm soát rủi ro đối với cho vay kinh doanh bất động sản tại các ngân hàng
thương mại 19
1.3.1. Kiểm soát rủi ro trong cho vay kinh doanh bất động sản 19
1.3.2. Các thủ tục kiểm soát rủi ro trong cho vay kinh doanh bất động sản 20
1.3.2.1. Xây dựng mục tiêu phát triển tín dụng bất động sản phù hợp 20
1.3.2.2. Xây dựng các tiêu chí thẩm định cho vay kinh doanh bất độ
ng sản 20
1.3.2.3. Tổ chức quy trình nghiệp vụ tín dụng chặt chẽ 21
1.3.2.4. Hình thành cơ sở dữ liệu, dự báo thị trường bất động sản 22
1.4. Khái quát về kiểm soát rủi ro tín dụng đối với cho vay bất động sản và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam 23
1.4.1. Khái quát về kiểm soát rủi ro đối với cho vay bất động sản tại Mỹ 23
1.4.2. Các bài học kinh nghiệm về kiểm soát rủi ro
đối với cho vay bất động sản từ
các ngân hàng Mỹ 25


Kết luận Chương I 26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
26
2.1. Thực trạng về thị trường bất động sản Việt Nam 26
2.1.1. Tiềm năng của thị trường bất động sản Việt Nam 26
2.1.2. Kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp bất động sản 28
2.2. Thực trạng cho vay kinh doanh bất động sản tại các Ngân hàng thương mại
Thành phố Hồ Chí Minh 30
2.2.1. Số liệu cho vay kinh doanh bất động sản tại các Ngân hàng thương mại 30
2.2.2. Nghiệp vụ cho vay kinh doanh b
ất động sản tại các Ngân hàng thương mại
TP Hồ Chí Minh 32
2.2.3. Thực trạng rủi ro tín dụng đối với cho vay kinh doanh bất động sản 35
2.2.3.1. Số liệu về nợ xấu của các ngân hàng thương mại 35
2.2.3.2. Rủi ro do thị trường bất động sản thiếu tính chuyên nghiệp 37
2.2.3.3. Rủi ro từ phía khách hàng vay 38
2.2.3.4. Rủi ro từ phía ngân hàng thương mại 39
2.2.4. Kiểm soát rủi ro đối với cho vay kinh doanh bất động sản tại các Ngân hàng
thươ
ng mại Thành phố Hồ Chí Minh 42
2.3. Đánh giá kiểm soát rủi ro của các Ngân hàng thương 44
2.3.1. Ưu điểm 44
2.3.2. Hạn chế 45
2.3.2.1. Liên quan đến góc độ quản trị tín dụng 45
2.3.2.2. Liên quan đến vấn đề tác nghiệp 46
2.3.3. Nguyên nhân 47
2.3.3.1 Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp đi vay 47
2.3.3.2. Các nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại 47
Kết luận Chương II 50
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP CHO VAY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
50
3.1. Xu hướng phát triển của thị trường bất động sản 50
3.2. Các giải pháp cho vay kinh doanh bất động sản của các Ngân hàng thương mại
TP Hồ Chí Minh 51
3.2.1. Phát triển các nghiệp vụ tín dụng phù hợp với thị trường kinh doanh bất động
sản 51
3.2.1.1. Nghiệp vụ tín thác bất động sản 51


3.2.1.2. Xây dựng và phát triển thị trường tài chính nhà ở, thị trường thế chấp thứ
cấp bất động sản 53
3.2.2. Tổ chức quy trình cho vay hiệu quả 54
3.2.3. Xây dựng phương pháp định giá bất động sản phù hợp 58
3.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ tín dụng có chất lượng 58
3.2.5. Xây dựng biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả 60
3.2.6. Quản lý cân đối thanh khoản 61
3.3. Các giải pháp kiểm soát rủi ro của Ngân hàng Nhà nước 62
3.3.1. T
ăng cường công tác quản lý, giám sát cho vay kinh doanh bất động sản 62
3.3.2. Phát triển thị trường vốn trung, dài hạn cho thị trường bất động sản 64
3.4. Các giải pháp vĩ mô của Nhà nước đối với cho vay kinh doanh bất động sản 64
3.4.1. Nhà nước cần tạo lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền chủ nợ của ngân hàng 64
3.4.2. Các biện pháp nhằm phát triển ổn định thị trường bất động sản 65
3.4.3. Xây dự
ng hệ thống thông tin bất động sản 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 70
KẾT LUẬN
71
Trang

1


LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Bất động sản là hàng hoá đặc biệt, có giá trị rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống kinh tế- xã hội. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản dù mang lại nhiều lợi
nhuận nhưng vẫn là một ngành kinh tế nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn,
mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào sự biến động giá cả trên thị tr
ường bất động sản.
Đối với các ngân hàng thương mại trên thế giới, cho vay trong lĩnh vực bất
động sản hoặc cho vay thế chấp bằng bất động sản, nhìn chung là nghiệp vụ phổ
biến. Ở Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển nên nguồn vốn trong thị
trường bất động sản phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống ngân hàng thương mại. Tỷ
trọng dư nợ tín d
ụng đối với cho vay trong lĩnh vực bất động sản và cho vay có bảo
đảm bằng tài sản là bất động sản chiếm đa số trong nghiệp vụ tín dụng của ngân
hàng thương mại. Do đó tác động của thị trường bất động sản có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Đó cũng là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Cho vay kinh doanh bấ
t
động sản tại các Ngân hàng thương mại Thành phố Hồ Chí Minh”. Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tế, tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm
kiểm soát rủi ro tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản, góp phần ổn
định hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ

nhất: Nghiên cứu thị trường bất động sản Việt Nam, những lý luận về
việc cung cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng đối với hoạt động kinh doanh bất động
sản, trong đó có nghiên cứu kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới, điển hình
là Mỹ
Thứ hai:

Đề tài phân tích thực tế hoạt động tín dụng; nhận diện và đánh giá
rủi ro đối với tín dụng bất động sản của các ngân hàng thương mại trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang

2


Thứ ba: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, và nghiên cứu những tồn tại, vướng
mắc khó khăn trong hoạt động tín dụng bất động sản, đề tài đề xuất một số giải pháp
nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng trong lĩnh vực bất động sản, góp phần nâng cao hiệu
quả vốn tín dụng ngân hàng và góp phần phát triển thị trường bất động lành mạnh,
bền vững.
3.
Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ giới hạn ở:
1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi các Ngân hàng
thương mại và thị trường bất động sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
2. Thời gian: Số liệu nghiên cứu được sử dụng từ năm 2006-tháng 06/2009
3. Đề tài giới hạn ở việc đề xuất những giải pháp để kiểm soát r
ủi ro mà không
đi sâu vào nghiên cứu các công cụ, kỹ thuật phòng chống rủi ro.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động và phát triển.
- Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo của các cơ quan chức
năng, tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng: trên báo, tạp chí
chuyên ngành, Internet…
- Phương pháp thống kê so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu…
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản, ngân hàng;
các công trình tài liệu được công bố trên báo chí.
5. Nội dung nghiên cứu
Luận văn có khối lượng 70 trang, được trình bày với kết cấu như sau:
Chương

I: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh
bất động sản
Chương II
:
Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh bất
động sản tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM
Chương III:

Các giải pháp kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh
bất động sản tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM
Do hạn chế về thời gian và tài liệu nghiên cứu, luận văn còn nhiều thiếu sót,
rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy cô và các bạn đọc quan tâm.


Trang 3


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KINH DOANH
BẤT ĐỘNG SẢN

1.1. Thị trường bất động sản
1.1.1. Khái niệm thị trường bất động sản:
Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về thị trường bất động sản, dựa trên cơ sở
nghiên cứu lý luận, các nhà nghiên cứu về bất động sản trong nước cũng như quốc tế đã
đưa ra một số khái niệm sau đây về thị trường bất động sản
Khái niệm 1: thị trường bất động sản là nơi hình thành các quyết định về việc ai
tiếp cận được bất động sản và bất động sản đó được sử dụng như thế nào và vì mục đích
gì.
Khái niệm 2: thị trường bất động sản là đầu mối thực hiện và chuyển dịch giá trị
của hàng hoá bất động sản.
Khái niệm 3: thị trườ
ng bất động sản là “nơi”diễn ra các hoạt động mua bán,
chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như môi giới, tư vấn…
giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường bất
động sản có tác động quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh
doanh đối với thị trường bất động sả
n.
Khái niệm 4: thị trường bất động sản là "nơi" tiến hành các giao dịch về bất động
sản gồm chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ hỗ trợ như môi giới, tư vấn.
Như vậy, khái niệm về thị trường bất động sản có thể được khái quát như sau:
Thị trường bất động sản là quá trình giao dịch hàng hoá bất động sản giữa các
bên có liên quan. Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, cho thuê,
thế chấp và các dịch vụ có liên quan đến bất động sản như trung gian, môi giới, tư
vấn giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước có tác động
quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh trên thị
trường bất động sản.
1.1.2. Phân loại thị trường bất động sản:
¾ Phân loại dựa vào hàng hoá trên thị trường, gồm:
- Thị trường đất đai, nhà ở
Trang 4


- Thị trường bất động sản dịch vụ
- Thị trường bất động sản văn phòng, cho thuê
- Thị trường bất động sản công nghiệp
- Thị trường bất động sản du lịch
¾ Phân loại theo trình tự tham gia thị trường
- Thị trường sơ cấp (Nhà nước giao đất, cho đất tạo nguồn cung đầu vào về đất
đ
ai bất động sản cho doanh nghiệp, người dân)
- Thị trường thứ cấp (nơi diễn ra các giao dịch của các bên về mua bán…)
¾ Phân loại theo mức độ đầu tư
- Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: bất động sản nhà ở, bất động sản nhà
xưởng và công trình thương mại- dịch vụ, bất động sản hạ tầng (hạ tầng k

thuật, hạ tầng xã hội), bất động sản là trụ sở làm việc v.v Trong bất động sản có
đầu tư xây dựng thì nhóm bất động sản nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản
gắn liền với đất) là nhóm bất động sản cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, mang tính
chất phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ch
ủ quan và khách quan.
Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước cũng như phát triển đô thị bền vững. Nhóm bất động sản này chiếm đại đa
số các giao dịch trên thị trường bất động sản.
- Bất động sản không đầu tư xây dựng: chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư
liệu sản xuất) bao gồm các lo
ại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ
sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v
- Bất động sản đặc biệt là những bất động sản như các công trình bảo tồn quốc
gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v
Đặc điểm của loại bất động sản này là kh
ả năng tham gia thị trường rất thấp.
¾ Phân loại theo mục đích sử dụng:
- Bất động sản xây dựng cơ sở hạ tầng: bao gồm đầu tư các hạng mục cầu
đường
- Bất động sản dự án nhà ở, bao gồm dự án đầu tư khu dân cư, khu căn hộ…
Trang 5


- Bất động sản sản xuất thương mại bao gồm đầu tư nhà xưởng, khu công
nghiệp, trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê…
- Bất động sản du lịch bao gồm đầu tư nhà hàng khách sạn, khu nghỉ dưỡng,
resort…
Việc phân chia bất động sản theo các hình thức trên đây là rất cần thiết bảo
đảm cho việc xây dựng cơ chế chính sách về phát triển và quản lý thị trường bất
động sản phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội.
1.1.3. Đặc điểm thị trường bất động sản
Thứ nhất, thị trường bất động sản mang tính khu vực một cách sâu sắc
Bất động sản gắn liền với tình hình kinh tế xã hội tại một khu vực nhất định.
Điều này thể hiện qua sự chênh lệch giá cả bất động s
ản rất rõ rệt giữa các địa
phương, thậm chí ngay trong một khu vực.
Sự chênh lệch về giá của thị trường bất động sản được gắn liền với nhu cầu,
tâm lý, thị hiếu, tập quán của người sở hữu; với tình trạng phát triển cơ sở hạ tầng
và vệ sinh môi trường của khu vực có bất động sản muốn mua-bán; với hình dạng,
khuôn kh
ổ, quy mô bất động sản; thậm chí cả với các yếu tố tâm linh và tín ngưỡng
khác của địa phương và cá nhân
Thứ hai, thị
trường
bất động sản chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật, và
chính sách quản lý của Nhà nước
Vì có giá trị lớn nên việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản phải nằm
trong sự quản lý, giám sát của Nhà nước. Các hợp đồng giao dịch liên quan đến bất
động sản phải tuân thủ các thủ tục pháp lý như công chứng, đăng ký giao dịch. Nhà
Nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp c
ủa các bên thông qua cấp các giấy tờ
về sở hữu, sử dụng bất động sản.
Đối với thị trường bất động sản thì vai trò quản lý nhà nước có tác động lớn hơn
nhiều so với nhiều thị trường khác và mang tính định hướng, thậm chí quyết định sự phát
triển của thị trường, thị trường phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố do các cơ quan quản lý
nhà nước quyết định như: hệ thống cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm… ; các luật
liên quan đến chuyển nhượng, thuế và các chính sách tiền tệ…

Kiến trúc hệ thống quản trị mạng dựa trên xml

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



ĐINH THỊ KIM NGỌC





KIẾN TRÚC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ MẠNG
DỰA TRÊN XML

Chuyên nghành: KHOA HỌC MÁY TÍNH
Mã số : 60.48.01



LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN




Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN TAM






THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



ĐINH THỊ KIM NGỌC





KIẾN TRÚC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ MẠNG
DỰA TRÊN XML







LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN











THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU i
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CÁC KIẾN TRÚC QUẢN TRỊ MẠNG 2
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Kiến trúc mạng 6
1.2.1 Mô hình OSI 6
1.2.2 Mô hình TCP/IP 9
1.3 Kiến trúc và mô hình quản trị mạng 10
1.3.1 Kiến trúc và mô hình quản trị mạng OSI 10
1.3.2 Kiến trúc và mô hình quản trị mạng SNMP 14
1.3.3 Kiến trúc quản trị tích hợp OMP 20
1.4 Kết luận chƣơng 1 23
CHƢƠNG 2 - KIẾN TRÚC HỆ THỐNG QUẢN TRỊ MẠNG DỰA TRÊN XML 25
2.1 Giới thiệu 25
2.2 Những kỹ thuật liên quan đến XML 26
2.3 Kiến trúc quản trị mạng dựa trên XML 27
2.4 Nghiên cứu về quản trị mạng dựa trên XML 32
2.4.1 Mô hình quản trị mạng dựa trên XML 32
2.4.2 Hoạt động của kiến trúc quản trị mạng dựa trên XML 35
2.4.3 Tích hợp XML - SNMP 37
2.4.4 Kiến trúc quản trị tích hợp dựa trên Web 38
2.5 Phƣơng pháp để quản trị mạng tích hợp dựa trên XML 41
2.5.1 Bốn phƣơng pháp cho tích hợp 41
2.5.2 Sự so sánh giữa 4 phƣơng pháp 43
2.6 Thiết kế hệ thống quản trị dựa trên XML 44
2.6.1 Manager dựa trên XML 44
2.6.2 Agent dựa trên XML 46

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
2.6.3 Hệ thống quản trị XGEMS 47
2.7 Kết luận chƣơng 2 52
CHƢƠNG 3 - PHÁT TRIỂN CHUYỂN ĐỔI CỔNG XML/SNMP CHO QUẢN
TRỊ MẠNG TÍCH HỢP DỰA TRÊN XML 53
3.1 Giới thiệu 53
3.2 Công việc liên quan và đề xuất giải pháp 54
3.2.1 Các mặt hạn chế của quản trị mạng dựa trên SNMP 54
3.2.2 Thuận lợi của XML cho quản trị mạng 56
3.2.3 Quản trị mạng dựa trên XML 58
3.3 Các phƣơng pháp trao đổi của cổng XML/SNMP 60
3.3.1 Trao đổi dựa trên DOM 61
3.3.2 Trao đổi dựa trên HTTP 63
3.3.3 Trao đổi dựa trên SOAP 65
3.3.4 Phân tích các phƣơng pháp đề xuất 67
3.4 Nghiên cứu về chuyển đổi SNMP MIB thành XML 68
3.4.1 Thuật toán chuyển đổi 69
3.4.2 Thực hiện chuyển đổi 79
3.4.3 Cổng XML/SNMP 80
3.5 Kết luận chƣơng 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85








Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ
viết tắt
Tiếng Anh Tiếng Việt
API Application Programming
Interface
Giao diện chƣơng trình ứng dụng
CIM Common Information Model Mô hình thông tin chung
DNS Domain Name System Hệ thống quản trị tên miền
DOM Document Object Model Mô hình đối tƣợng tài liệu
DTD Document Type Definition Định nghĩa kiểu tài liệu
FTP File Tranfer Protocol Giao thức truyền file
HTML Hyper Text Markup Language Ngôn ngữ dánh dấu siêu văn bản
HTTP Hyper Text Tranfer Protocol Giao thức truyền siêu văn bản
IETF Internet Engineering Task Force Là tổ chức đã đƣa ra chuẩn SNMP
thông qua các RFC
IP Internet Protocol Giao thức Liên mạng
LAN Local Area Network Mạng cục bộ
MIB Management Information Base Thông tin quản trị cơ sở
MO Managed Object Đối tƣợng quản trị
MUI Manager User Interface Quản lý giao diện ngƣời dùng
NMS Network Manager Stations Trạm quản trị mạng
OID Object Identifier Định nghĩa tên của đối tƣợng
OMP Open Management Platform Hệ thống quản trị mở
OSI Open Systems Interconnection Kết nối các hệ thống mở
SAX Simple API for XML Giao tiếp đơn giản xử lý dữ liệu XML
theo mô hình hƣớng sự kiện
SGMP Simple Gateway Management
Protocol
Giao thức quản trị cổng đơn giản,
dùng chủ yếu cho Internet
SMAE System Management Application
Entity
Hệ thống quản trị thực thể ứng dụng
SMI Structure of Management
Information
Cấu trúc thông tin quản trị
SNMP Simple Network Managerment
Protocol
Giao thức quản trị mạng đơn giản
SOAP Simple Object Access Protocol Giao thức truy cập đối tƣợng đơn giản
TCP Tranfer Control Protocol Giao thức Điều khiển Giao vận
WAN Wide Area Network Mạng diện rộng
WBM Web Base Manager Quản trị dựa trên nền Web
WIMA Web-based Integrated
Management Architecture
Kiến trúc quản trị tích hợp dựa trên
nền Web
XLS Extensible
Style-sheet Language
Ngôn ngữ định kiểu mở rộng
XML Extensible Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 - So sánh giữa 4 phƣơng pháp
Bảng 2.2 - Ví dụ XML của “XQuery” trong yêu cầu nhận HTTP
Bảng 2.3 - Tài liệu XML của DeviceInfo
Bảng 3.1 - So sánh các phiên bản SNMP
Bảng 3.2 - Biểu thức XPath và XQuery trong URI mở rộng
Bảng 3.3 - SOAP message của quản trị dựa trên XML và cổng
Bảng 3.4 - Ƣu điểm và nhƣợc điểm của các phƣơng pháp
Bảng 3.5 - Chuyển đổi cấu trúc tài liệu
Bảng 3.6- Định nghĩa lƣợc đồ XML của kiểu dữ liệu SMIv1
Bảng 3.7 - Định nghĩa lƣợc đồ XML của kiểu dữ liệu SMIv2
Bảng 3.8 - Định nghĩa lƣợc đồ XML của kiểu dữ liệu do ngƣời dùng định nghĩa
Bảng 3.9- Các thao tác của SNMP và HTTP



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 - Mô hình OSI
Hình 1.2 - Mô hình TCP/IP
Hình 1.3 - Mô hình quản trị mạng OSI
Hình 1.4 - Mô hình truyền thông OSI
Hình 1.5 - Mô hình chức năng OSI
Hình 1.6 - Mô hình quản trị mạng SNMP
Hình 1.7 - Hoạt động của mô hình quản trị mạng SNMP
Hình 1.8 - Phƣơng pháp quản trị OMP
Hình 2.1 - Tổng quan về kiến trúc quản trị mạng dựa trên XML
Hình 2.2 - Element Management Level
Hình 2.3 - Network Management Level
Hình 2.4 - Kiến trúc WBM Agent
Hình 2.5 - Kiến trúc WBM Manager
Hình 2.6 - Kiến trúc Quản trị mạng dựa trên nền Web
Hình 2.7 - Các phƣơng pháp kết hợp giữa manager và agent
Hình 2.8 - Kiến trúc của manager dựa trên XML
Hinh 2.9 - Kiến trúc của agent dựa trên XML
Hình 2.10 - Lƣợc đồ XML của XGEMS
Hình 3.1- Mô hình truyền thông của quản trị mạng dựa trên XML
Hình 3.2- Kết hợp tƣơng tác của Managers và Agents
Hình 3.3 - Tƣơng tác giữa quản trị dựa trên XML và cổng sử dụng DOM
Hình 3.4 - Tƣơng tác chuyển đổi của HTTP Request đến SNMP Request
Hình 3.5 - Kiến trúc dựa trên SOAP của manager và cổng
Hình 3.6 - Cấu trúc chuyển đổi SNMP MIB thành XML
Hình 3.7 - Ứng dụng của cổng XML/SNMP

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhƣ vũ bão của công nghệ thông tin, điện tử
viễn thông, mạng viễn thông nói chung, mạng Internet nói riêng cũng đƣợc phát
triển hiện đại và phức tạp. Cùng với sự phát triển đó, các thiết bị quản trị mạng đòi
hỏi ngày càng phải phát triển đa dạng hơn. Điều này đặt ra cho ngƣời điều hành
mạng phải có kiến thức thông qua đào tạo và cập nhật kiến thức thƣờng xuyên.
Việc quản lý nhiều loại mạng khác nhau, một mặt sẽ xuất hiện yêu cầu phải
thu thập một khối lƣợng lớn các số liệu, mặt khác các số liệu này còn phải đƣợc
phân tích, xử lý trƣớc khi đƣa ra một biện pháp quản lý thực sự; Điều này sẽ đặt ra
rất nhiều khó khǎn cho ngƣời điều hành, nếu không có một công cụ hiệu quả trong
tay. Hơn nữa, do có sự phát triển phức tạp của mạng, cùng với yêu cầu chất lƣợng
dịch vụ đòi hỏi ngày càng cao thì quản trị mạng dựa trên XML chính là công cụ tốt
để giải quyết các vấn đề trên; XML là ngôn ngữ đƣợc định nghĩa bởi tổ chức mạng
toàn cầu W3C, nó có rất nhiều lợi ích nhƣ:
XML có thể dễ dàng tạo, phân tích và xử lý các thông tin quản trị, nó hỗ trợ
cho việc tạo cấu trúc dữ liệu và có thể quản lý đƣợc sự tổ chức phức tạp của thông
tin. DTD và lƣợc đồ XML có thể đặc tả và đánh giá cấu trúc của tài liệu XML, do
vậy những nhà phát triển hệ thống có thể dễ dàng định nghĩa đƣợc cấu trúc thông tin
quản trị theo nhiều cách khác nhau. XLST dùng để chuyển đổi từ tài liệu XML sang
các định dạng truyền thống khác nhƣ HTML. Xpath/Xquery có thể xử lý các phần
tử thông qua các biểu thức hoặc các điều kiện. Các thao tác XML có thể đƣợc
truyền thông qua SOAP, nó cho phép các chức năng quản trị đƣợc thực hiện nhƣ là
các dịch vụ Web.
Mặc dù quản trị mạng dựa trên XML là một lĩnh vực hiện nay đang đƣợc nghiên
cứu và triển khai, nhƣng việc sử dụng XML vào quản trị mạng có rất nhiêu lợi ích
nhƣ đã nêu trên; Hơn nữa, trong lĩnh vực quản trị mạng việc áp dụng XML đã thành
công, có hiệu quả, nhất là gần đây quản trị mạng dựa trên XML đã đƣợc áp dụng
cho nhiều công nghệ quản trị mạng, do đó nó đã đƣợc đề xuất nhƣ là một cách thay
thế cho các công cụ quản trị mạng hiện có.
Từ những phân tích, trình bày nhƣ trên, tôi chọn "Kiến trúc hệ thống quản
trị mạng dựa trên XML" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng; Trong đó, chƣơng 1
trình bày một cách tổng quan về các kiến trúc quản trị mạng, chƣơng 2 trình bày về
kiến trúc quản trị mạng dựa trên XML và chƣơng 3 là việc phát triển chuyển đổi
cổng XML/SNMP cho quản trị mạng tích hợp dựa trên XML.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC KIẾN TRÚC
QUẢN TRỊ MẠNG
1.1. Giới thiệu
Quản trị mạng là việc sử dụng các công cụ và thiết bị khác nhau để giám sát
và duy trì hoạt động mạng. Sau giai đoạn thiết kế và triển khai mạng ban đầu, nhiệm
vụ quản trị mạng đƣợc tập trung chủ yếu vào việc đảm bảo vận hành mạng ổn định
hàng ngày và chuẩn bị cho việc hoạch định phát triển mạng tiếp theo. Khi độ phức
tạp của mạng tăng lên (có các kết nối LAN, WAN với các mạng từ xa, có sử dụng
pha tạp nhiều loại giao thức khác nhau), nếu thiếu một cơ quan quản trị vận hành
mạng bài bản sẽ rất khó khăn trong việc phát hiện và sử lý kịp thời sự cố cũng nhƣ
việc đảm bảo an ninh mạng và việc thực hiện một cách trơn tru về nâng cấp, mở
rộng mạng về sau.
Nhiệm vụ quản trị vận hành mạng chia thành 5 nhóm chức năng gồm: quản
trị tài nguyên mạng, quản trị hiệu suất, quản trị kế toán, quản trị lỗi và quản trị an
ninh mạng.
* Quản trị tài nguyên mạng
Mục đích của quản trị tài nguyên mạng nhằm:
- Hiểu rõ cấu hình mạng
- Quản lý địa chỉ, tên, thông tin và phần mềm
- Chuẩn bị cấu hình lại hệ thống và khắc phục sự cố
Các hạng mục cần thiết cho quản trị tài nguyên là quản trị cấu hình, quản trị địa chỉ/
tên, quản trị phần mềm và quản trị các máy phụ vụ.
+ Quản trị cấu hình: Mục đích chính của quản trị cấu hình là theo dõi cấu
hình toàn mạng, trạng thái kết nối các thiết bị cấu thành của mạng và sự thay đổi
của chúng. Công việc quản trị cấu hình đƣợc cấu trúc hoá theo sơ đồ phân cấp.
+ Quản trị tên/địa chỉ: Địa chỉ (MAC và IP) của các hệ thống đầu - cuối và
thiết bị kết nối mạng cần đƣợc quản lý một cách có hệ thống để tránh trùng lặp gây
nên lỗi mạng. Địa chỉ MAC có loại toàn cầu (đã đƣợc xác định duy nhất) và loại do
ngƣời dùng tự đặt. Điạ chỉ IP (32 bit gồm địa chỉ mạng và các địa chỉ trạm) cần
đƣợc gán cho mỗi hệ thống đầu - cuối hay thiết bị kết nối mạng có sử dụng giao
thức TCP/IP. Nên áp dụng địa chỉ toàn cầu (do nhà cung cấp dịch vụ mạng cấp cho)
khi mạng có sự kết nối ra bên ngoài.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Khi thiết kế điạ chỉ IP trƣớc tiên phải xác định các địa chỉ mạng (đƣợc kết
nối bởi router) sao cho chúng là duy nhất; Sau đó gán địa chỉ các trạm trong từng
mạng sao cho chúng là duy nhất trong mạng đó. Có thể nghiên cứu sử dụng
Subnetnumber (một vài bit thuộc phần địa chỉ trạm) để mở rộng một địa chỉ mạng
đơn lẻ thành hai địa chỉ mạng hay nhiều hơn. Khi sử dụng Subnetnumber thì tất cả
các trạm và router nối vào mạng cấp dƣới đó nhất thiết phải biết về số lƣợng trong
từng điạ chỉ IP. Việc này đƣợc sử dụng mạng cấp dƣới (Subnetmask) 32 bit, có các
bit 1 ứng với địa chỉ mạng và các bit 0 ứng với các địa chỉ trạm.
+ Quản trị phần mềm: Quản trị phần mềm liên quan đến hai việc là đăng ký
địa chỉ cổng (port number) cho các phần mềm ứng dụng và phân phối phần mềm
trên mạng.
Trong môi trƣờng làm việc mạng, để có thể giao tiếp với các ứng dụng mạng
(theo thiết kế là để chạy trên tất cả các trạm đầu - cuối) cần phải gán cho chúng
một địa chỉ cổng duy nhất. Một số địa chỉ mặc định đã đƣợc sử dụng cho các
dịch vụ chuẩn nhƣ FPT=21, Telnet = 23, SMTP = 25 v.v… Khi ngƣời dùng đƣa ứng
dụng của mình vào làm việc trên mạng thì phải tránh những những địa chỉ đó và nên
đăng ký với ngƣời quản trị để tránh sự trùng lặp về sau với các ứng dụng khác.
Việc thứ hai là cần quản lý các phần mềm đƣợc cài đặt trên các hệ thống đầu
- cuối. Phải xác định rõ phần mềm nào (và phiên bản của nó) đã đƣợc phân phối đến
các hệ thống đầu cuối nào; Đảm bảo việc phân phối và cài đặt phần mềm tại các hệ
thống đầu cuối đƣợc thực hiện đúng và để cho ngƣời sử dụng chọn bất kỳ phần
mềm nào có thể cài đặt đƣợc.
+ Quản trị máy phục vụ: Bao gồm quản trị cấu hình các máy phục vụ chính
trên mạng (tệp, Cơ sở dữ liệu, in mạng, thƣ điện tử), công việc này phải kiểm tra
thƣờng xuyên và đảm bảo duy trì sự ổn định.
- Máy phục vụ tệp: Phải đảm bảo đủ dung lƣợng đĩa trống, xoá các file không
đƣợc truy cập sau một khoảng thời gian nhất định; Nhận diện những ngƣời dùng file,
thực hiện sao lƣu/phục hồi dữ liệu định kỳ và theo dõi số lƣợng ngƣời đăng nhập
(logged in).
- Máy phục vụ cơ sở dữ liệu: Nên chuẩn bị một máy dành riêng, để theo dõi số
lƣợng ngƣời đăng nhập.
- Máy phục vụ in mạng: Thực hiện xếp hàng đợi in với spooter (ghi tạm vào
bộ nhớ hay đĩa, thực hiện in nên dần dần); Kiểm soát hệ thống giấy và kiểu giấy; Giám
sát không gian trống trên đĩa khi có hàng đợi in.

Thực trạng hoạt động Marketing của công ty Minh Quân giai đoạn

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Môi trường này có ảnh rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố cơ bản bao gồm:
• Tiềm năng của nền kinh tế.
• Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
• Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
• Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát.
• Hoạt động ngoại thương, xu hướng đóng/mở của nền kinh tế.
• Tỉ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia.
• Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi.
• Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của nền kinh tế….
Môi trường cạnh tranh.
Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển. Trong môi trường cạnh tranh,
ai hoàn thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn thì người đó sẽ
thắng, sẽ tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp cần chú ý một số yếu tố sau trong
môi trường cạnh tranh:
• Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trường.
• Số lượng đối thủ.
• Ưu, nhược điểm của đối thủ.
• Chiến lược cạnh tranh của đối thủ.
Môi trường địa lý - sinh thái.
Trong môi trường này, doanh nghiệp cần chú ý các yếu tố như:
• Vị trí địa lý.
• Khí hậu, thời tiêt, tính thời vụ.
• Các vấn đề về cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường.
1.1.3. Nghiên cứu khách hàng.
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Hiểu biết đầy đủ về khách hàng, nhu cần và cách thức mua sắm của họ là
một trong những cơ sở quan trọng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lựa chọn
đúng cơ hội kinh doanh và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của doanh
nghiệp.
Căn cứ vào đặc điểm nhu cầu và cách thức mua sắm của khách hàng trên thị
trường, có thể chia khách hàng làm hai nhóm cơ bản sau:
• Người tiêu thụ trung gian.
• Người tiêu thụ cuối cùng.
Mỗi nhóm khách hàng có những nhu cầu mua sắm và cách thức mua sắm
khác nhau, vì vậy doanh nghiệp cần làm rõ từng nhóm khách hàng để có chính
sách tiếp cận cũng như chính sách thoả mãn phù hợp.
1.1.4. Chính sách sản phẩm.
Sản phẩm là một trong bốn tham số cơ bản trong Maketing ( sản phẩm, xúc
tiến, giá cả, phân phối). Bất cứ một doanh nghiệp nào - nhất là doanh nghiệp
thương mại - cũng phải có những chính sách cụ thể và đúng đắn về sản phẩm
nếu muốn thành công trên thị trường.
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của Maketing. Xác định dúng sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến
khả năng tiêu thụ và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Có hai cách tiếp cận để mô tả sản phẩm:
• Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo truyền thống.
• Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo quan điểm Maketing.
Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu nhược điểm riêng của nó. Việc lựa chọn
cách tiếp cận nào là tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp.
Một điều không thể không nhắc tới trong chính sách sản phẩm, đó là việc định
hướng phát triển sản phẩm mới. Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động khó
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
lường thì đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới về sản phẩm. Điều
chú ý là sản phẩm mới không nhất thiết là mới hoàn toàn. Một sản phẩm cũ cải
tiến cũng có thể được coi là sản phẩm mới.
1.1.5. Chính sách phân phối.
Người tiêu dùng không chỉ cần sản phẩm tốt và giá rẻ mà họ còn cần được
đáp ứng đúng thời gian và địa điểm. Vì vậy để thành công trong kinh doanh,
chính sách phân phối của doanh nghiệp không thể bị coi nhẹ.
Xây dựng chính sách phân phối, doanh nghiệp cần chú ý giải quyết tốt các
nội dung sau:
• Lựa chọn địa điểm.
• Lựa chọn và tổ chức kênh phân phối.
• Tổ chức và điều khiển quá trình phân phối hiện vật.
Một trong những yếu tố rất quan trọng của chính sách phân phối là địa điểm.
Lựa chọn địa điểm liên quan đến các nội dung xác định thị trường của doanh
nghiệp theo tiêu thức địa lý và khách hàng đồng thời cụ thể hoá nó trong chiến
lược phân phối. Lựa chọn địa điểm được tiến hành theo hai tiêu thức:
 Lựa chọn địa điểm ở đâu.
 Lựa chọn địa điểm cho ai.
Kênh phân phối mà doanh nghiệp có thể lựa chọn trong chính sách phân
phối của mình:
 Kênh phân phối trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp.
 Kênh phân phối ngắn, kênh phân phối dài.
Việc lựa chọn kênh phân phối nào là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể. Để thiết
kế hệ thống kênh phân phối cần chú ý các điểm sau: yếu tố ảnh hưởng, mục tiêu
và tiêu chuẩn của hệ thống, xác định dạng và phương án kênh phân phối, lựa
chọn và phát triển các phần tử trong kênh, điều chỉnh hệ thống kênh.
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.6. Chính sách xúc tiến.
Xúc tiến là công cụ hữu hiệu giúp cho cung cầu gặp nhau, xúc tiến làm cho
bán hàng trở nên dễ dàng hơn, xúc tiến là cầu nối giữa khách hàng và doanh
nghiệp,…Nói một cách ngắn gọn thì xúc tiến có vai trò rất quan trọng trong
kinh doanh. Chính sách xúc tiến là một trong những chính sách quan trọng
trong chiến lược Marketing.
Hoạt động xúc tiến bao gồm các hoạt động chính sau:
• Quảng cáo.
• Khuyến mại.
• Hội chợ, triển lãm.
• Bán hàng trực tiếp.
• Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác.
Các nội dung này đều có vai trò quan trọng như nhau. Để hoạt động xúc tiến
có hiệu quả, các doanh nghiệp nên sử dụng tổng hợp các nội dung trên. Tuỳ vào
điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn nội dung nào là chủ đạo. Thực tế đã
chứng minh rằng doanh nghiệp nào làm tốt công tác xúc tiến thì doanh nghiệp
đó đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh.
1.1.7. Chính sách giá cả.
Một doanh nghiệp bất kỳ khi hoạch định chiến lược, chính sách và kiểm
soát giá cả trong kinh doanh cần làm rõ một số vấn đề như: Mục tiêu đặt giá,
chính sách đặt giá, phương pháp tính giá.
Xác định mức giá cho các sản phẩm, dịch vụ cụ thể trong kinh doanh không
thể tuỳ ý. Định giá phải đáp ứng các mục tiêu đã được đặt ra của doanh nghiệp.
Nó phải đảm bảo:
• Phát triển doanh nghiệp (thị phần).
• Khả năng bán hàng (Doanh số).
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
• Thu nhập (Lợi nhuận).
Để đạt được mục tiêu định giá, doanh nghiệp cần đưa ra các quyết định rõ
ràng về chính sách giá của mình. Một số chính sách giá cơ bản:
• Chính sách về sự linh hoạt của giá.
• Chính sách về mức giá theo chu kỳ sống của sản phẩm.
• Chính sách về mức giá theo chi phí vận chuyển.
• Chính sách giảm giá và chiếu cố giá (chênh lệch giá).
Trên đây là một số nội dung cơ bản của Maketing ứng dụng vào trong hoạt
động kinh doanh nhằm làm cho hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả như
mong muốn.
1.2. Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH Công nghệ phẩm Minh
Quân:
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Minh Quân:
Công ty TNHH Minh Quân được thành lập và hoạt động theo quyết định
số 29 ngày 29 tháng 01 năm 2001 của Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội.
Công ty có trụ sở chính tại Số 88 Phố Hoàng Văn Thái – Quận Thanh
Xuân – Hà Nội
Đầu năm 2001 Công ty mới được thành lập nhưng đã có được chỗ đứng
trên thị trường thuộc Quân Thanh Xuân và Quận Đống Đa nhanh chóng do sự
nắm bắt thị trường một cách nhanh nhạy và chính xác của ban lãnh đạo công ty.
Năm 2002-2003 Công ty đã mở rộng thị trường của mình trên toàn thành
phố Hà Nội và uy tín cũng như tên tuổi của Công ty ngày càng được nhiều
người biết dến.
Đặc biệt năm 2004 bằng sự phấn đấu không ngừng Công ty đã được trở
thành nhà phân phối độc quyền về các sản phẩm của Công ty sữa Vinamilk cho
các khách sạn, nhà hàng, trường học,… đóng trên địa bàn Hà Nội. Đồng thời
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trong năm 2004 và 2005 Công ty còn mở rộng thị trường của mình ra các vùng
lân cận như: Hà Tây, Vĩnh Phúc…
1.2.2. Ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty TNHH công
nghệ phẩm Minh Quân.
Công ty TNHH công nghệ phẩm Minh Quân kinh doanh trong lĩnh vực
thương mại dịch vụ, buôn bán các loại sản phẩm như sữa, rượu, bia, bánh kẹo,
… Các sản phẩm chủ yếu của công ty là:
Các loại sữa chua: sữa chua trắng, sữa chua trái cây, sữa chua dâu, sữa chua
Yaho,…
Các loại sữa của hãng Vinamilk: sữa ông thọ, sữa đặc có đường Cacao, sữa
bột người lớn và trẻ em,…
Các loại bia: Carlsberg, Hà Nội, Halida,…
Các loại nước ngọt: Coca cola, Fanta, Sprite,…
Các loại bánh kẹo.
Thị trường đầu ra chủ yếu của công ty là khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận.
Đây là thị trường có tính cạnh tranh khốc liệt. Từng loại sản phẩm của công ty
trên thị trường đều phải cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm của các công ty
khác. Từng bước các sản phẩm của công ty đã khẳng định được vị thế của
mình.
Mặt hàng sữa chua là một mặt hàng giành chủ yếu cho giới trẻ và nó cũng là
một trong những sản phẩm mà giới trẻ rất thích. Tiềm năng của thị trường này
là rất khả quan. Dân số của khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận ngày một
tăng, trong đó giới trẻ chiếm số đông. Cùng với đó nhu cầu dùng những đồ
uống rẻ và có lợi cho sức khoẻ ngày một tăng. Đó chính là một thuận lợi rất lớn
cho loại sản phẩm này.
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Mặt hàng đồ uống như bia, rượu và nước giải khát là một trong những mặt
hàng ngày càng trở lên thiết yếu với cuộc sống. Thu nhập của người dân ngày
một cao, nhu cầu về đồ uống có ga cũng vì thế mà tăng lên. Thực tế cho thấy,
đồ uống ngày càng được sử dụng nhiều không chỉ trong các dịp lễ tết mà ngay
cả trong những bữa ăn hàng ngày. Nhu cầu của người tiêu dùng là rất lớn. Đây
là một thuận lợi to lớn đối với việc sản xuất và kinh doanh mặt hàng này.
Thị trường đầu vào của công ty khá phong phú. Không chỉ nhập hàng từ một
đầu mối nhất định mà công ty luôn chủ động tìm kiếm nguồn hàng rẻ và phong
phú cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường.
Tiềm năng thị trường của những mặt hàng mà công ty Minh Quân kinh
doanh là rất lớn. Nếu nắm bắt tốt cơ hội thì trong một tương lai không xa, cái
tên Công ty TNHH Minh Quân sẽ trở lên quen thuộc với người tiêu dùng.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận phòng ban
trong Công ty Minh Quân.
Công ty TNHH Công nghệ phẩm Minh Quân thuộc loại hình doanh nghiệp
nhỏ với bộ máy tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra tạo lập
năng lực và chất lượng hoạt động thúc đẩy kinh doanh phát triển, tiết kiệm chi
phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty gồm có:
Thứ nhất: Ban giám đốc bao gồm: Một giám đốc, một Phó giám đốc.
Giám đốc là người lãnh đạo cao nhất trong Công ty, chịu trách nhiệm toàn
bộ về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo việc làm
thường xuyên cho nghười lao động trong Công ty. Giám đốc là người sắp xếp
điều hành quản lí mọi hoat động của Công ty cơ sở pháp luật, quy chế điều
hành của nhà nước.
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phó giám đốc là người được giám đốc bổ nhiệm và uỷ quyền đảm nhiệm về
hoạt động sản xuất kinh doanh về mặt đối ngoại của Công ty như: Ký kết hợp
đồng liên doanh liên kết, hợp đồng mua bán vật tư tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
mà Công ty kinh doanh.
Thứ hai: Phòng kinh doanh có nhiệm vụ lập các kế hoạch, thực hiện và
quản lí các kế hoạch kinh doanh, tham mưu cho giám đốc trong việc tổ chức kí
kết các hợp đồng kinh tế. Tổ chức nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu dể
xây dựng kế hoạch kinh doanh, lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp cho
từng thị trường, lựa chọn tìm kiếm nguồn hàng, phục vụ cho hoạt động kinh
doanh, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, giữ chữ tín, giải quyết các vấn đề
phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Thứ ba: Bộ phận tài chính kế toán:
Đứng đầu bộ phận tài chính kế toán là một kế toán trưởng lãnh đạo thực
hiện các chức năng về chế độ tài chính, kế toán do nhà nước và các cơ quan có
chức năng quy định. Xử lí các nghiệp vụ kế toán trong quá trình kinh doanh,
quản lí vốn, tham gia xác định giá, quản lí các nguồn thu thuộc phòng kinh
doanh và cửa hàng Phản ánh tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn, lập ngân
sách và xác định nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty, cũng như xây dựng các
kế hoạch sử dụng vốn và huy động vốn cho hoạt động kinh doanh.
Thứ 4: Bộ phận tổ chức hành chính :
Bộ phận hành chính có nhiệm vụ quản lí và tổ chức những nhiệm vụ quản
trị của Công ty như xây dựng mô hình tổ chức, xây dựng các kế hoạch về lao
động, chế độ lương thưởng. Tham mưu cho giám đốc trong việc xét bậc lương
thưởng cho cán bộ công nhân viên của Công ty, sắp xếp bố trí lao động, giải
quyết các chế độ chính sách cho người lao động. Soạn thảo các công văn, quyết
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
định, quy định của Công ty, quản lí hành chính, văn thư lưu trữ, đảm bảo cơ sở
vật chất cho hoạt động kinh doanh của Công ty.
Thứ 5: Cửa hàng kinh doanh:
Cửa hàng số 1: Chuyên cung cấp hàng hoá của Công ty cho khu vực Quận
Thanh Xuân.
Cửa hàng số 2: Chuyên cung cấp hàng hoá của Công ty cho khu vực Quận
Ba Đình.
Hai cửa hàng có chức năng giới thệu sản phẩm, bán buôn, bán lẻ các loại
hàng hoá. Công ty phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng thông qua đó nắm
bắt thị hiếu, thái độ, nhu cầu, mức người tiêu dùng.
Thứ 6: Bộ phận kho :
- Thực hiện chức năng tiếp nhận hàng vào kho tổ chức bảo quản hàng hoá
trong kho, đảm bảo chất lượng giảm chi phí, hao hụt, mất mát, hư hỏng hàng
hoá .
- Tổ chức dự trữ hàng hoá để duy trì hoạt động kinh doanh đáp ứng yêu cầu
của khách hàng một cách kip thời, đồng bộ.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 15
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng tài chính
kết toán
Phòng kinh
doanh
Giám đốc
Phó giám đốc
Cửa hàng
số 1
Cửa hàng
số 2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
MARKETING CỦA CÔNG TY MINH QUÂN GIAI ĐOẠN 2002 - 2005.
2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Minh Quân giai
đoạn 2002 - 2005.
2.1.1. Nguồn hàng của Công ty Minh Quân.
Là một công ty thương mại, kinh doanh các mặt hàng sữa và đồ uống các
loại mặt khác, Công ty Minh Quân là nhà phân phối độc quyền kênh tiêu thụ
Horeca chuyên cung cấp các sản phẩm của công ty sữa Vinamilk cho khách
sạn, nhà nhà, trường học nên nguồn hàng chủ yếu của công ty được lấy từ
Công ty sữa Vinamilk. Ngoài ra, Công ty Minh Quân còn có nguồn hàng từ các
công ty đồ uống như Công ty bia rượu Hà Nội, Nhà máy bia Halida, …
Đỗ Thị Thanh - K6 - QTKDTM - ĐHKTQD 16

Hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng-thu tiền tại Công ty TNHH Kiểm toán Thế giới mới (NWA)

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
2007. Doanh thu dịch vụ khác năm 2007 tăng 110% so với năm 2006, năm
2008 tăng 52.4% so với năm 2007. Tổng doanh thu năm 2007 tăng 30.7% so
với năm 2006, năm 2008 tăng 43.8% so với năm 2007. Như vậy doanh thu
của Công ty liên tục tăng đặc biệt ở các lĩnh vực kiểm toán BCTC, kiểm
toán XDCB. Dịch vụ tư vấn tuy có tăng ít hơn nhưng vẫn ở mức cao. Tuy
những tháng cuối năm 2008, các công ty đều bị ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính nên doanh thu giảm nhưng 9 tháng đầu năm 2008, Công ty
vẫn có mức doanh thu tăng khá cao. Điều này chứng tỏ khả năng phát triển
của Công ty rất cao.
1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Kiểm toán
Thế giới mới
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hợp lý là một trong những yếu tố tạo
nên sự thành công trong hoạt động của các công ty kiểm toán. Vì vậy, Công
ty đã hết sức quan tâm đến việc tổ chức bộ máy công ty phù hợp nhất trong
điều kiện quy mô công ty còn vừa và nhỏ.
Chức năng, nhiệm vụ từng phòng ban trong Công ty:
Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ: Quyết định chiến
lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của Công ty; Quyết định
tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động
thêm vốn; Quyết định dự án đầu tư và phương thức đầu tư đối với các dự án
có giá trị trên 30% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại
thời điểm công bố gần nhất của Công ty; Quyết định giải pháp phát triển thị
trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho
vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 30% tổng giá trị tài sản được
ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của Công ty; Bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc, Phó
Giám đốc, Kế toán trưởng; Quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác
đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
trưởng; Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân
chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của Công ty; Quyết định cơ cấu tổ
chức quản lý Công ty; Quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn
phòng đại diện; Sửa đổi, bổ sung Điều lệ và Quy chế tài chính của Công ty;
Quyết định tổ chức lại công ty; Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản
công ty; Quyết định tiếp nhận thành viên mới, chuyển nhượng phần góp vốn
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài; Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy
định của Luật Doanh nghiệp. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm
Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty kiêm Giám đốc Công ty.
Giám đốc Công ty có các quyền và nhiệm vụ: Chuẩn bị hoặc tổ chức
việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên;
Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội
đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến các thành viên; Triệu tập và chủ trì cuộc
họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên; Giám
sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng thành
viên; Thay mặt Hội đồng thành viên ký các quyết định của Hội đồng thành
viên; Các quyền và nhiệm vụ khác được quy định tại Điều lệ này và theo
pháp luật.
Giám đốc có thể uỷ quyền thường xuyên hoặc uỷ quyền vụ việc cho cán
bộ cấp dưới trong các công việc và giao dịch của Công ty. Ngoại trừ những
trường hợp đã được uỷ quyền, phân công, nếu Giám đốc vắng mặt, Phó Giám
đốc Công ty có thể thay mặt Giám đốc xử lý công việc cấp thiết nhưng ngay
sau đó phải báo cáo để Giám đốc phê duyệt.
Giám đốc Công ty có các nghĩa vụ sau đây: Tuân thủ các nghị quyết,
quyết định của Hội đồng thành viên; Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được
giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp
tối đa của Công ty và chủ sở hữu Công ty; Trung thành với lợi ích của Công
ty và chủ sở hữu Công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh
doanh của Công ty, không được lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của Công
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; Thông báo kịp
thời, đầy đủ, chính xác cho Công ty về các doanh nghiệp mà Giám đốc và
người có liên quan của Giám đốc làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp
chi phối; Không được tiết lộ bí mật của Công ty, trừ trường hợp được Hội
đồng thành viên chấp thuận; Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật và Điều lệ này.
Giám đốc không được tăng lương, trả thưởng khi Công ty không có
khả năng thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn.
Giám đốc phải có các tiêu chuẩn và điều kiện: Có đủ năng lực hành vi
dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định
của Luật Doanh nghiệp; Có chứng chỉ Kiểm toán viên cấp Nhà nước trước
thời điểm được bổ nhiệm (ký hợp đồng) ít nhất là 3 năm, có trình độ chuyên
môn, kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn tài chính kế toán,
quản trị kinh doanh và trong các ngành, nghề kinh doanh chủ yếu khác của
Công ty.
Công ty có các Phó Giám đốc và Kế toán trưởng do Hội đồng thành
viên bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng theo đề
nghị của Giám đốc. Các Phó Giám đốc giúp Giám đốc điều hành Công ty
theo phân công và uỷ quyền của Giám đốc; chịu trách nhiệm trước Giám
đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc uỷ quyền. Việc uỷ
quyền phải được thực hiện bằng văn bản.
Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác tài chính, kế
toán, thống kê của Công ty; giúp Giám đốc giám sát công tác tài chính, kế
toán, thống kê tại Công ty theo quy định của pháp luật về tài chính, kế toán,
thống kê; chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ
được phân công hoặc uỷ quyền. Việc uỷ quyền phải thực hiện bằng văn bản.
Phó Giám đốc, Kế toán trưởng có thể được bổ nhiệm không xác định thời
hạn hoặc xác định thời hạn theo quyết định của Hội đồng thành viên.
Chủ nhiệm kiểm toán do Giám đốc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
thưởng, kỷ luật sau khi được Hội đồng thành viên chấp thuận. Số lượng,
nhiệm vụ của chủ nhiệm kiểm toán do Giám đốc quyết định sau khi được
Hội đồng thành viên chấp thuận. Chủ nhiệm kiểm toán giúp Giám đốc Công
ty quản lý, điều hành công tác chuyên môn theo lĩnh vực được phân công;
chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân
công.
Phòng Kiểm toán được chia thành hai bộ phận phụ trách lĩnh vực
XDCB và các lĩnh vực khác (công nghiệp, thương mại, dịch vụ, dự án ).
Phòng Tư vấn Tài chính thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn
doanh nghiệp và tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn quản trị doanh nghiệp…
Phòng Thuế hoạt động độc lập thực hiện các dịch vụ tư vấn về thuế và
luật pháp.
Phòng Hành chính bao gồm bộ phận tài chính, kế toán và bộ phận tin học.
Phòng kế toán bao gồm 3 nhân viên kế toán, trong đó có một kế toán
trưởng kiêm kế toán thanh toán và chi tiết, một kế toán TSCĐ kiêm kế toán
thanh toán với khách hàng về cung cấp dịch vụ, một kế toán vật tư kiêm thủ quỹ.
Các nhân viên kế toán cũng là các kiểm toán viên của công ty. Kì kế toán năm
của công ty bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm, riêng
năm 2006 do mới thành lập kỳ kế toán công ty bắt đầu từ ngày 22/09/2006 đến
hết ngày 31/12/2006. Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép là đồng Việt Nam
(VNĐ), nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng Việt Nam
theo giá trị thực tế của Ngân hàng giao dịch tại thời điểm phát sinh. Kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ (các nghiệp vụ về hàng tồn kho
thường không nhiều hoặc không có). Tất cả TSCĐ của Công ty đều được ghi
chép theo nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế. Hệ thống sổ sách kế toán của
Công ty được tổ chức theo hình thức Chứng từ ghi sổ.
Ngoài ra, Công ty còn có bộ phận văn phòng để giúp đỡ các nhân viên
trong quá trình làm việc.
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH kiểm toán
Thế giới mới (NWA)
1.3 Các loại hình dịch vụ và khách hàng của Công ty TNHH Kiểm toán
Thế giới mới
*Về thị trường và khách hàng của Công ty: Công ty chủ yếu thực hiện
kiểm toán tại các tỉnh, thành phố trong nước. Kiểm toán trong các lĩnh vực:
doanh nghiệp nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty có vốn
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
9
Hội đồng thành viên
Giám đốc
Phòng nghiệp vụ Phòng tư vấn Phòng hành chính
Kiểm
toán tài
chính 1,2
Kiểm
toán xây
dựng
Tư vấn
tài chính
Tư vấn
thuế
Phòng
tin học
Phòng kế
toán, tài
chính
Các phó giám đốc
Chủ nhiệm kiểm toán
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
đầu tư nước ngoài. Các ngành nghề của công ty khách hàng: sản xuất, dịch
vụ, thương mại, bưu chính viễn thông, hàng không,…Trong đó, khách hàng
chủ yếu của Công ty là các tập đoàn bưu chính viễn thông.
*Với đặc điểm về thị trường và khách hàng như trên, các dịch vụ của
Công ty cũng được thiết kế phù hợp, bao gồm: dịch vụ kiểm toán (kiểm toán
BCTC, kiểm toán quyết toán vốn đầu tư, kiểm toán xây dựng cơ bản); dịch
vụ tư vấn (tư vấn tài chính, tư vấn thuế, tư vấn giải pháp công nghệ thông
tin); dịch vụ kế toán và các dịch vụ khác.
1.3.1 Dịch vụ kiểm toán BCTC
Yếu tố quan trọng nhất trong thành công của Công ty là nguồn nhân
lực. Với năng lực chuyên môn, được đào tạo tốt, năng động, sáng tạo, có
phong cách làm việc chuyên nghiệp và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, khả
năng nắm bắt vấn đề , thấu hiểu nhu cầu của khách hàng, Công ty luôn cung
cấp dịch vụ có chất lượng cao. Đội ngũ nhân viên luôn nắm bắt các hướng
dẫn mới về các chuẩn mực kế toán và kiểm toán Việt Nam, các quy định về
pháp lý và tài chính hiện hành. Các hoạt động chính trong kiểm toán BCTC
là kiểm toán theo luật định về BCTC, quyết toán vốn đầu tư, XDCB; kiểm
toán BCTC để báo cáo thuế; kiểm toán chi phí hoạt động; kiểm toán nội bộ;
định giá doanh nghiệp; soát xét thông tin tài chính; soát xét thông tin tài
chính dựa theo các thủ tục thỏa thuận trước; soát xét việc tuân thủ pháp luật.
Đồng thời, Công ty NWA có thể cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu cụ
thể để hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc, chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập, giải thể.
1.3.2 Dịch vụ kế toán
Với những kiểm toán viên hành nghề đã làm việc trong lĩnh vực kế
toán và kiểm toán, từ những ngày đầu xuất hiện ở Việt Nam, Công ty đã
cung cấp các dịch vụ đa dạng cho khách hàng, bao gồm lập sổ sách, lập
ngân sách và lập các BCTC định kỳ. Công ty cũng hỗ trợ doanh nghiệp
trong việc chuyển đổi các BCTC được lập dựa trên chuẩn mực kế toán Việt
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
Nam tương ứng với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi
(GAAPs) của các quốc gia khác.
Điểm nổi bật trong dịch vụ kế toán của Công ty là khả năng thiết kế
hệ thống kế toán đáp ứng các tiêu chuẩn đặc thù của các tổ chức nước ngoài
nhưng vẫn tuân thủ theo chế độ tài chính kế toán Việt Nam theo yêu cầu của
Bộ Tài chính. Để đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế và cập nhật liên
tục sự đổi mới của hoạt động tài chính kế toán của Việt Nam, Công ty đã
ứng dụng các kỹ thuật, cách tiếp cận, phương pháp tiên tiến của Việt Nam
và thế giới khi cung cấp các dịch vụ kế toán nhằm đảm bảo dịch vụ cung
cấp đạt chất lượng tốt nhất.
Dịch vụ kế toán của Công ty bao gồm: Tổng hợp và lập các báo cáo
kế toán tài chính hoặc báo cáo quản trị; soát xét báo cáo tài chính; xem xét
các phần hành kế toán; thiết kế, triển khai và hỗ trợ vận hành hệ thống kế
toán; thiết kế, triển khai và hỗ trợ vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ; tư
vấn hệ thống kế toán tính giá thành; tư vấn hệ thống kế toán; cung cấp dịch
vụ lập sổ sách kế toán; cung cấp dịch vụ huấn luyện kế toán tại doanh
nghiệp; đăng ký chế độ kế toán Việt Nam.
1.3.3 Dịch vụ tư vấn Giải pháp CNTT
Các hoạt động trong dịch vụ này là: chẩn đoán hệ thống dịch vụ
CNTT; lựa chọn, quản lý dự án và triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực
doanh nghiệp “ERP”; an toàn dữ liệu và quản lý rủi ro; quản lý và điều hành
hệ thống các dịch vụ CNTT; xây dựng chiến lược CNTT; giải pháp phân
tích dữ liệu và kết xuất báo cáo quản lý. Các dịch vụ trên giúp cho công ty
khách hàng bố trí và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực và vật
lực; an toàn dữ liệu và quản lý rủi ro; điều hành và quản trị hệ thống CNTT
được lên kế hoạch và được thực hiện một cách triệt để; hệ thống thông tin
quản lý cung cấp thông tin kịp thời, chính xác giúp ban giám đốc ra quyết
định chính xác.
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
1.3.4 Dịch vụ tư vấn thuế và tuân thủ
NWA luôn trợ giúp các khách hàng lập kế hoạch thuế một cách hiệu
quả nhằm đạt đến mục tiêu kinh doanh, đồng thời giúp khách hàng giảm
thiểu tác động về thuế đối với các hoạt động kinh doanh. Dịch vụ của Công
ty bao gồm: đánh giá tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế; quản lý rủi ro về
thuế; dịch vụ tư vấn thuế trọn gói; hỗ trợ quyết toán thuế; soát xét về thuế và
lập hồ sơ tuân thủ; xin ưu đãi thuế; xây dựng cấu trúc thuế; soát xét tờ khai
thuế do doanh nghiệp, cá nhân tự lập; lập tờ khai thuế cho cá nhân, cho cả
người kê khai bên ngoài; đại diện cho khách hàng làm việc với các cơ quan
thuế; lập hồ sơ giải trình và xin hoàn thuế; lập kế hoạch chiến lược về thuế;
tư vấn khách hàng các ảnh hưởng về thuế đối với các hợp đồng dự tính hoặc
các quyết định tài chính; đưa ra ý kiến về ảnh hưởng thuế đối với các xử lý
kế toán; đóng vai trò là nhà tư vấn chính cho các vấn đề về thuế.
1.3.5 Các dịch vụ chuyên ngành khác
Ngoài các dịch vụ trên, Công ty còn thực hiện các dịch vụ trên các
hoạt động: mua bán và sáp nhập; tư vấn quản lý doanh nghiệp; đánh giá
doanh nghiệp; tái cấu trúc doanh nghiệp; lập chiến lược và kế hoạch kinh
doanh; dịch vụ quản lý rủi ro; dịch vụ tính lương; dịch vụ tuân thủ về lao
động; tài chính doanh nghiệp; dịch vụ giấy phép; dịch vụ đào tạo.
*Với đặc điểm về thị trường, khách hàng và các dịch vụ cung cấp hết
sức đa dạng như trên, Công ty NWA cần có một đội ngũ nhân viên có trình
độ chuyên môn, am hiểu về nhiều lĩnh vực, nhiệt tình, năng động, sáng tạo
và được bố trí một cách hợp lý. Toàn công ty, ngoài Giám đốc, phó Giám
đốc và chủ nhiệm kiểm toán, công ty có 25 nhân viên, trong đó có 15 nam
và 10 nữ. Các nhân viên trong công ty đều có trình độ đại học và trên đại
học, có năng lực chuyên môn và sự am hiểu về các lĩnh vực khác, đáp ứng
nhu cầu về các dịch vụ của các khách hàng. Tuy nhiên, đội ngũ nhân viên
công ty vẫn còn ít nên chưa đủ để đáp ứng hết nhu cầu kiểm toán của các
khách hàng đặc biệt trong mùa kiểm toán.
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
1.4 Đặc điểm quy trình kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán Thế
giới mới
Quy trình kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán Thế giới
mới (NWA) thực hiện gồm 4 bước sau:
Bước 1: Chấp nhận khách hàng kiểm toán
Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán
Bước 3: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Bước 4: Kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán
Chấp nhận khách hàng kiểm toán
Chấp nhận kiểm toán là bước đầu tiên cho bất kỳ một cuộc kiểm toán.
Việc chấp nhận kiểm toán có liên quan đến uy tín của cả công ty kiểm toán
và công ty khách hàng. Do đó, đây là khâu hết sức quan trọng, đặc biệt đối
với việc kiểm toán cho một khách hàng mới.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận kiểm toán
gồm: năng lực kiểm toán viên; tính liêm chính của Ban quản trị công ty
khách hàng; khả năng kiểm soát về chất lượng của cuộc kiểm toán của công
ty kiểm toán; việc đánh giá các rủi ro; lý do thay đổi kiểm toán của công ty
khách hàng hoặc lý do thay đổi nhà cung cấp dịch vụ kiểm toán; thỏa thuận
về giá phí kiểm toán.
Các phương pháp áp dụng trong bước này là điều tra, phỏng vấn,
quan sát, kiểm tra tài liệu ( từ công ty, trong hồ sơ kiểm toán với những
công ty đã kiểm toán trước đó, tài liệu từ các trang web của ngành, từ Ủy
ban chứng khoán, từ các kiểm toán viên tiền nhiệm).
Khi các công việc trên đã hoàn tất, việc chấp nhận kiểm toán sẽ được
thể hiện qua thư hẹn kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán. Công ty cần chuẩn
bị thông báo, yêu cầu chuẩn bị báo cáo đối với công ty khách hàng và chuẩn
bị nhân sự.
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa : kế toán
Lập kế hoạch kiểm toán
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế
hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết. Trong bước này,
kiểm toán viên thực hiện các công việc sau:
Sơ đồ 1.2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
• Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế
hoạch kiểm toán tổng quát:
Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cụ
thể, mỗi nghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc
đặc thù. Để tìm hiểu ngành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể
trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên,
ban giám đốc của khách hàng. Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước
và hồ sơ kiểm toán thường xuyên. Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở
làm việc của công ty khách hàng: để biết tổng thể về hoạt động sản xuất
Bùi Thị Giang Lớp: Kiểm toán47B
14
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Thiết kế chương trình kiểm toán
Thực hiện thủ tục phân tích

Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố đà nẵng

- 5 -
thuận lợi và khó khăn gì, việc tuyển dụng nhân công ở nước sở tại có sẵn
có hay không (điều này có liên quan tới chính sách đào tạo lao động của
nước sở tại ), trong một số trường hợp việc tuyển dụng nhân công nước
ngoài có gặp khó khăn gì không và những vấn khác liên quan đến những
khuyến khích đầu tư.
Đạo tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vật đầu tư
nước ngoài và đội ngũ cán bộ kinh doanh quốc tế để có thể đáp ứng
những yêu cầu của quá trình thu hút vốn nước ngoài như: tham gia thảm
định các dự án đầu tư nước ngoài, tham gia hoạch định chính sách đầu tư
trên phạm vi khu vật và quốc tế, tham gia kinh doanh với nhà đầu tư nước
ngoài.
3.1.2Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn
Vấn đề có tính then chốt trong việc tổ chức nhằm thu hút FDI là
tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn.
Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động
qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư. Buộc các
nhà đầu tư, tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động
cho thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa
đến hiệu quả cao trong kinh doanh.
Người ta có thể phân loại môi trường đầu tư theo nhiều tiêu thức
khác nhau và mỗi tiêu thức phân loại đó lại hình thành các môi trường,
thành phần khác nhau. Chẳng hạn:
Căn cứ vào phạm vi không gian, có môi trường đầu tư nội bộ
doanh nghiệp, môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư quốc
tế.
Căn cứ vào lĩnh vực, có môi trường chính trị, môi trường luật pháp,
môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội, cơ sở hạ tầng…
Căn cứ và sức hấp dẫn, có môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao
(hấp dẫn nhiều), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh trung bình (hấp dẫn
vừa), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp (hấp dẫn ít) và môi
trường không có tính cạnh tranh (không hấp dẫn).
Khi xem xét môi trường đầu tư, các nhà kinh doanh và các nhà
quản lý phải thấy một số đặc điểm cơ bản trong quá trình đánh giá và tạo
dựng môi trường đầu tư.
Thứ nhất, môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn luôn
biến đổi do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành. Tính chất của môi
trường đầu tư luôn luôn thay đổi là do mối tương quan giữa môi trường
đầu tư trong nước và các môi trường đầu tư của các nước khác. Không có
một môi trường đầu tư cố định.
Thứ hai, môi trường đầu tư là sự đang xen của các môi trường
thành phần và sự tác động qua lại giữa chúng. Điều này đòi hỏi khi phân
tích đánh gia môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong
- 6 -
mối quan hệ chặt chẽ và với một mối tương quan cụ thể giữa các môi
trường thành phần.
Thứ ba, ngày nay xu thế hội nhập không ngừng gia tăng, các doanh
nghiệp không chỉ kinh doanh ở trong nước mà còn phải mở rộng hoạt
động ở các thị trường nước ngoài. Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư
của một nước cụ thể, không thể so sánh với môi trường đầu tư của các
nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực. Bởi vì, các nhà đầu tư
nước ngoài có một quyền rất lớn: đó là quyền tự do lựa chọn thị trường
đầu tư ở nước này hay nước khác, quyền không đầu tư nếu môi trường
không đáp ứng được các yêu cầu của họ, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt về vốn đầu tư.
Nói đến môi trường đầu tư là nói đến hàng chục yếu tố hoặc trực
tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của dự án
đầu tư, không kể vốn đầu tư là từ trong nước hay từ ngoài nước. Đó là
một môi trường đầu tư chung, “một sân chơi bình đẳng” cho tất cả mọi
người không kể quốc tịch và trình độ phát triển.
3.2 Chính sách đầu tư nước ngoài
Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và
chính sách đối ngoại. Theo lĩnh vực áp dụng, chính sách đối ngoại của
một quốc gia được chia thành chính sách ngoại giao (lĩnh vực chính trị)
và chính sách kinh tế đối ngoại (lĩnh vực kinh tế). Theo nội dung, chính
sách kinh tế đối ngoại lại được chia thành chính sách ngoại thương, chính
sách đầu tư nước ngoài, chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối…
Trong mỗi chính sách bộ phận trên lại có hàng loạt các chính sách khác.
Chẳng hạn, chính sách đầu tư bao gồm chính sách thu hút đầu tư nước
ngoài và chính sách đầu tư ra nước ngoài.
Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính
sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh
các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước
ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt
được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia đó.
Chính sách đầu tư nước ngoài nhằm điều chỉnh và giải quyết các
vấn đề của đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Nhiệm vụ của nó là phải
giúp cho nhà nước đưa ra những quyết sách thích hợp để ứng xử với tình
hình đầu tư nước ngoài, phải trả lời được là nên khuyến khích đầu tư ra
nước ngoài hay thu hút đầu tư vào trong nước? Tỷ lệ giữa đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếpở khoảng nào là tối ưu? Sử dụng các công cụ nào để
khuyến khích đầu tư nước ngoài? Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào
khu vực nào và ngành kinh tế nào?
- 7 -
Theo tính chất, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân
thành chính sách đầu tư tự do và chính sách hạn chế đầu tư.
Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được chia
thành:
- Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính;
- Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu);
- Chính sách thị trường;
- Chính sách lao động;
- Chính sách đất đai;
- Chính sách công nghệ…
3.2.1 Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính
Chính sách này bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích
khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải
nộp cho ngân sách nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp
kinh doanh có lợi nhuận. Sau kỳ chịu thuế này, các doanh nghiệp có thể
được giảm thuế trong một thời gian nào đó.
Luật thuế xuất nhập khẩu cũng là một công cụ để khuyến khích hay
hạn chế đầu tư nước ngoài. Nếu một hàng hoá được khuyến khích đầu tư
sản xuất bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một nước
thì có thể được miễn giảm thuế xuất (nhập) khẩu.
Hoàn trả thuế lợi tức. Một khi lợi nhuận được sử dụng để tái đầu
tư, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế lợi
tức đã nộp.
Thuế chuyển lợi nhuận về nước. Thông thường, vốn trả nợ cho
nước ngoài không phải chịu thuế, song khoản vay mượn này phải được kê
khai trong hồ sơ dự án đầu tư xin giấy phép đầu tư. Lợi nhuận chuyển ra
nước ngoài cần được xem xét về mức độ đánh thuế của nó.
Thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân được đánh vào
những người có thu nhập cao làm việc trong các dự án đầu tư nước ngoài.
Quy định hình thức và tỷ lệ góp vốn. Nhà đầu tư trong và nước
ngoài có thể góp vốn dưới các hình thức khác nhau như: bằng tiền mặt,
máy móc, nguyên vật liệu, quyền sở hữu công nghiệp hay giá trị quyền sở
hữu đất.
Sự chuyển vốn ra nước ngoài. Thông thường sau khi chịu thuế, nhà
đầu tư nước ngoài có thể chuyển về nước những khoản lợi nhuận; giá trị
chuyển nhượng công nghệ và dịch vụ; vốn đầu tư thu hồi; gốc và lãi từ
các khoản nợ thu được.
3.2.2Chính sách về cơ cấu đầu tư
Những ngành, lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư
tự do, những ngành đòi hỏi một số điều kiện nhất định và những ngành,
lĩnh vực được khuyến khích…
3.2.3Chính sách đất đai
- 8 -
Chính sách này xác định quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong
quan hệ sở hữu đất đai, thời hạn và giá cả thuê đất.
3.2.4 Chính sách lao động
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được phép tự do
tuyển dụng lao động hay không và phải tôn trọng các nguyên tắc nào
trong mối quan hệ chủ thợ. Thông thường, các nhà đầu tư phải ưu tiên
tuyển dụng các lao động tại nước sở tại, đặc biệt là các lao động ở địa
phương đặt trụ sở. Việc tuyển dụng lao động có thể thông qua văn phòng
tuyển dụng, tư vấn đầu tư hay các tổ chức dịch vụ. Chỉ khi nào những cơ
quan trên không cung cấp được cho doanh nghiệp những lao động phù
hợp về số lượng và chất luợng thì doanh nghiệp mới trực tiếp đứng ra
tuyển dụng.
Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, các bên hợp danh cần giải trình sự cần thiết phải sử
dụng lao động nước ngoài có kèm theo chứng chỉ nghề nghiệp của người
lao động nước ngoài gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh,
thành phố nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp để xem xét việc cấp giấy phép
lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
II. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế của các nước
Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như
tất cả các nước đều thiếu vốn đầu tư. Để khắc phục tình tràng thiếu vốn,
các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nhất là đầu
tư trực tiếp. Do đó đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là một vấn đề
được nhiều nước phát triển và đang phát triển rất quan tâm.
1.Bản chất và đặc điểm của FDI
1.1 Bản chất FDI
Trong hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác
nhau. Nhìn chung, vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước bằng hai con
đường: đường công cộng (official) và đương tư nhân hoặc thương mại
(commercial). Hình thức chủ yếu của đường công cộng là viện trợ, bao
gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các tổ
chức quốc tế hoặc chính phủ của các nước tiên tiến. Viện trợ không hoàn
lại không trở thành nợ nước ngoài, nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới
hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ.
Các hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế là đầu tư trực tiếp, đầu
tư qua thị trường chứng khoán, vay của các định chế kinh tế và các ngân
hàng nước ngoài (vay thương mại) và nguồn vốn viện trợ phát chính thức
(ODA).
Do vậy thương mại với lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về
nợ nước ngoài trong tương lai. Đầu tư qua thị trường chứng khoán không
trở thành nợ nhưng lại thay đổi đột ngột trong hành động (như: bán chứng
khoán, rút tiền về nước) của nhà đầu tư nước ngoài làm ảnh hưởng mạnh
đến thị trường vốn, gây biến động tỷ gia và các mặt khác của nền kinh tế
- 9 -
vĩ mô. FDI cũng là hình thức đầu tư không trở thành nợ. Đây là vốn có
tính chất lâu dài ở bản xứ nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Ngoài
ra, FDI không chỉ đầu tư vốn mà còn đầu tư công nghệ và tri thức khách
hàng nên dễ thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp hiện đại và
phát triển kinh tế.
1.2 Đặc điểm chủ yếu của FDI
Hiện nay FDI có những đặc điểm sau đây:
1.2.1FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư nước
ngoài.
Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến
về chất lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất
trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và
tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các
doanh nghiệp quốc tế
1.2.2FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công
nghiệp phát triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu.
Thứ nhất, môi trường đầu tư của các nước phát triển có độ tương
hợp cao. Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường
công nghệ và môi trường pháp lý.
Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này thâm
nhập thị trường của nhau.
Cũng với hai lý do chính đó, ta có thể giải thích được xu hướng
tăng lên của FDI ở các nước công nghiệp mới (NICs), các nước ASEAN
và Trung Quốc, Ấn Độ. Quá trình tự do hoa kinh tế, chuyển sang kinh tế
thị trường ở các nước này cũng như khu vực Đông Âu và Liên Xô đã tạo
nên những khoảng trống mới cho đầu tư. Mặc khác, các nhà đầu tư lớn
nhất có xu hướng cũng cố khu vực lân cận của mình.
Như vậy, xu hướng tự do hoá và mở cửa nền kinh tế của các nước
đang phát triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự
thay đổi dòng chảy FDI. Năm 1990, tổng số vốn đầu tư của các nước
đang phát triển nhận được là 19%, năm 1991 là 25% và năm 1992 khoảng
30%. Trong những năm gần đây tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng lên.
1.2.3Cơ cấu và phương thức ngày càng đa dạng hơn
về cơ cấu FDI, đặc biệt FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi như sau:
- Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng
khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hằng năm là tập
trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế tạo máy tính,
chất dẻo và chế tạo máy. Trong khi đó, nhiều ngành công
nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm
tuyệt đối hoặc không đầu tư.
- 10 -
- Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống
trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên. Điều này có
liên quan đến tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP của các
nước OECD tăng lên và hàm lượng dịch vụ trong công
nghiệp chế tạo cao. Một số lĩnh vực ưu tiên là các dịch vụ
thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giá trị. Tỷ lệ
các nguồn FDI và dịch vụ tăng rất mạnh từ thập kỷ 80: năm
1985, FDI vào dịch vụ tại Mỹ chiếm tỷ trọng 44% (so với
32% năm 1950), vào Nhật Bản là 52% (so với 20% năm
1965)…
1.2.4Sự gắn chặt chẽ giữa FDI với ODA, thương mại, và
chuyển giao công nghệ
FDI và thương mại có liên quan rất chặt chẽ với nhau. Thông
thường một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào
mục đích tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước
ngoài được lựa chọn và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cở sở tăng khả
năng của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyể giao công
nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng
gắn bó chặt chẽ với nhau. đấy chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự
lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế. Nhiều đã đạt được
thành công trong việc hấp thụ các yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế
trong nước là nhờ chú ý đến điều này. Hơn nữa, chuyển giao công nghệ
giúp nâng cao năng lực cộng nghệ bản địa. Kinh nghiệm của các nước
cho thấy rằng, sự tách rời công nghệ với thương mại quốc tế, trước hết là
xuất khẩu đã làm cho năng lực công nghệ quốc gia không được cải thiện,
ngược lại có nguy cơ tụt hậu do thiếu sức cạnh tranh.
Sự gắn bó giữa FDI và các nguồn viện trợ và vay nợ khác cũng là
một đặc điểm nổi bật của sự lưu chuyển các nguồn và công nghệ trên
phạm vi quốc tế trong những năm gần đây. Hơn nữa, xu hướng này sẽ
ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Lý do là trước đây các nguồn viện trợ
và cho vay thường nhằm vào mục đích quân sự và chính trị, do đó hiệu
quả của nó đối với thúc đẩy phát triển sự phát triển kinh tế của các nước
nhận và nước cho rất thấp. Ở các nước chậm phát triển nhất hiện nay viện
trợ và cho vay chiếm 90% các nguồn vốn từ bên ngoài bên ngoài. Viện
trợ và cho vay trong nhiều trường hợp dẫn đến sự phụ thuộc một chiều
hơn là giúp cho các nước nhận có được sự phát triển tự thân và tham gia
có hiệu quả và phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các nguồn vốn này đã
được các chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong các mối quan hệ với
các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.
2.Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế đất nước
2.1 Một số quan điểm về FDI của các nhà kinh tế học
- 11 -
Đầu thế kỷ XX các nhà kinh tế đã bàn nhiều về xuất khẩu tư bản.
V.I.Lênin cho rằng:xuất khẩu tư bản là một đặc điểm kinh tế của chủ
nghĩa tư bản hiện đại (tức chủ nghĩa tư bản độc quyền). Theo ông, trong
giai đoạn cạnh tranh tự do đặt diểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu
hàng hóa, còn trong giai đoạn hiện đại là xuất khẩu tư bản. Xuất khẩu tư
bản có ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản,
nhưng lại giúp các tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận cao ở nước
ngoài. Ngoài ra, xuất khẩu tư bản còa vai trò bảo vệ chế độ chính trị ở các
nước nhập khẩu tư bản và ít nhiều có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế,
kỹ thuật. Song về hậu quả nhân dân oqr các nước nhập khẩu tư bản bị bốc
lột nhiều hơn, sự lệ thuộc về kinh tế và kỹ thuật tăng lên, dẫndeens sự
phụ thuộc về chính trị là khó tránh khỏi.
Từ phân tích trên, V.L.Lê nin rút ra kết luận “ các nước xuất khẩu
tư bản hầu như bao giờ cũng có khả năng thu được một số” khoản lợi”
nào có, và tính chất của những khoản lợi này làm sáng tỏ đặc trưng của
thời đại tư bản tài chính và độc quyền”.
Vào giữa thế kỹ XX, việc xuất khẩu tư bản, nhất là FDI, phát triển
nhanh chóng. Các nhà kinh tế học cho rằng, dể phát triển kinh tế các nước
đang phát triển phải có biện pháp thu hút được FDI. Điẻn hình là hai nhà
kinh tế học P.Samue lson và R. Nukse. Trong lý thyết “ cái vàng luẩn
quẩn”và cút huých” từ bên ngoài, Samuelson cho rằng, đa số các nước
đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tố
thiếu, do đó khả năng tích luỹ vốn hạng chế
Mặt khác, theo Samuelon, ở các nước đang phát triển, nguồn nhân
lực hạn chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp; tài nguyên thiên nhiên khan hiếm;
kỹ thuật lạc hậu và gặp trở ngại trong việc kết hợp chúng. Do vậy, ở
nhiều nước đang phát triển ngày càng khó khăn và càng tăng” cái vòng
luẩn quẩn”.
Samuelson cho rằng: để phát triển kinh tế phải có”cú huých từ bên
ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn”. Đó là phải có đầu tư của nước
ngoài vào các nước đang phát triển. Theo ông, “nếu có quá nhiều trở ngại
như vậy đối với việc đi tìm tiết kiệm trong nước để tạo vốn thì tại sao
không dựa nhiều hơn vào các nhuồn bên ngoài? Chẳng phải lý thuyết
kinh tế đã từng nói với chúng ta rằng, một nước giàu, sau khi đã hút hết
những dự án đầu tư có lợi nhuậnước cao của mình, cũng có thể làm lợi
cho chính nó và nước nhận đầu tư bằng cách đầu tư những dự án lợi
nhuận cao ra nước ngoài đó sao?”
Sơ đồ 1: vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển
Tiết kiệm và đầu
tư thấp
Tốc độ tích
luỹ vốn thấp
Thu nhập bình
quân thấp
Năng suất lao
động thấp
- 12 -
Theo ông R.Nurkse, mở cửa cho FDIcó ý nghĩa đối với các nước
đang phát triển có thể vươn đến những thị trường mới, cũng như khuyến
khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý có
hiệu quả. FDI giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về
lãi suất chặt chẽ, về điều kiện thanh toán nợ và những điều hay tác động
đến vay nợ quốc tế. Mặc dù FDI là để phục vụ cho việc củng cố hệ thống
này, các nước có thu nhập thấpđược chuyên môn hóa sản xuất nguyên
liệu và thực phẩm xuất khẩu, được chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắt
bất di bất dịch của lợi thế trong thương mại quốc tế, dù rằng FDI trước
hết phục vụ cho lợi ích của các công nghiẹp xuất khẩu, chứ không phải
của nước nhận vốn, và thậm chí phần nào các nước đang phát triển phải
chịu sự mất cân bằng không tránh khỏi, nhưng vẫn nên mở cửa hơn là
đóng cửa. R.Nurkse cho rằng, FDI đem lại lại lợi ích chung cho cả hai
bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được
vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường. Đầu
tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động tự do của các
động cơ kiếm lợi nhuận. Lẽ tất yếu là phương hướng của đầu tư tư nhân
chịu tác động lớn của hướng vận động lớn của hướng vận động thị
trường.
2.2 Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế
Qua phân tích quan điểm của nhà kinh điển về vai trò của FDI và
đặc điểm của FDI, ta thấy FDI có những thế mạnh của nó. Dù vẫn chịu
chi phối của Chính phủ, nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị
giữa hai bên. Mặt khác, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản
xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt la trong
việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Do quyền lợi gắn
chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên có thể lựa chọn
công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công
nhân. Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò Phòng tổ chức hành chính lớn đối
với việc thúc đẩy qúa trình phát triển kinh tế ở nước đầu tư và các nước
nhận đầu tư. Cụ thể là:
- Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu
tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của
vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên
liệu ổn định với giá phải chăng. Mặc dù, đầu tư ra nước
ngoài giúp bành trươngsuwcs mạnh kinh tế và nâng cao uy
tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và
thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng
- 13 -
được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu
dịch của các nước.
- Đối với các nước nhận đầu tư. Hiện nay có hai dòng chảy
của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước
phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
+ Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn
trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội
như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDI, các tổ chức kinh
tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp có
nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và
tạo công ăn việc làm cho người lao động.
FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại
thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán
bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.
+ Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc
độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh
nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần
nạn thất nghiệp ở nước này. Theo thống kê của Liên hợp
quốc, số người thất nghiệp và bán thât nghiệp của các
nước đang phát triển chiếm khoản 35-38% tổng số lao
động
FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn
kéo dài. FDI là phương thức đầu tư phù hớp với các nước đang phát triển,
tình tràng tích lũy quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế
không đáng xảy ra.
Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới, giúp các nước
đang phát triển tiếp cận với khoa học-kỹ thuật mới. Quá trình đưa công
nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh
của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại
được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong
nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao
động quen dần với phong cách làm việc công nghiêpk cũng như hình
thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi.
FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa
nước ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở
rộng không ngừng.
FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh
thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả
năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.
- 14 -
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên
cạnh những ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:
 Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì
nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn.
 Nếu nước sở tại không có một qui hoạch đầu tư cụ thể và
khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
Cũng như các nước đang phát triển, để phá “cái vòng luẩn quẩn”
và phát triển kinh tế, đòi hỏi Việt Nam phải có biện pháp thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, nhất là FDI. Ngày 18-04-1977, nước ta thông qua “điều lệ
đầu tư nước ngoài”. Ngày 29-12-1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam được Quốc hội thông qua và đến nay được bổ sung ba lần vào ngày
30-06-1990, ngày 23-12-1992 và ngày 12-11-1996. Qua các lần sửa đổi
bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn đối
với các nhà đầu tư nước ngoài và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế
Việt Nam và xu hương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các khu
vực.
Sở dĩ Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới FDI như vậy, vị đối với
nước ta, hình thức này có vai trò rất là quan trọng. Điều này thể hiện ở
chỗ:
Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước. Để
đạt được những chỉ tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong
những năm tới, thì tốc độ phát triển bình quân hằng năm phải đạt ít nhất
7% và nhu cầu về vốnước đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở lên cho mỗi năm.
Đây là con số không nhỏ đối với nền kinh tế của nước ta, cho nên FDI là
nguồn bổ sung quan trọng để phát triển kinh tế ở Việt Nam.
FDI đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những
doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã
hội của Việt Nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất
nghiệp của người lao động. Tính đến hết năm 1997, đã có 2.317 dự án
đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép. Hiện nay, cả nước có 1.928 dự án
đang hoạt động với tổng vốn đăng ký đầu tư là 32,1 tỷ USD, giải quyết
việc làm cho hàng vạn lao động, tăng thu ngân sách nhà nước.
- Thông đầu tư nước ngoài, nhất là FDI, chúng ta tiếp nhận
thành tựu phát triển khoa học-kỹ thuật tiên tiến của thế giới,
nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so với thế giới.
- Nhờ có FDI chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của
đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu
vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản v.v…
Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh
ngiệm quản lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế
thị trường của các nước tiên tiến.

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Thực trạng và một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh

Chuyªn ®Ò thùc tËp
mà mình có lợi và được bảo vệ . Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi
ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức
phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời
sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định,
kinh tế, chính trị xã hội được phát triển và an toàn hơn.
4. Tính chất của Bảo Hiểm Xã Hội
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội
của nó thể hiện rất rõ. Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội
được xã hội tổ chức quản lí, bảo tồn và phân phối lại cho người lao động. Thực
chất quỹ BHXH là một phần trong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó người lao
động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng
trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra
được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính
từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo
thêm được nhiều điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo thêm được nhiều
công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội
phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá Hoạt động BHXH không vì
mục tiêu lợi nhận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của
nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội. BHXH mang tính chất nhân
đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ để dùng vào lúc tuổi già, đau
yếu. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia
BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiện bảo hiểm cho mọi người lao
động và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh
tế – xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH
cũng ngày càng cao.
II . Những nội dung cơ bản của BHXH
1. Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo
an toàn xã hội.
2. Đối tượng của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy BHXH ra đời
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp
sớm như vậy nhưng một số khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng tham
gia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi
còn có sự nhầm lẫn và có nhiều quan điểm chưa thống nhất. Có nhiều lúc còn
lẫn lộn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.
Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị
giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy,
đối tượng bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị biến động
giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm .
Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối
tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH
(chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).
Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người
sử dụng lao động và Nhà nước. Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào
BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần
là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối
với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động
đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách.
Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ
BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự
phát triển xã hội.
Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao
động còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì
người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ
phải bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này
nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.
Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường
hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối
tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như:
bố, mẹ, con, vợ ( chồng).
3. Phạm vi bảo hiểm xã hội
Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động
quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ
thực hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.
ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm
5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất .
4. Quỹ bảo hiểm xã hội
4.1. Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà
nước.
Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm:
người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho
các chế độ BHXH và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH.
4.2. Đặc điểm
- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong
hệ thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách
nhà nướcvới các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là
tài chính dân cư.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn
trả. Tính không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối với người đã tham
gia BHXH trong suốt quá trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động,
sinh con.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có
của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm
lời, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều
kiện lịch sử trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát
triển thì càng có nhiều chế độBHXHđược thực hiện, và bản thân từng chế độ
cùng được áp dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao
động càng được nâg caovà họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo
hiểm xã hội.
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mục
tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhưng mặt khác nó lại
mang tính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHXH
thì họ không được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự
bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết
kiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí. Đó cũng
là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.
4.3. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
Nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động góp.
- Người lao động góp.
- Nhà nước góp và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do
đầu tư phần nhàn rỗi )
Q
t
BH
= Đ

+ Đ
SDLĐ
+ Đ
NN
+ T
ĐT
+ T
TT
+T
K

Trong đó : Q
T
BH
: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm.
Đ

: Đóng góp của người lao động
Đ
SDLĐ
: Đóng góp của chủ sở hữu lao động
Đ
NN
: Đóng góp và hỗ trợ của nhà nước
T
ĐT
: Thu từ hoạt động đầu tư
T
TT
: Thu từ viện trợ
T
K
: Thu khác
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho
người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao
động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro,
mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một
phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra
một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao độngmà mình thuê
mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được
mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ– thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một
phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của
chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà
nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử
dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực
BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác
nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH,
mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn
định.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên.
Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào
mức lương cá nhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai
lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân
đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế
và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí
BHXHv v
Nước ta, từ năm 1962 đến năm 19987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ
hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí
nghiệp, phần còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ. Thực chất là không tồn tại
quỹ BHXH độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng
góp 15% quỹ lương của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền
kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành rộng rãi Nghị định 43/CP ngày 22/
06/ 1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP
ngày 26/ 01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH được hình
thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lương của
những người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ
hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp .
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí
và tử tuất.
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH
đối với người lao động.
- Các nguồn khác.
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một
cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu
của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để
xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:
- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó
có cơ sở xác định mức phí đóng.
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng,
rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.
- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và
nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH
vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự
phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH
và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH được xác định theo công thức:
P = f1+f2+f3
Trong đó : P : Phí BHXH
f1: phí thuần túy trợ cấp BHXH
f2 :phí dự phòng
f3: phí quản lí
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với
các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian
ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ Vì vậy,
số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ
BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v v quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH
tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên
sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì
dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có
dự trữ đủ lớn.
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
4.4. Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH bao gồm 3 bộ phận: phí thuần, phí quản lí và phí dự trữ. Như
vậy quỹ BHXH được sử dụng cho 3 mục đích: chi trả, cho các chế độ BHXH
cho việc quản lí hệ thống BHXH và chi trích lập quỹ dự phòng cho những
trường hợp tổn thất lớn.
Q
C
BH
= C
TC
+ C
QL
+ C
DP
+ C
ĐT
+ C
K
Trong đó:
Q
C
BH
: tổng chi BHXH
C
TC
: chi cho bộ máy quản lí
C
DP
: chi lập quỹ dự phòng
C
ĐT
: chi đầu tư
C
K
: chi khác
Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH.
Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhưng nó cũng là
một khoản chi ngày càng tăng. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở
rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động, do đó đội ngũ cán
bộ phục vụ BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn.
Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày
càng tăng. Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang
thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên.
Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi dự trữ. Thực chất đây là quá trình
tích luỹ trong quá trình sử dụng bảo hiểm xã hội. Định kì hàng tháng (quý,
năm) cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành
lập nên quỹ dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu
chi trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội hoặc lúc đồng tiền mất giá.

Sơ đồ1: Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH
Đóng góp từ Đóng góp từ
chủ sử dụng lao động người tham gia BHXH
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Phạt Hỗ trợ của NN Thu nhập từ đầu tư
Quỹ BHXH
Chi trả trợ cấp Phí quản lý Phí đầu tư Tài sản đầu

Trợ cấp ngắn hạn: Trợ cấp dài hạn Trợ cấp tai nạn lao
động
- Chăm sóc y tế - Mất sức lao động - Mất sức tạm thời
- Ốm đau - Tuổi già - Mất sức vĩnh viễn
- Thai sản - Tuất - Trợ cấp người ăn
theo
- Mai táng
5. Trách nhiệm và quyền hạn các bên tham gia bảo hiểm xã hội
Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao
động trong các thành phần kinh tế thì quyền hạn và trách nhiệm của các bên
tham gia BHXH như sau:
a. Người sử dụng lao động.
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.
- Trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH đúng quy định.
- Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm
tra, thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
* Quyền hạn:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ
của BHXH .
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có
hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
b. Người lao động
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
* Quyền hạn:
- Được nhận sổ bảo hiểm xã hội.
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ
điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao
động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
c. Cơ quan bảo hiểm xã hội
* Trách nhiệm:
- Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.
- Tổ chức việc trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.
- Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối
với người lao động và sử dụng lao động.
* Quyền hạn:
- Trình Thủ Tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
các quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng được
hưởng các chế độ BHXH quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội.
-Tổ chức phương thức quản lí quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ
bảo hiểm xã hội có hiệu quả.
- Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH.
-Từ chối việc chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng chế độ
BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá
làm giả hồ sơ tài liệu.
6. Tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Theo nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ, hệ thống BHXH
được thành lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quản lí Nhà nước
của Bộ lao động- thương binh xã hội và các cơ quan quản lí Nhà nước có liên
quan, sự giám sát của tổ chức công đoàn.
Sơ đồ 2: Mô hình cơ cấu tổ chức BHXH việt nam.


Hội đồng quản lý BHXH

Bhxh tỉnh, thành phố sở LĐTBXH tỉnh, t.phố
Bhxh quận, huyện phòng lđtbxh quận, huyện
Ghi chú:
đại diện của bhxh ở cơ sở : Quan hệ trực tiếp ngành dọc
( chi nhánh bhxh xã, phường) : Quan hệ ngành ngang
Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam là cơ quan quản lí cao nhất của BHXH
Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến
địa phương, gồm có:
ở Trương ương : Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương( gọi chung là tỉnh) là BHXH
tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện) là
BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
14
Chính phủ
BỘ LĐTB VÀ XH
BHXHVN