Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Chương 4
ẢNH HƯỞNG CỦA NỘI TRỞ NGUỒN TÍN HIỆU (R
S
) VÀ
TỔNG TRỞ TẢI (R
L
) LÊN MẠCH KHUẾCH ÐẠI
Trong các chương trước, chúng ta đã phân tích và tính toán các thông số của mạch
khuếch đại dùng BJT và FET khi không có tải và nguồn tín hiệu được xem như lý tưởng
(không có nội trở). Thực tế, nguồn tín hiệu luôn có nội trở R
S
và mạch có tải R
L
. Nội trở
R
S
và tải R
L
như vậy sẽ làm thay đổi các thông số của mạch như tổng trở vào, tổng trở ra,
độ lợi điện thế và độ lợi dòng điện. Nội dung của chương này là khảo sát ảnh hưởng của
R
S
và R
L
lên các thông số.
4.1 HỆ THỐNG 2 CỔNG (two-port systems)
Người ta thường xem BJT và FET như một hệ thống 2 cổng (hay tứ cực) như hình 4.1
Trong đó v
i
, i
i
, Z
i
lần lượt là điện thế (tín hiệu), dòng điện và tổng trở của ngõ vào.
v
0
, i
0
, Z
0
là điện thế, dòng điện và điện trở của ngõ ra. A
VNL
, A
INL
là độ lợi điện thế và độ
lợi dòng điện của hệ thống. Toàn bộ các thông số này được định nghĩa khi ngõ ra không
mắc tải và không có điện trở nguồn R
S
.
Áp dụng định lý Thevenin ở hai cực của ngõ ra, ta có:
Z
th
=Z
0
=R
0
Nguồn điện thế Thevenin E
th
là điện thế mạch hở giữa 2 đầu ngõ ra, đó là v
0
. Vậy:
Nên E
th
=A
VNL
.v
i
Ta có thể dùng R
i
=Z
i
=v
i
/i
i
để biểu diễn mạch ngõ vào và dùng nguồn Thevenin
E
th
=A
VNL
.V
i
và Z
0
=R
0
để biểu diễn ngỏ ra của hệ thống 2 cổng.
Trương Văn Tám IV-1 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Ðể thử lại mạch tương đương này, ta thử tìm Z
0
và A
VNL
. Ðể tìm Z
0
, ta nối tắt ngõ
vào tức v
i
=0v, từ đó A
VNL
.v
i
=0v và tương đương với mạch nối tắt, do đó Z
0
=R
0
như đã
định nghĩa phía trên. Sự vắng mặt của tải sẽ đưa đến i
0
=0 và điện thế giảm qua R
0
là
V
R0
=0. Do đó ở ngõ ra hở chính bằng nguồn A
VNL
.v
i
.
Thí dụ: Cho mạch phân cực cố định như hình 4.3. Hãy vẽ mạch tương đương 2
cổng.
Giải:
Phân giải mạch này ta tìm được: Z
i
=1.07kΩ; Z
0
=3kΩ; A
VNL
=-280.11 (xem lại
chương 2)
Dùng các dữ kiện này ta vẽ lại mạch tương đương 2 cổng như hình 4.4.
Dấu trừ trong nguồn điện thế phụ thuộc có nghĩa là nguồn điện thế thật sự ngược với
nguồn điều khiển chỉ định trên hình vẽ. Nó cũng cho thấy độ lệch pha 180
0
giữa điện thế
ngõ vào và ngõ ra.
Trong thí dụ trên, điện trở R
C
=3kΩ được đưa vào để xác định độ lợi điện thế không
tải. Sự phân tích trong chương này sẽ xem các điện trở phân cực là thành phần của độ lợi
không tải, tải R
L
sẽ được nối vào các cực của ngõ ra.
4.2 HIỆU ỨNG CỦA TỔNG TRỞ TẢI R
L
Phần này, ta xem ảnh hưởng của tổng trở tải R
L
đối với kiểu mẩu 2 cổng. (xem
hình 4.5)
Áp dụng công thức cầu chia điện thế ở mạch ngõ ra ta có:
Trương Văn Tám IV-2 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Tuy R
i
thay đổi tùy theo dạng mạch, nhưng dòng điện ngõ vào luôn luôn được xác
định bởi:
Ðộ lợi dòng điện như vậy có thể tìm được từ độ lợi điện thế, tổng trở vào và
điện trở tải.
Ðường thẳng lấy điện động: (xoay chiều)
được xem như nối tắt và tải của mạch điện được xem là R
L
và điện trở cực thu R
C
mắc
song song với nhau. Tác dụng của điện trở tải R
L
làm cho đường thẳng lấy điện động có
dốc đứng hơn dòng điện lấy điện tĩnh. Ðiểm chú ý quan trọng là cả 2 đường thẳng này
đều qua cùng một điểm Q.
Trương Văn Tám IV-3 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Khi chưa mắc tải R
L
, nếu ta áp một tín hiệu nhỏ hình sin vào cực nền của transistor ,
dòng điện cực nền của transistor sẽ biến động từ I
B1
đến I
B3
nên điện thế ngỏ ra V
CE
cũng
biến động như hình vẽ. Nếu ta mắc tải R
L
vào, vì sự biến động của I
B
vẫn không thay đổi
nhưng độ dốc của đường thẳng lấy điện đã thay đổi (đứng hơn) nên tín hiệu ra V
B
CE
nhỏ
hơn.
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA NỘI TRỞ NGUỒN R
S
Bây giờ ta quay lại ngõ vào của hệ thống 2 cổng và khảo sát ảnh hưởng của nội trở
của nguồn tín hiệu lên độ lợi của mạch khuếch đại.
Hình 4.8 mô tả một nguồn tín hiệu V
S
có nội trở R
S
được áp vào ngõ vào của hệ
thống 2 cổng căn bản.
Trương Văn Tám IV-4 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Từ định nghĩa của Z
i
và A
VNL
ta thấy chúng không bị ảnh hưởng bởi nội trở R
S
nhưng tổng trở ra có thể bị ảnh hưởng bởi R
S
.
Từ hình 4.8, ta thấy tín hiệu v
i
đưa vào hệ thống 2 cổng bây giờ là:
Như vậy nếu nội trở nguồn R
S
càng lớn thì độ lợi của mạch càng nhỏ (do tín hiệu
vào v
i
nhỏ).
Với hệ thống 2 cổng bên trên ta có:
4.4 ẢNH HƯỞNG CHUNG CỦA R
S
VÀ R
L
:
Hình 4.9 là một nguồn tín hiệu với nội trở R
S
và một tải R
L
được mắc vào hệ thống 2
cổng với các thông số riêng Z
i
=R
i
, A
VNL
, Z
0
=R
0
như đã định nghĩa.
Ở ngõ vào ta có:
Ðộ lợi toàn mạch:
Trương Văn Tám IV-5 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Ngoài ra:
Vì i
S
=i
i
nên A
is
=A
i
tức phương trình (4.6) và (4.7) cho cùng một kết quả.
Phương trình (4.5) cho thấy cả hai R
S
và R
L
đều có tác dụng làm giảm độ khuếch
đại.
4.5 MẠCH CỰC PHÁT CHUNG DÙNG BJT:
Trong phần này ta xét các dạng khác nhau của mạch khếch đại cực phát chung dùng
BJT với ảnh hưởng của R
S
và R
L
. Sự phân giải chi tiết sẽ không được đề cập đến do quá
quen thuộc. Ở đây ta chỉ đưa ra các kết quả chính.
4.5.1 Mạch phân cực cố định:
Kiểu mạch phân cực cố định đã được xác định các chi tiết trong các phần trước.
Mạch tương đương với nội trở nguồn R
S
và tải R
L
như hình 4.10.
Ta có:
Trương Văn Tám IV-6 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Với mạch tương đương kiểu mẫu r
e
như hình 4.11 cho mạch phân cực cố định, ta phân giải
và sẽ tìm được cùng kết quả.
Ðể tính A
VS
, từ mạch tương 2 cổng ta có:
4.5.2 Mạch dùng cầu chia điện thế:
Với mạch dùng cầu chia điện thế (hình 4.12), tải R
L
được nối ở cực thu.
4.5.3 Mạch cực phát chung không có tụ phân dòng:
Mạch điện như hình 4.13
Trương Văn Tám IV-7 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Tổng trở vào:
Tổng trở ra:
Z
0
=R
C
4.5.4 Mạch hồi tiếp cực thu:
Dạng mạch như hình 4.14
4.6 MẠCH CỰC THU CHUNG:
Mạch cực thu chung hay mạch emitter-follower với tải R
L
và nội trở nguồn R
S
như
hình 4.15. Ðiểm quan trọng cần chú ý là ở mạch này Z
0
sẽ bị ảnh hưởng bởi R
S
và Z
i
bị
Trương Văn Tám IV-8 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
ảnh hưởng bởi R
L
. Do đó khi dùng mạch tương đương 2 cổng để phân giải ta phải tính lại
Z
i
và Z
0
và đưa các trị số mới này vào mạch tương đương 2 cổng (xem ở thí dụ).
Trong đó: R’
E
=R
E
//R
L
; i
e
=(β+1)i
b
Từ mạch ngõ vào ta có:
v
S
=(R
S
+βr
e
)i
b
+ (β+1)R’
E
i
b
Từ phương trình này ta có thể vẽ mạch tương đương:
Từ đó ta có:
Trương Văn Tám IV-9 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Thí dụ: Cho mạch điện hình 4.18. Các thông số của mạch khi không có tải là: Z
i
=157.54
kΩ
Z
0
=21.6 ( (không có R
S
)
A
VNL
=0.993 với r
e
=21.74Ω, β=65
Xác định: a/ Giá trị mới của Zi và Z
0
khi có R
L
và R
S
.
Giải
Trương Văn Tám IV-10 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
a/ Ta có tổng trở vào và tổng trở ra khi có R
S
và R
L
là:
Z
i
=R
B
//[βr
e
+ R
E
//R
L
] = 75.46kΩ
Z
0
=R
E
//(R
S
/β + r
e
)=30.08Ω
b/ Ta có mạch tương đương 2 cổng:
4.7 MẠCH CỰC NỀN CHUNG:
Mạch căn bản như hình 4.20
Tổng trở vào và tổng trở ra (Z
i
và Z
0
) cũng giống như trường hợp không tải. Ðộ lợi
điện thế và dòng điện được xác định bởi:
Trương Văn Tám IV-11 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
4.8 MẠCH DÙNG FET:
Ở FET, do cực cổng cách điện hẳn khỏi cực nguồn và cực thoát, nên trong mạch
khuếch đại dùng FET tải R
L
không ảnh hưởng đến tổng trở vào Z
i
và nội trở nguồn R
sig
không ảnh hưởng lên tổng trở ra Z
0
.
4.8.1 Ðiện trở cực nguồn có tụ phân dòng:
Xem mạch khuếch đại dùng FET như hình 4.21. Tải R
L
được xem như mắc song
song với điện trở R
D
trong mạch tương đương với tín hiệu nhỏ. Ta có các kết quả sau:
4.8.2 Ðiện trở cực nguồn không có tụ phân dòng:
Mạch căn bản như hình 4.21 nhưng không có tụ C
S
. Ta có kết quả:
4.8.3 Mạch cực thoát chung:
Mạch như hình 4.22
Tổng trở vào Z
i
độc lập với R
L
và được xác định bởi Z
i
=R
G
Trương Văn Tám IV-12 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Ðộ lợi điện thế khi có tải cũng giống như khi không có tải với R
S
được thay bằng
R
S
//R
L
4.8.4 Mạch cực cổng chung:
Dạng mạch như hình 4.23
BÀI TẬP CUỐI CHƯƠNG IV
Bài 1: Cho mạch điện như hình 4.24
a/ Xác định A
VNL
, Z
i
, Z
0
b/ Vẽ mạch tương đương 2 cổng với các thông số tính ở câu a.
c/ Tính độ lợi điện thế A
V
=v
0
/v
i
bằng cách dùng kiểu mẫu 2 cổng.
d/ Xác định độ lợi dòng điện A
i
=i
0
/i
i
e/ Xác định A
V
, Z
i
, Z
0
bằng cách dùng kiểu mẫu r
e
và so sánh kết quả với phần trên.
Trương Văn Tám IV-13 Mạch Điện Tử
Chương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn và tổng trở tải
Bài 2: Cho mạch điện hình 4.25
a/ Xác định A
VNL
, Z
i
, Z
0
b/ Vẽ mạch tương 2 cổng với các thông số được tính ở câu a.
c/ Xác định A
v
=v
0
/v
i
và A
VS
= v
0
/v
S
.
d/ Thay R
S
=1k, xác định A
V
và A
VS
. Khi R
S
tăng A
V
và A
VS
thay đổi như thế nào?
e/ Thay R
S
=1k, xác định A
VNL
, Z
i
, Z
0
. Các thông số này thay đổi ra sao khi R
S
tăng.
f/ Thay R
L
=5.6k.Xác định A
V
và A
VS
. Khi R
L
tăng A
V
và A
VS
thay đổi như thế nào?
(R
S
vẫn là 0.6k).
Bài 3: Cho mạch điện hình 4.26
a/ Xác định A
VNL
, Z
i
, Z
0
.
b/ Vẽ mạch tương đương 2 cổng với các thông số tính được ở câu a.
c/ Xác dịnh A
V
và A
VS
.
d/ Thay R
L
=4.7k. Tìm lại A
V
, A
VS
. Nhận xét?
e/ Thay R
Sig
=1k (với R
L
=4.7k). tìm lại A
V
và A
VS
. Nhận xét?
f/ Thay R
L
=4.7k, R
Sig
=1k. Tìm lại Z
i
, Z
0
. Nhận xét?
Trương Văn Tám IV-14 Mạch Điện Tử
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu hút khách du lịch nội địa .doc
1.2 Phân loại khách du lịch.
Ngoài việc nhận thức rõ về định nghĩa khách du lịch, việc nghiên cứu cần
có sự phân loại chính xác, đầy đủ. Đó là điều thuận lợi cho việc nghiên cứu,
thống kê các chỉ tiêu về du lịch cũng như định nghĩa. Sau đây là một số cách
phân loại khách du lịch.
+ Uỷ ban thông lệ Liên hợp quốc đã chấp nhận các phân loại sau, các định
nghĩa chính của các phân loại:
Khách tham quan du lịch là những cá nhân đi đến một đất nước khác ngoài
nơi ở thường xuyên của họ trong một khoảng thời gian không quá 12 tháng với
mục đích chủ yếu không phải kiếm tiền trong phạm vi lãnh thổ mà họ đến.
Khách du lịch quốc tế là tất cả những khách du lịch đã ở lại đất nước mà họ
đến ít nhất là một đêm.
Khách tham quan trong ngày là tất cả những khách tham quan mà không ở
lại qua đêm tại đất nước mà họ đến.
Khách quá cảnh là khách không rời khỏi phạm vi khu vực quá cảnh trong thời
gian chờ đợi giữa các chuyến bay tại sân bay hoặc tại các khu vực nhà ga khác.
+ Theo định nghĩa khách du lịch của pháp lệnh du lịch ban hành ngày 8/2/1999.
Khách du lịch có hai loại:
- Khách du lịch nội địa .
- Khách du lịch quốc tế .
Bên cạnh các phân loại này còn có các cách phân loại khác.
+ Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc:
Cơ sở của việc phân loại này xuất phát từ yêu cầu của nhà kinh doanh du
lịch cần nắm được nguồn gốc khách. Qua đó mới hiểu được mình đang phục vụ
ai? họ thuộc dân tộc nào? để nhận biết được tâm lý của họ để phục vụ họ một
cách tốt hơn.
+ Phân loại khách du lịch theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp:
Cách phân loại này sẽ cho phép nhà cung cấp khám phá ra các yêu cầu cơ
bản và những đặc trưng cụ thể về khách du lịch.
+ Phân loại khách theo khả năng thanh toán:
Xác định rõ đối tượng có khả năng thanh toán cao hay thấp để cung cấp
dịch vụ một cách tương ứng.
5
Đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khác du lịch. Mỗi một tiêu thức đều
có những ưu nhược điểm riêng khi tiếp cận theo một hướng cụ thể. Cho nên cần
phối hợp nhiều cách phân loại khi nghiên cứu khách du lịch. Khi nghiên cứu
khái niệm và phân loại khách du lịch cho phép chúng ta từng bước thu thập một
cách đầy đủ, chính xác các thông tin về khách du lịch. Tạo tiền đề cho việc
hoạch ra các chính sách chiến lược kế hoạch Marketing của doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp nghiên cứu thị trường khách du lịch để phân đoạn thị trường,
nhằm hướng vào một đoạn thị trường cụ thể, nghiên cứu một nhóm khách cụ thể
về các đặc điểm của khách để kinh doanh một cách hiệu quả hơn.
1.3 Nhu cầu của khách du lịch.
1.3.1. Khái niệm nhu cầu du lịch.
Nhu cầu du lịch cũng là một loại nhu cầu của con người. Trong sự phát triển
không ngừng của nền sản xuất xã hội thì du lịch là một đòi hỏi tất yếu của người
lao động, nó đã trở thành một hoạt động cốt yếu của con người và của xã hội hiện
đại. Du lịch đã trở thành một nhu cầu của con người khi trình độ kinh tế, xã hội và
dân trí đã phát triển. Như vậy nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng
hợp của con người, nhu cầu này được hình thành trên nền tảng của nhu cầu sinh
lý (sự đi lại) và nhu cầu tinh thần (nghỉ ngơi, giải trí, tự khẳng định, giao tiếp).
Nhu cầu này phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất trong xã hội và
trình độ sản xuất xã hội, khi mà trình độ sản xuất xã hội càng cao thì mối quan hệ
xã hội càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch càng trở nên gay gắt.
Nhu cầu du lịch của con người phụ thuộc vào các điều kiện: thiên nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội.
Ở một số quốc gia phát triển thì việc đi du lịch đã trở thành phổ biến, là
nhu cầu quan trọng nhất trong đời sống. Tuy vậy nhu cầu này ở những nước
nghèo đang được xếp vào hạng thứ yếu vì mức sống của họ còn thấp.
Xu hướng nhu cầu du lịch ngày càng tăng khi mà các điều kiện kinh tế của
họ ngày càng ổn định hơn, thu nhập ngày càng tăng, thời gian nhàn rỗi nhiều.
1.3.2. Nhu cầu của khách du lịch.
Khi nghiên cứu các nhu cầu của khách du lịch người ta nhận thấy rằng: hầu
như tất cả các dịch vụ đều cần thiết ngang nhau thoả mãn các nhu cầu phát sinh
trong chuyến hành trình và lưu lại của khách du lịch.
6
Trong nhu cầu du lịch có các nhu cầu:
+ Nhu cầu đặc trưng.
+ Nhu cầu thiết yếu.
+ Nhu cầu bổ sung.
Trong các loại nhu cầu trên thì nhu cầu thiết yếu là nhu cầu đòi hỏi sự tồn
tại của con người, nhu cầu đặc trưng là nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí đây là
nhu cầu dẫn đến quyết định du lịch của du khách. Nhu cầu bổ sung là nhu cầu
phát sinh thêm trong chuyến hành trình. Trong du lịch nhu cầu thiết yếu cho
khách du lịch là vận chuyển, lưu trú và ăn uống, nhu cầu đặc trưng là nhu cầu
thẩm mỹ. Nhu cầu bổ sung là các nhu cầu xuất hiện trong chuyến đi như mua
sắm, giải trí, thể thao, Đối với các nhu cầu này khó có thể xếp hạng, thứ bậc
mà nó phát sinh trong khách du lịch. Tuy vậy nhu cầu vận chuyển, ăn uống, lưu
trú là rất quan trọng đối với khách du lịch nhưng nếu đi du lịch mà không có cái
gì để gây ấn tượng, giải trí, tiêu khiển, không có các dịch vụ khác thì không gọi
là đi du lịch được không. Ngày nay đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau
trong cùng một chuyến đi, do vậy mà các nhu cầu cần được đồng thời thoả mãn.
Sau đây ta xét riêng từng nhu cầu của khách du lịch:
1.3.2.1 Nhu cầu thiết yếu:
* Nhu cầu vận chuyển:
Nhu cầu vận chuyển trong du lịch được hiểu là sự tất yếu phải di chuyển
trong chuyến đi từ nơi ở thường xuyên đến điểm du lịch nào đó và ngược lại và
sự di chuyển của khách trong thời gian khách lưu lại ở điểm du lịch, chúng ta
biết rằng hàng hoá dịch vụ du lịch không vận chuyển được đến điểm khách ở,
mà muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch thì khách phải rồi chỗ ở thường xuyên của
mình đến điểm du lịch thường cách xa chỗ ở của mình, nơi tạo ra các sản phẩm
du lịch, và điều kiện tiêu dùng du lịch. Do nơi ở thường xuyên cách xa điểm du
lịch cho nên dịch vụ vận chuyển xuất hiện khi con người muốn đi du lịch thì
phải tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Do đó điều kiện tiên quyết của du lịch là
phương tiện và cách thức tổ chức vận chuyển du lịch.
* Nhu cầu lưu trú và ăn uống.
Nhu cầu lưu trú và ăn uống cũng là nhu cầu thiết yếu nhưng trong khi đi du
lịch nhu cầu này khác hơn so với nhu cầu này trong đời sống thường nhật. Khi
7
đi du lịch thì nhu cầu này cũng cần phải được đáp ứng, dẫn đến phát sinh ra dịch
vụ lưu trú và ăn uống. Nhu cầu lưu trú ăn uống trong du lịch được thoả mãn cao
hơn, những nhu cầu này không những thoả mãn được nhu cầu sinh lý mà còn
thoả mãn được nhu cầu tâm lý khác.
Khi sử dụng các dịch vụ này khách du lịch sẽ được cảm nhận những nét
đặc trưng của kiểu phong cách kiến trúc và tập quán ăn uống ở điểm du lịch nào
đó, cảm nhận được bản sắc văn hoá, nền văn minh của cộng đồng người ở đó.
Trong đồ ăn thức uống thì thể hiện được hương vị và kiểu cách của các món ăn
đặc sản.
Tâm lý của khách du lịch là khi đến điểm du lịch là có một cảm giác thoải
mái, thư giãn cho nên trong lưu trú cần phải bố trí thế nào để cho khách có một
cảm giác mới lạ thích thú để cho tinh thần của họ được thư giãn, trong ăn uống
phải lựa chọn những dịch vụ đem lại cho khách những cảm giác ngon lành. Làm
cho họ có các giảm mình đang được hưởng thụ những cái ngon, cái đẹp. Không
làm cho họ cảm thấy sự mong đợi này không thành hiện thực, nên hy vọng
hưởng thụ thành nỗi thất vọng.
Trong kinh doanh du lịch thì việc tổ chức lưu trú và ăn uống là hết sức
quan trọng, đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp; khâu tổ
chức ăn uống và lưu trú có chất lượng cao được thể hiện ở năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ, phong cách giao tiếp, thái độ phục vụ vì nó tạo ra tâm lý tốt cho
khách du lịch.
1.3.2.2. Nhu cầu đặc trưng:
Đây là nhu cầu đặc trưng trong du lịch - về bản chất đây là nhu cầu thẩm
mỹ của con người. Cảm thụ giá trị thẩm mỹ bằng các dịch vụ tham quan, giải trí,
tiêu khiển tạo nên cái gọi là cảm tưởng du lịch trong con người. Con người ai
cũng muốn biết cái mới lạ, giật gân. Cảm nhận và đánh giá đối tượng phải được
tai nghe mắt thấy, tay sờ, mũi ngửi mới cảm thấy thoả đáng.
Nhu cầu cảm thụ cái đẹp, giải trí và tiêu khiển được khơi dậy từ ảnh hưởng
đặc biệt của môi trường sống và làm việc trong nền văn minh công nghiệp. Sự
căng thẳng (stress) đã làm cho chúng ta cần thiết phải nghỉ ngơi, tiêu khiển, gặp
gỡ, lãng quên… giải thoát trở về với thiên nhiên.
Khi tham quan, giải trí chúng ta tìm đến các giả trí thẩm mỹ mà thiên nhiên ban
tặng hoặc do chính đồng loại tạo ra ở nơi du lịch là nơi mà khách du lịch tìm thấy.
8
Khi tổ chức thoả mãn nhu cầu tham quan giải trí chúng ta cần phải tổ chức
những Tour độc đáo, hấp dẫn, lôi cuốn được đông đảo khách du lịch. Nội dung
tham quan, giải trí, phải đảm bảo tính khoa học, đạt được giá trị thẩm mỹ, đảm
bảo thư giãn cả mặt thể chất lẫn tinh thần.
1.3.2.3. Nhu cầu bổ sung.
Nhu cầu về một số hàng hoá dịch vụ khác trong chuyến đi đã làm phát sinh
ra các dịch vụ bổ sung trong chuyến. Các dịch vụ này phát sinh xuất phát từ các
yêu cầu đa dạng như yêu cầu về hàng hoá, lưu niệm; các dịch vụ thông tin, liên
lạc, hộ chiếu, visa, đặt chỗ mua vé,
Khi tiến hành cách dịch vụ này cần phải đảm bảo các yêu cầu thuận tiện,
không mất nhiều thời gian, chất lượng của dịch vụ phải đảm bảo, giá cả công
khai.
Trong chuyến đi phát sinh nhiều nhu cầu bổ sung, các nhu cầu này làm cho
chuyến hành trình trở nên hoàn thiện hơn, thuận tiện hơn, hấp dẫn hơn bởi các
dịch vụ bổ sung.
Đa dạng hoá các loại dịch vụ, tổ chức phục vụ tốt các dịch vụ tốt là yếu tố
để có thể lưu khách lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn.
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu khách du lịch.
Hàng hoá sản xuất ra là để bán cho những người có nhu cầu tiêu dùng.
Trong du lịch cũng vậy, khi khách du lịch mua nhiều hàng hoá dịch vụ thì các
doanh nghiệp du lịch ngày càng phát triển do bán được nhiều sản phẩm, thu
nhập ngày càng cao là tiền đề cho sự phát triển của doanh nghiệp, còn nếu ít
khách hoặc không có khách thì hoạt động du lịch trở nên đình trệ, thất thu. Điều
này chứng tỏ, khách hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc kinh doanh.
“Khách hàng là thượng đế” - các doanh nghiệp đặc khách hàng lên vị trí cao hơn
bởi vì doanh nghiệp chỉ bán được những cái mà khách hàng cần. Do vậy muốn
kinh doanh có hiệu quả thì các nhà kinh doanh du lịch phải chú trọng hơn nữa
9
đến khách du lịch, xác định được vị trí của khách trong chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp.
Muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm, dịch vụ thì điều cốt lõi là phải làm sao
gợi thị hiếu ham muốn của khách hàng chứ không như trước đây sản xuất để đáp
ứng sự thiếu thốn của hàng hoá cho người tiêu dùng, và bắt thị trường chấp nhận
sản phẩm của mình, bất chấp chất lượng như thế nào, giá đắt hay rẻ. Bây giờ
trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đã biết đáp ứng sự mong đợi của
khách hàng. Để thu hút được khách hàng thì các doanh nghiệp phải sản xuất ra
các sản phẩm có chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý có tính thẩm mỹ cao.
Vậy ta phải hiểu được vai trò quan trọng của khách hàng đối với kinh
doanh du lịch như thế nào? Thông qua đó, tiến hành việc nghiên cứu về khách
du lịch. Khi tiến hành nghiên cứu khách, cần phải nghiên cứu khách về các
phương diện nhu cầu, sở thích của khách, nguồn gốc khách, nghề nghiệp, giới
tính, độ tuổi, đặc điểm tâm lý của khách du lich, trình độ văn hoá, Để từ đó
hiểu được những nhu cầu của khách, những yêu cầu của khách, tránh gây phiền
hà cho khách, đưa ra sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu và yêu cầu của
khách.
Vì vậy việc nghiên cứu khách du lịch có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch, là yếu tố dẫn đến sự thành công trong kinh doanh.
2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH DU LỊCH.
2.1 Chính sách xúc tiến bán hàng và quảng cáo:
a. Quảng cáo:
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên
truyền về sản phẩm hoặc cho người trung gian hoặc cho người tiêu dùng cuối
cùng trong một thời gian và không gian cụ thể. Để việc quảng cáo có chất lượng
cao thì nó phải đạt được các yêu cầu như: lượng thông tin cao, hợp lý, đảm bảo
tính pháp lý, tính nghệ thuật, phù hợp với kinh phí quảng cáo. Mục đích của
quảng cáo là gây dựng được hình ảnh về sản phẩm và dịch vụ của công ty trong
khách hàng, gây được ấn tượng cho họ và kích thích họ mua hàng.
10
+ Quảng cáo là phương tiện đắc lực cho cạnh tranh bán hàng. Đảm bảo
được hiệu quả trong quảng cáo cần phải thiết lập một chính sách quảng cáo, sau
đây là các bước để thiết lập một chính sách quảng cáo:
- Xác định mục tiêu: mục tiêu của quảng cáo là để tăng sự nhận biết về
mẫu, nhãn sản phẩm, tăng sự hồi tưởng của khách hàng về sản phẩm gây được
ấn tượng mạnh của sản phẩm đối với khách hàng kích thích họ mua hàng.
- Xác định chương trình quảng cáo: khi xác định chương trình quảng cáo
thì doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu thị trường nghiên cứu sản phẩm, xem
xét các phương tiện truyền tin.
- Xác định chi phí: ngân sách dành cho quảng cáo thường được xác định
theo khả năng tài chính của doanh nghiệp. Đối với sản phẩm mới và thị trường
mới thì chi phí quảng cáo nhiều hơn và quảng cáo nhiều hơn.
- Phương thức tiến hành: quảng cáo hàng ngày, liên tục quảng cáo định
kỳ, phương tiện quảng cáo có thể là các phương tiện thông tin đại chúng
hay các ấn phẩm quảng cáo.
b. Xúc tiến bán hàng:
Là biện pháp tiếp tục để tác động vào tâm lý khách hàng, nắm bắt được nhu
cầu và phản ứng của khách hàng về các dịch vụ của công ty. Và có thể thu hút
được khách hàng nhiều hơn.
Hình thức xúc tiến bán có thể là các phần thưởng, quảng cáo tại chỗ, mua
sắm thông qua hội nghị khách hàng, hội chợ triển lãm.
11
2.2 Các chương trình du lịch và chất lượng chương trình du lịch.
Đa dạng hoá các chương trình du lịch là phương thức kinh doanh có hiệu
quả trên cơ sở thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong
từng thời kỳ kinh doanh. Trong các chương trình du lịch thì chất lượng của
chương trình du lịch là yếu tố quan trọng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của
khách. Chính chất lượng của chương trình du lịch làm cho sản phẩm của doanh
nghiệp luôn có sức sống trên thị trường, hấp dẫn được thị trường.
Các chương trình du lịch bao gồm các chương trình du lịch mà công ty
đang bán và tổ chức thực hiện, sự thay đổi đối vơí các chương trình mà công ty
đang thực hiện và các chương trình mới.
- Các chương trình du lịch mà công ty đang bán và tổ chức thực hiện: Trong
kinh doanh các doanh nghiệp thường không kinh doanh một loại chương trình
du lịch mà kinh doanh hỗn hợp nhiều loại chương trình du lịch, lựa chọn các
chương trình du lịch thích hợp với thị trường, đáp ứng được nhu cầu của nhiều
đối tượng khách hàng.
- Sự thay đổi đối vơí các chương trình mà công ty đang thực hiện: Mỗi
chương trình du lịch đều có một chu kỳ sống nhất định. Khi nó vượt qua đỉnh cao
của chu kỳ thì bắt đầu có sự suy thoái. Khi đó chúng ta phải đổi mới chương trình
du lịch sao cho thích hợp với thị trường. Còn từ khi giới thiệu chương trình du
lịch trên thị trường thì ngày càng phải hoàn thiện để tạo sự hấp dẫn đối với khách
hàng. Việc đổi mới và hoàn thiện chương trình du lịch là làm cho sản phẩm thoả
mãn tốt hơn nhu cầu của thị trường, kéo dài được chu kỳ sống của sản phẩm
- Các chương trình du lịch mới: Chính sách này hướng vào việc phát triển
một số chương trình du lịch mới cho thị trường hiện tại hay phát triển
một số chương trình du lịch mới cho thị trường mới. Việc đưa ra các
chương trình du lịch mới bám sát nhu cầu khách hàng thường làm cho
khối lượng tiêu thụ tăng, có nhiều khách tiêu thụ hơn, giữ được thị phần
và có khả năng mở rộng thị trường mới.
2.2.2. Chất lượng của các chương trình du lịch.
Chất lượng của các chương trình du lịch được xem như là mức độ thoả mãn của
người tiêu dùng sản phẩm du lịch so với mức độ kỳ vọng của họ đối với sản
phẩm đó. Chính vì vậy, chất lượng của chương trình du lịch nhiều khi không chỉ
12
phụ thuộc vào bản thân nhà cung cấp dịch vụ du lịch mà còn phụ thuộc vào bản
thân khách du lịch. Có những chương trình du lịch cung cấp những sản phẩm
dịch vụ cao cấp nhưng vẫn bị khách chê là kém và ngược lại. Việc bảo đảm chất
lượng cho chương trình du lịch do đó trở nên vô cùng khó khăn. Mặt khác, chất
lượng của sản phẩm dịch vụ luôn là yếu tố quyết định cho sự lựa chọn của khách
hàng. Điều này tạo ra một bài toán hóc búa cho các nhà kinh doanh du lịch. Họ
luôn phải tạo ra những kỳ vọng to lớn cho khách du lịch để kích thích họ tiêu
dùng sản phẩm du lịch, đồng thời lại phải cố gắng làm cho khách không bị thất
vọng khi tiêu dùng sản phẩm sản phẩm của mình do những kỳ vọng quá lớn của
họ. Cách giải quyết thường gặp trong giai đoạn hiện nay của các nhà kinh doanh
du lịch là cung cấp sản phẩm dịch vụ với chất lượng tương xứng với số tiền mà
khách phải bỏ ra để có được sản phẩm dịch vụ đó.
2.3 Giá bán của các chương trình du lịch:
Giá là một trong các nhân tố tác động mạnh đến tâm lý khách hàng cũng
như nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Nó quyết
định chủ yếu đến mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Do đó khi xây dựng
các chương trình du lịch cần phải định ra một chính sách giá phù hợp. Tuỳ theo
chu kỳ sống của sản phẩm, những thay đổi về mục tiêu chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp, tuỳ theo sự vận động của thị trường, và chi phí kinh doanh,
tuỳ theo thời vụ của mùa du lịch và tuỳ theo chính sách giá của các đối thủ cạnh
tranh mà doanh nghiệp kinh doanh đưa ra chính sách giá của mình, sử dụng từng
mức giá phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh cụ thể để lôi cuốn khách hàng.
2.4 Chính sách phân phối:
Chính sách phân phối là phương thức thể hiện cách mà các nhà doanh
nghiệp cung ứng các sản phẩm dịch vụ. Nó là tổng hợp các biện pháp, thủ thuật
nhằm đưa sản phẩm dịch vụ đến tay người tiêu dùng chính sách phân phối có vai
trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó chịu ảnh hưởng
của chính sách giá và chính sách sản phẩm. Mục tiêu của chính sách này là đảm
bảo bán được nhiều sản phẩm dịch vụ với chất lượng tốt, chi phí thấp nhằm đạt
hiệu quả kinh doanh cao. Khi xây dựng chính sách phân phối phải căn cứ vào
đặc điểm của sản phẩm dịch vụ và đặc điểm khách hàng.
13
Nội dung quan trọng của chính sách phân phối sản phẩm là lựa chọn kênh
phân phối. Trong kinh doanh du lịch thì các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn
kênh phân phối và doanh nghiệp kinh doanh có thể lựa chọn các kênh phân phối.
Sơ đồ 01 : Kênh phân phối sản phẩm du lịch
Hầu hết các kênh phân phối trong du lịch đều được thực hiện thông qua các
công ty lữ hành. Thông qua các kênh phân phối nhà sản xuất tiêu thụ được nhiều
sản phẩm, có thêm nhiều khách hàng và thị trường mới, bởi vì thông qua các
công ty, đại lý lữ hành khác nhau của công ty để bán hàng.
2.5 Xác định ngân quỹ cho hoạt động Marketing.
Xác định ngân quỹ cho hoạt động Marketing là một quyết định quan trọng
cho nhà quản lý. Nó chi phối lớn đến thành công và hiệu quả của hoạt động
Marketing trong các công ty lữ hành.
Có 4 phương pháp xác định ngân sách Marketing mà các công ty lữ hành
thường áp dụng như sau:
# Phương pháp xác định theo tỷ lệ % trên doanh số bán.
Các công ty lữ hành căn cứ vào doanh số bán của năm trước hoặc chu kỳ
trước để ấn định tỷ lệ này. Theo cách xác định trên, ngân sách Marketing có thể
thay đổi theo chừng mực mà công ty có thể chịu đựng được, làm cho các nhà
quản lý yên tâm vì chi phí Marketing gắn liền với sự tăng giảm doanh số bán
của công ty trong từng giai đoạn kinh doanh. Tuy nhiên, do ngân quĩ Marketing
14
Sản
phẩm
du
lịch
Khách
du
lịch
Công ty
lữ hành
du lịch
Đại lý du
lịch bán
buôn
Đại lý du
lịch bán lẻ
Đại lý chi
nhánh
điểm bán
1
2
3
4
5
6
7
Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây lắp 5
Luận văn tốt nghiệp
NỘI DUNG CHÍNH
PHẦN 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP ẢNH
HƯỞNG TỚI KẾ TOÁN CHI SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM XÂY LẮP
1.1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất
công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích luỹ cùng với vốn đầu tư
của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về
kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá
trình tạo ra sản phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Trong quá trình đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho
nền kinh tế quốc dân, các tổ chức xây lắp nhận thầu giữ vai trò quan trọng.
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại các tổ chức xây lắp như: Tổng công ty, công
ty , xí nghiệp, đội xây dựng… thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị
này khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức quản lý nhưng các đơn vị này
đều là những tổ chức nhận thầu xây lắp.
1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt khác với ngành sản xuất khác
và có ảnh hưởng đến tổ chức kế toán.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
3
Luận văn tốt nghiệp
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm
xây lắp lâu dài… Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản
phẩm xây lắp nhất thiết phải theo dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công)
quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo,
đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp
không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây
lắp có trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu…).
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
(xe máy, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt
sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản,
vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất
mát hư hỏng…
Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình
bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính
phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành
nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các
công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi
trường như nắng, mưa, lũ lụt… Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý,
giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế,
dự toán: các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình (chủ đầu tư giữ
lại một tỷ lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết thời hạn bảo hành công
trình mới trả lại cho đơn vị xây lắp).
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán
vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
4
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình
doanh nghiệp xây lắp.
1.1.3 Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý doanh
nghiệp xây lắp
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp phổ biến theo phương
thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công
việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp…). Trong giá
khoán gọn bao gồm đầy đủ các loại chi phí: chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ,
chi phí tiền lương, chi phí thi công và chi phí chung cho bộ phận khoán.
Địa bàn hoạt động kinh doanh rộng lớn, hoạt động mang tính lưu động.
Hiện nay, ngành XDCB áp dụng 3 hình thức chọn nhà thầu: đấu thầu rộng rãi,
đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu. Mỗi công trình được xây dựng và quản lý
bằng một thiết kế dự toán riêng.
Nhà trúng thầu tiến hành thi công các công trình, hạng mục công trình
theo thiết kế kỹ thuật, bàn giao đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng công
trình. Do đó, công tác kế toán phải ghi chép đầy đủ chi phí và giá thành sản
phẩm để cung cấp thông tin về số liệu chính xác phục vụ việc quản lý doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao.
1.2 SỰ CẨN THIẾT CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.2.1 Chi phí sản xuất xây lắp
1.2.1.1 Khái niệm
Chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống
và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá
thành của sản phẩm xây lắp.
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu
phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
phân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình
hay theo nơi phát sinh chi phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo
những tiêu chí khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được phân loại theo các
cách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán.
o Theo khoản mục tính giá thành, chi phí ở đơn vị xây lắp gồm:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVL TT): là chi phí của các vật
liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến
trúc… cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp.
• Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí tiền lương chính, lương phụ,
phụ cấp lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình.
Không bao gồm các khoản trích theo tiền lương kinh phí công đoàn
(KPCĐ), bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) của công
nhân trực tiếp xây lắp.
• Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí cho các máy thi công nhằm
thực hiện khối lượng công tác xây, lắp bằng máy. Chi phí sử dụng
máy thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công bao gồm: lương chính,
lương phụ của của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy…, chi phí vật
liệu, chi phí công cụ dụng cụ (CCDC), chi phí khấu hao tài sản cố định
(TSCĐ), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khá bằng tiền…
Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí sửa chữa lớn
máy thi công (đại tu, trung tu…), chi phí công trình tạm thời cho máy thi
công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy…). Chi phí tạm thời có thể phát sinh
trước (được hạch toán vào TK 142) sau đó được phân bổ dần vào bên Nợ TK
623. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí xây lắp trong kỳ
(do liên quan tới việc sử dụng thực tế máy thi công trong kỳ), trường hợp này
phải tiến hành trích trước chi phí, sử dụng TK 335 (ghi Nợ TK 623, Có TK
335).
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
• Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng gồm: lương của nhân viên quản lý đội xây dựng, các
khoản trích theo tiền lương theo tỷ lệ quy định (19%) của nhân viên
quản lý đội và công nhân trực tiếp tham gia xây lắp, chi phí khấu
hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí vật liệu, chi
phí CCDC và các chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt
động của đội…
Cách phân loại này phục vụ yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, lập định mức chi phí sản xuất và
kế hoạch giá thành sản phẩm. Hơn nữa, căn cứ vào công dụng kinh tế và địa
điểm phát sinh chi phí để xác định sự biến động từng khoản mục đối với giá
thành sản phẩm, nhằm mục tiêu hạ giá thành sản phẩm. Do đặc điểm của
ngành XDCB là tập hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình
nên phương pháp này được áp dụng phổ biến trong doanh nghiệp xây lắp.
o Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế
ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát
sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây
dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và
phân tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi
phí được chia thành các yếu tố:
• Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
chính, vật liệu, phục tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng trong
sản xuất kinh doanh.
• Chí phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất.
• Chi phí nhân công: tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải
trả cho công nhân viên chức.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
• Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
tiền lương và phụ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên.
• Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ
của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh.
• Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng
cho sản xuất kinh doanh.
• Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng
loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính
đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm
cơ sở để lập mức dự toán cho kỳ sau.
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về
lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên
quan tới khối lượng xây lắp đã hoàn thành.
Giá thành sản xuất sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa,
phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa
đã thực sự chi ra cho sản xuất. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm
phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất
và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao
động sống.
Chỉ tiêu giá thành nếu được xác định một cách chính xác, trung thực có
thể giúp cho các doanh nghiệp cũng như Nhà nước có cơ sở để xem xét, đánh
giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra những biện pháp,
đường lối thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá. Số tiền
thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầu
vào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn. Trong khi đó mục
đích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng tức là giá tiêu thụ
hàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn phải bảo đảm có lãi. Do đó, việc
quản lý, hạch toán công tác giá thành sao cho vừa hợp lý, chính xác vừa bảo
đảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thành sản phẩm có vai trò vô cùng
quan trọng.
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm. Tùy theo tiêu chí lựa
chọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợp sau:
o Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán,
giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
• Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở
thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do
Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi
công và phân tích định mức.
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản
phẩm xây lắp theo công thức:
Giá thành dự toán
sản phẩm xây lắp
=
Giá trị dự toán
sản phẩm xây lắp
- Lãi định mức
Trong đó
- Lãi định mức trong XDCB được Nhà nước quy định trong từng
thời kỳ
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
- Giá trị dự toán sản phẩm xây lắp được xác định dựa vào định
mức đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá
cả của thị trường.
• Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi
bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các
định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu này được
xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể,
năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Giá thành kế
hoạch sản
phẩm xây lắp
=
Giá thành dự
toán sản phẩm
xây lắp
-
Mức hạ giá thành
dự toán
+
Chênh lệch
định mức
Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp.
• Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định
mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy
nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các
định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế
hoạch, giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức
về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch
(thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi
phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong
quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
• Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau
khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực
tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Các phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,
xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ
đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
o Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá
thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.
• Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất. Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất
gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi
công, chi phí sản xuất chung.
• Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công
thức:
Giá thành
toàn bộ của
sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất của sản
phẩm
+
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
+
Chi phí
bán hàng
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên
cứu.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá
trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giốn nhau về chất vì đều là
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình sản xuất. Tuy vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
lại không giống nhau về lượng do phạm vi giới hạn xác định chi phí và giá
thành không trùng nhau. Chi phí sản xuất phản ánh phản ánh hao phí sản xuất
còn giá thành sản phẩm phản ánh kết quả sản xuất.
Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còn giá
thành sản phẩm lại gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn
thành.
Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ bao gồm chi phí sản để sản xuất
những sản phẩm hoàn thành mà còn bao gồm chi phí sản phẩm dở dang cuối
kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành lại không bao gồm chi phí sản xuất của
sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại bao gồm chi phí sản
xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang.
Chi phí sản xuất là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Sự tiết
kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc hạ hay tăng giá thành sản phẩm. Quản lý giá thành phải gắn liền với
quản lý chi phí sản xuất.
Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành:
Chi phí sản xuất dở dang đầu
kì
Chi phí sản xuất phát sinh trong kì
Tổng giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành
(được bàn giao, nhập kho…)
Chi phí sản xuất dở dang
cuối kì
Qua sơ đồ ta thấy:
Tổng giá
thành sản
phẩm xây lắp
=
Chi phí sản
xuất xây lắp dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
xây lắp phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản
xuất xây lắp dở
dang cuối kỳ
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
12
NỘI DUNG CHÍNH
PHẦN 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP ẢNH
HƯỞNG TỚI KẾ TOÁN CHI SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM XÂY LẮP
1.1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất
công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích luỹ cùng với vốn đầu tư
của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về
kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá
trình tạo ra sản phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Trong quá trình đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho
nền kinh tế quốc dân, các tổ chức xây lắp nhận thầu giữ vai trò quan trọng.
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại các tổ chức xây lắp như: Tổng công ty, công
ty , xí nghiệp, đội xây dựng… thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị
này khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức quản lý nhưng các đơn vị này
đều là những tổ chức nhận thầu xây lắp.
1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt khác với ngành sản xuất khác
và có ảnh hưởng đến tổ chức kế toán.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
3
Luận văn tốt nghiệp
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm
xây lắp lâu dài… Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản
phẩm xây lắp nhất thiết phải theo dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công)
quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo,
đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp
không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây
lắp có trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu…).
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
(xe máy, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt
sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản,
vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất
mát hư hỏng…
Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình
bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính
phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành
nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các
công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi
trường như nắng, mưa, lũ lụt… Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý,
giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế,
dự toán: các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình (chủ đầu tư giữ
lại một tỷ lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết thời hạn bảo hành công
trình mới trả lại cho đơn vị xây lắp).
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán
vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
4
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình
doanh nghiệp xây lắp.
1.1.3 Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý doanh
nghiệp xây lắp
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp phổ biến theo phương
thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công
việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp…). Trong giá
khoán gọn bao gồm đầy đủ các loại chi phí: chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ,
chi phí tiền lương, chi phí thi công và chi phí chung cho bộ phận khoán.
Địa bàn hoạt động kinh doanh rộng lớn, hoạt động mang tính lưu động.
Hiện nay, ngành XDCB áp dụng 3 hình thức chọn nhà thầu: đấu thầu rộng rãi,
đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu. Mỗi công trình được xây dựng và quản lý
bằng một thiết kế dự toán riêng.
Nhà trúng thầu tiến hành thi công các công trình, hạng mục công trình
theo thiết kế kỹ thuật, bàn giao đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng công
trình. Do đó, công tác kế toán phải ghi chép đầy đủ chi phí và giá thành sản
phẩm để cung cấp thông tin về số liệu chính xác phục vụ việc quản lý doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao.
1.2 SỰ CẨN THIẾT CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.2.1 Chi phí sản xuất xây lắp
1.2.1.1 Khái niệm
Chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống
và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá
thành của sản phẩm xây lắp.
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu
phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
phân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình
hay theo nơi phát sinh chi phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo
những tiêu chí khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được phân loại theo các
cách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán.
o Theo khoản mục tính giá thành, chi phí ở đơn vị xây lắp gồm:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVL TT): là chi phí của các vật
liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến
trúc… cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp.
• Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí tiền lương chính, lương phụ,
phụ cấp lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình.
Không bao gồm các khoản trích theo tiền lương kinh phí công đoàn
(KPCĐ), bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) của công
nhân trực tiếp xây lắp.
• Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí cho các máy thi công nhằm
thực hiện khối lượng công tác xây, lắp bằng máy. Chi phí sử dụng
máy thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công bao gồm: lương chính,
lương phụ của của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy…, chi phí vật
liệu, chi phí công cụ dụng cụ (CCDC), chi phí khấu hao tài sản cố định
(TSCĐ), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khá bằng tiền…
Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí sửa chữa lớn
máy thi công (đại tu, trung tu…), chi phí công trình tạm thời cho máy thi
công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy…). Chi phí tạm thời có thể phát sinh
trước (được hạch toán vào TK 142) sau đó được phân bổ dần vào bên Nợ TK
623. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí xây lắp trong kỳ
(do liên quan tới việc sử dụng thực tế máy thi công trong kỳ), trường hợp này
phải tiến hành trích trước chi phí, sử dụng TK 335 (ghi Nợ TK 623, Có TK
335).
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
• Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng gồm: lương của nhân viên quản lý đội xây dựng, các
khoản trích theo tiền lương theo tỷ lệ quy định (19%) của nhân viên
quản lý đội và công nhân trực tiếp tham gia xây lắp, chi phí khấu
hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí vật liệu, chi
phí CCDC và các chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt
động của đội…
Cách phân loại này phục vụ yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, lập định mức chi phí sản xuất và
kế hoạch giá thành sản phẩm. Hơn nữa, căn cứ vào công dụng kinh tế và địa
điểm phát sinh chi phí để xác định sự biến động từng khoản mục đối với giá
thành sản phẩm, nhằm mục tiêu hạ giá thành sản phẩm. Do đặc điểm của
ngành XDCB là tập hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình
nên phương pháp này được áp dụng phổ biến trong doanh nghiệp xây lắp.
o Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế
ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát
sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây
dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và
phân tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi
phí được chia thành các yếu tố:
• Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
chính, vật liệu, phục tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng trong
sản xuất kinh doanh.
• Chí phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất.
• Chi phí nhân công: tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải
trả cho công nhân viên chức.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
• Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
tiền lương và phụ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên.
• Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ
của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh.
• Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng
cho sản xuất kinh doanh.
• Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng
loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính
đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm
cơ sở để lập mức dự toán cho kỳ sau.
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về
lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên
quan tới khối lượng xây lắp đã hoàn thành.
Giá thành sản xuất sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa,
phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa
đã thực sự chi ra cho sản xuất. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm
phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất
và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao
động sống.
Chỉ tiêu giá thành nếu được xác định một cách chính xác, trung thực có
thể giúp cho các doanh nghiệp cũng như Nhà nước có cơ sở để xem xét, đánh
giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra những biện pháp,
đường lối thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá. Số tiền
thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầu
vào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn. Trong khi đó mục
đích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng tức là giá tiêu thụ
hàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn phải bảo đảm có lãi. Do đó, việc
quản lý, hạch toán công tác giá thành sao cho vừa hợp lý, chính xác vừa bảo
đảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thành sản phẩm có vai trò vô cùng
quan trọng.
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm. Tùy theo tiêu chí lựa
chọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợp sau:
o Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán,
giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
• Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở
thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do
Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi
công và phân tích định mức.
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản
phẩm xây lắp theo công thức:
Giá thành dự toán
sản phẩm xây lắp
=
Giá trị dự toán
sản phẩm xây lắp
- Lãi định mức
Trong đó
- Lãi định mức trong XDCB được Nhà nước quy định trong từng
thời kỳ
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
- Giá trị dự toán sản phẩm xây lắp được xác định dựa vào định
mức đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá
cả của thị trường.
• Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi
bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các
định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu này được
xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể,
năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Giá thành kế
hoạch sản
phẩm xây lắp
=
Giá thành dự
toán sản phẩm
xây lắp
-
Mức hạ giá thành
dự toán
+
Chênh lệch
định mức
Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp.
• Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định
mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy
nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các
định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế
hoạch, giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức
về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch
(thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi
phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong
quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
• Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau
khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực
tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Các phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,
xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ
đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
o Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá
thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.
• Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất. Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất
gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi
công, chi phí sản xuất chung.
• Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công
thức:
Giá thành
toàn bộ của
sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất của sản
phẩm
+
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
+
Chi phí
bán hàng
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên
cứu.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá
trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giốn nhau về chất vì đều là
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình sản xuất. Tuy vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
lại không giống nhau về lượng do phạm vi giới hạn xác định chi phí và giá
thành không trùng nhau. Chi phí sản xuất phản ánh phản ánh hao phí sản xuất
còn giá thành sản phẩm phản ánh kết quả sản xuất.
Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còn giá
thành sản phẩm lại gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn
thành.
Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ bao gồm chi phí sản để sản xuất
những sản phẩm hoàn thành mà còn bao gồm chi phí sản phẩm dở dang cuối
kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành lại không bao gồm chi phí sản xuất của
sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại bao gồm chi phí sản
xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang.
Chi phí sản xuất là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Sự tiết
kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc hạ hay tăng giá thành sản phẩm. Quản lý giá thành phải gắn liền với
quản lý chi phí sản xuất.
Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành:
Chi phí sản xuất dở dang đầu
kì
Chi phí sản xuất phát sinh trong kì
Tổng giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành
(được bàn giao, nhập kho…)
Chi phí sản xuất dở dang
cuối kì
Qua sơ đồ ta thấy:
Tổng giá
thành sản
phẩm xây lắp
=
Chi phí sản
xuất xây lắp dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
xây lắp phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản
xuất xây lắp dở
dang cuối kỳ
Cao Thu Hà Lớp Kế toán tổng hợp 46B
12
Môi trường du lịch tại chùa Hương - thực trạng và giải pháp
Đề án môn học
trăm nghìn khách du lịch đến hàng năm, lợng rác thải tỉ lệ thuận với số khách
đó. Mặt khác lợng khách đông tạo ra nguy cơ quá tải cho điểm du lịch và gây
tổn hại đến tài nguyên du lịch tại đây.
Ngoài các nhân tố trên, còn kể đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch.
Cũng nh các quy định, quy chế nơi đây. Chính điều đó vô hình chung đã tạo ra
sự nơi lỏng trong công tác quản lý mọi mặt và gây tác động xấu đến môi trờng.
1.1.2.2. Hậu quả từ những tác động đó
Về trớc mắt, ô nhiễm môi trờng và sự suy giảm giá trị tài nguyên là điều
khó tránh khỏi. Mặt khác sự ô nhiễm không khí, nguồn nớc tại điểm du lịch
chùa Hơng có thể ảnh hởng đến các vùng lân cận và do đó sức khoẻ của khách
du lịch, của ngời dân cũng bị ảnh hởng gây ra nguy cơ làm giảm chất lợng cuộc
sống.
Nếu xét về lâu dài, nếu sự ô nhiễm đó không đợc cải tạo và hạn chế đến
mức tối thiểu thì tại các điểm du lịch ở nớc ta nói chung, điểm du lịch chùa H-
ơng nói riêng lợng khách du lịch có nguy cơ xu hớng ít tham quan hơn đồng
thời các điểm du lịch này sẽ không thể tiếp tục khai thác đợc nữa.
1.1.3. Lợi ích của vấn đề bảo vệ môi trờng tại các điểm du lichk
Nhìn chung việc bảo vệ môi trờng tại bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt động
tích cực và có lợi. Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việc bảo vệ
môi trờng mang lại những lợi ích sau:
1.1.3.1. Lợi ích cho toàn xã hội
Xét một cách toàn diện, xã hội sẽ giảm bớt các chi phí phục vụ cho việc
cải tạo môi trờng. Mặt khác những chi phí có liên quan do môi trờng ô nhiễm
tác động đến cũng đợc giảm bớt. Đồng thời chất lợng cuộc sống và môi trờng
của toàn xã hội đợc nâng cao.
1.1.3.2. Lợi ích cho khách du lịch
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
5
Đề án môn học
Trớc hết khách du lịch sẽ đợc tham quan trong bầu không khí trong lành
và rất có lợi cho sức khoẻ.
Thứ hai, khách du lịch có cơ hội chiêm ngỡng những tài nguyên du lịch
nguyên sơ, mang đậm chất cổ kính và dấu ấn của thời gian.
Thứ ba, nếu lợng ô nhiễm lớn và chi phí cho việc cải tạo sự ô nhiễm đó
lớn thì khách du lịch sẽ phải chịu một phần chi phí thông qua giá vé cũng nh
các dịch vụ khác. Do đó khách du lịch có thể sẽ giảm bớt đợc chi phí của mình
nếu môi trờng tại điểm du lịch đợc bảo vệ tốt.
1.1.3.3. Lợi ích cho dân c và chính quyền sở tại
Thứ nhất, chính quyền sở tại sẽ giảm bớt chi phí cũng nh nguồn nhân lực
cho vấn đề bảo vệ môi trờng tại địa bàn.
Thứ hai, các khâu quản lý sẽ đơn giản cũng nh có thể khai thác tối đa tài
nguyên du lịch tại vùng phục vụ cho khách du lịch.
Thứ ba, nếu vấn đề môi trờng đợc bảo vệ tốt, lợng khách du lịch sẽ đông
và kéo theo có nhiều công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho dân c.
Thứ t, trong tơng lai sẽ có nhiều dự án đầu t cho sự phát triển du lịch tại
địa bàn nhằm mục đích thu hút càng nhiều du khách. Nếu các dự án đó hợp lý
và mang tính khả thi, đó sẽ là nguồn lợi lớn không chỉ cho quốc gia mà cho cả
chính quyền và dân c sở tại.
1.1.3.4. Lợi ích cho các nhà cung ứng
Trong mối quan hệ giữa khách du lịch - Nhà cung ứng - điểm du lịch, các
nhà cung ứng luôn là trung gian cung cấp nhiều dịch vụ đến khách. Do đó du
lịch càng phát triển sẽ càng có lợi cho các nhà cung ứng, đồng thời tăng ngân
sách quốc gia.
1.1.3.5. Lợi ích trong viêc giữ gìn các tài nguyên du lịch và giữ gìn các
di sản văn hoá cho các thế hệ sau. Đó cũng chính là nội dung trong chiến lợc
phát triển bền vững mà các cấp, các ban ngành đang nỗ lực thực hiện.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
6
Đề án môn học
1.2. Lợi thế trong vấn đề bảo vệ môi trờng tại điểm du lịch Chùa H-
ơng
1.2.1. Lợi thế về sự quan tâm của các cấp lãnh đạo TW và địa phơng.
Vì đây chính là một danh thắng cần đợc giữ gìn và tôn tạo, vì vậy sở
khoa học công nghệ và môi trờng Hà Tây trong những tháng cuối năm 2002 đã
có những cuộc khảo sát và nghiên cứu thực tế trớc sự hỗ trợ của Sở và Tổng cục
du lịch. Bớc đầu đã có một số kết luận sơ bộ và có dự án cải tạo môi trờng tại
đây trong giai đoạn 2006-2010.
1.2.2. Nguồn kinh phí lớn thu đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần
thúc đẩy đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần thúc đẩy các dự án bảo vệ
môi trờng tại nơi đây. Theo báo Hà Tây số ra ngày 18-5-2003, sau khi kết thúc
đợt lễ hội xuân 2003, nguồn thu từ việc bán vé thu đợc trên 10 tỉ đồng. Nếu làm
một phép tính đơn giản so với năm 2004 vừa qua có thể thấy con số này sẽ lớn
hơn vì số lợng khách đổ về đây trong dịp lễ hội xuân 2004 lớn hơn 2003.
1.2.3. Lợi thế về nguồn lao động tại chỗ
Xã Hơng Sơn - địa bàn có chùa Hơng, có lợng lao động lớn d thừa sau
mỗi vụ lễ hội. Vì vậy nếu những dự án bảo vệ môi trờng thực thi có thể sẽ giải
quyết phần nào công ăn việc làm của dân c sau mỗi vụ lễ hội, tránh đợc cảnh:
"ngời dân Hơng Sơn làm 3 tháng ăn cả năm" (Báo Hà Tây tháng 9-2002) trong
một thời gian ngắn.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
7
Đề án môn học
Chơng 2
Thực trạng môi trờng tại địa điểm du lịch
chùa Hơng
2.1. Sự xuống cấp của các tài nguyên du lịch
2.1.1. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1. Lợng khách du lịch hàng năm đổ về chùa Hơng rất đông.
Tuy nhiên mạng lới vận chuyển khách còn ít và sơ sài đã gây nên tình
trạng tắc nghẽn đôi lúc tại các hang động, tại các chùa. Điều đó vô hình chung
cộng với ý thức bảo vệ các di sản, các tài nguyên du lịch của du khách còn kém
đã gây ra những tác động tiêu cực làm h hại nhiều đến các hang động, tợng đá,
nhũ đá, chùa chiền
Trích dẫn lời tác giả Đoàn Xuân Hoà trên báo giáo dục thời đại có đoạn:
"Với lợng khách đổ về Hơng Sơn hàng năm ngày càng tăng, nếu mỗi ngời cứ tự
ý mình có những hành động gây tổn hại đến cảnh quan nơi đây, thì vài chục
năm nữa những thế hệ sau khi đến đây chỉ đợc chiêm ngỡng những công trình
do con ngời xây dựng".
2.1.1.2. Chính quyền và dân c sở tại có sự khai thác quá mức gây ra sự
xuống cấp của tài nguyên du lịch nơi đây
Trớc đây các cấp, ban ngành có liên quan đến du lịch đều cho rằng, lợng
khách du lịch đến các điểm du lịch càng nhiều sẽ là một dấu hiệu tốt chứng tỏ
điểm du lịch đó đang thu hút khách du lịch. Điều đó xét trên một khía cạnh nào
đó là rất đúng. Tuy nhiên họ đâu biết tằng nếu cứ tiếp tục để tình trạng đó xảy
ra thì trong tơng lai có thể sẽ không còn khả năng khai thác đợc tại điểm du lịch
đó nữa, bởi vì mỗi điểm du lịch chỉ có một sức chứa nhất định và lợng khách du
lịch tại một thời điểm nào đó phải luôn nhỏ hơn hoặc bằng sức chứa đó.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
8
Đề án môn học
Hiện nay chính quyền xã Hơng Sơn và Sở du lịch Hà Tây vẫn cha nhận
thức đúng đắn về nguyên tác đó. Vì vậy tình trạng quá tải về khách du lịch diễn
ra hàng ngày tạiđây (nhất là những ngày nghỉ) mỗi dịp lễ hội.
2.1.3. Nghịch lý giữa thu và chi: "Nhiều công trình, điểm du lịch h hỏng,
xuống cấp nhng cha đợc tồn tại".
Với nguồn thu hàng năm cộng với sự hỗ trợ của nhà nớc và tổng cục du
lịch là những nguồn kinh phí lớn cho việc thực hiện các dự án trùng tu và cải tạo
tại đây. Tuy nhiên, tiền "rót" xuống thì nhiều nhng việc sử dụng lại cha có hiệu
quả hoặc không hiệu quả. Vì vậy cần có biện pháp quan tâm hơn nữa đến việc
sử dụng các nguồn kinh phí trong việc thực thi các dự án trùng tu tại đây.
2.1.4. Phải chăng các ban ngành chức năng làm ngơ hoặc bất lực trớc
những hành vi phá hoại của ngời dân nơi đây?
Cứ sau mỗi mùa lễ hội, ngời dân nơi đây cho nổ mìn lấy đá (có tổ chức)
là một việc làm phổ biến. Tuy nhiên họ không có ý thức đợc hiểm hoạ mà họ
gây ra trớc mắt và lâu dài. Mặt khác chính quyền nơi đây dờng nhu làm ngơ tr-
ớc những việc làm đó và cứ để nó diễn ra thờng xuyên. Thiết nghĩ các ban
ngành chức năng cần có những biện pháp tích cực hơn để ngăn ngừa và chấm
dứt những hành vi gây hại trên.
2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Nhìn chung, các tài nguyên du lịch nhân văn tại chùa hơng mang đậm
những nét kiến trúc độc đáo của ngời xa. Tuy nhiên cùng với thời gian và khí
hậu bất ổn của nớc ta, hầu hết các công trình kiến trúc này đều đã qua tu sửa.
Nhng những năm gần đây, lợng khách du lịch về đây rất đông, đôi lúc quá tải
đã dẫn đến hiện tợng nhiều công trình bị xuống cấp nghiêm trọng. Vì vậy các
ban ngành liên quan cần có biện pháp và dự án trùng tu kịp thời, nhng không
làm mất đi vẻ vốn có của nó. Điều đó không chỉ giữ nguyên giá trị cho tài
nguyên đó, đồng thời sẽ giúp cho khách du lịch có cảm giác an toàn khi thăm
quan tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
9
Đề án môn học
Cũng nh tài nguyên du lịch tự nhiên, các tài nguyên du lịch nhân văn
cũng cha đợc quan tâm đúng mức (ở đây nói về khía cạnh trùng tu, tôn tạo). Do
đó trong tơng lai gần cần quan tâm đúng mức để các tài nguyên du lịch nơi đây
phát huy nguyên những giá trị, phục vụ cho việc thăm quan của du khách.
2.2. Việc xây dựng các đền chùa trái phép có phải là minh chứng cho
thấy giá trị các tài nguyên du lịch đã suy giảm?
Theo thống kê đầy đủ của sở du lịch Hà Tây, từ năm 1998 đến đầu năm
2003 trên tổng thể khu thắng cảnh Hơng Sơn có gần 100 đền chùa lớn nhỏ đợc
xây dựng và chủ yếu do t nhân tự bỏ tiền xây dựng với mục đích chính là kinh
doanh kiếm lời. Khi đợc phỏng vấn và trả lời về thực trạng trên, chủ tịch UBND
xã Hơng Sơn cho biết: "Trong quy hoạch phát triển của xã đã trình lên huyện và
tỉnh, có xin phép cho xây dựng một số ngôi đền, chùa mới nhằm mục đích phục
vụ cho nhu cầu cúng lễ ngày càng tăng của dân ta. Tuy nhiên nhiều hộ trong xã
đã tự ý bỏ tiền xây dựng những ngôi đền nhỏ với mục đích kiếm lời đang là một
thực trạng nhức nhối khó kiểm soát. Trong thời gian tới, đợc sự trợ giúp của
huyện, xã sẽ tổ chức kiểm tra những nơi làm ăn vi phạm và sẽ đóng cửa các nơi
đó".
Nh vậy có thể thấy việc xây dựng tự ý của ngời dân nơi đây không theo
một quy hoạch tổng thể gây nên sự lộn xộn khi thăm quan các di tích và tài
nguyên. Mặt khác việc xây dựng đó kéo theo hàng loạt các vấn đề nảy sinh làm
ảnh hởng đến cảnh quan môi trờng nơi đây và việc giải quyết các vấn đề đó là
bài học lớn trong khâu quản lý xây dựng cho các ban ngành tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
10
Đề án môn học
2.3. Sự xuống cấp của môi trờng
2.3.1. Sự ô nhiễm nguồn nớc
2.3.1.1. Biểu hiện
Nếu du khách một lần đến thăm chùa hơng và du thuyền trên bến Đục, có
thể thấy những "vật thể lạ" nổi lềnh bềnh trên sông. Đó có thể là: túi nilon, chai
nớc, đồ ăn và có cảm giác bất an nếu muốn dùng n ớc trên sông.
Hàng năm sau mỗi vụ lễ hội, chính quyền nơi đây không có biện pháp xử
lý các chất thải "nổi đó". Vì vậy qua từng năm, lợng rác thải đó ngày càng
nhiều và một số lợng lớn bị chìm xuống lòng bến Đục và thực sự bến Đục giờ
đây đã đục thật.
Mặt khác, theo số liệu thống kê của Sở Khoa học công nghệ - môi trờng
Hà Tây, số lợng sinh vật tại các dòng sông, dòng suối nằm trong phạm vi xã H-
ơng Sơn đã giảm từ 85 loài (năm 1996) xuống 4 loài (năm 2002). Cũng theo
cuộc khảo sát đó cho thấy nồng độ các chất thải trong nớc đến thời điểm đó cha
vợt quá tiêu chuẩn cho phép nhng cũng không thể dùng cho các sinh hoạt hàng
ngày của ngời dân và nếu cứ tiếp tục để tình trạng ô nhiêm đó kéo dài, trong
một tơng lai không xa nguồn nớc ở nơi đây sẽ không còn giá trị sử dụng nữa.
2.3.1.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, có thể thấy rõ những chất thải đó phần lớn do khách du lịch
hoặc là cố tình hoặc là vô ý hoặc do cha có sự bố trí hợp lý các thùng bỏ rác nên
dẫn đến việc vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm nguồn nớc.
Thứ hai, do các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt phục vụ nhu cầu khách du lịch
rất lớn, lợng phế thải từ quá trình phục vụ đó không đợc xử lý đúng nơi, đúng
chỗ và cũng do sự nhận thức của ngời dân còn kém cho nên đó cũng là nhân tố
gây ô nhiễm nguồn nớc nơi đây.
Thứ ba, lu lợng thuyền bè đi lại phục vụ du khách rất lớn và do đặc điểm
địa hình sông nớc nên việc quản lý là rất khó khăn. Việc mang rác thải đúng nơi
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
11
Đề án môn học
quy định chỉ còn phụ thuộc vào ý thức và nhận thức của du khách.
Thứ t, quá trình xây dựng các công trình, các hạng mục. Việc tôn tạo các
di tích cũng là nguyên nhân gây lên tình trạng ô nhiễm tại đây. Do đó để khắc
phục những tình trạng trên đòi hỏi cần có thời gian và giải pháp thích hợp.
2.3.1.3. Hậu quả
Nếu nói về hậu quả về lâu dài do sự ô nhiễm nguồn nớc gây ra thì khó có
thể lờng hết đợc. Tuy nhiên có thể dễ dàng thấy đợc hậu quả trớc mắt do tác
động của ô nhiễm đó gây ra là rất lớn.
Trớc hết gây nguy hại và ảnh hởng đến chất lợng của cuộc sống ngời dân
nơi đây. Không phải tất cả mọi ngời dân trong xã đều sống dựa vào 3 tháng lễ
hội mà nghề chính của họ vẫn là sản xuất nông nghiệp, nếu tình trạng ô nhiễm
đó ngày một trầm trọng sẽ dẫn đến nguồn nớc sử dụng cho việc tới tiêu, sinh
hoạt bị ảnh hởng. Điều đó là không hợp lý bởi nh vậy chính là vì cái lợi nhỏ mà
quên đi cái lợi lớn.
Thứ hai, với sự phát triển của khoa học công nghệ trong tơng lai, nếu tình
trạng đó không đợc khắc phục thì hiện chăng chùa Hơng có còn là điểm thu hút
khách du lịch nữa hay không.
Thứ ba, hiện trạng ô nhiễm hiện nay còn cha đến mức quá nghiêm trọng.
Nếu không giải quyết kịp thời, trong tơng lai nguồn kinh phí phục vụ cho quá
trình cải tạo có thể lớn gấp nhiều lần mà vẫn không mang lại hiệu quả nh mong
muốn.
2.3.2. Sự ô nhiễm không khí.
2.3.2.1. Thực trạng.
Theo thống kê và khảo sát vào tháng 4 năm 2004 của sở y tế Hà Tây, tỷ
lệ ngời làm việc thời gian dài trong mùa lễ hội tại chùa Hơng có nguy cơ mắc
các bệnh về hô hấp cao gấp 3 lần so với những ngời khác . Mặt khác cũng theo
cuộc khảo sát này cho thấy nồng độ không khí nơi đây trong những ngày cao
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
12
Đề án môn học
điểm của lễ hội cao gần đến tiêu chuẩn cho phép. Thực tế này phản ánh rằng
không khí nơi đây đã có dần hiện suy giảm và nguy cơ đó ngàycàng tăng.
Mặt khác, theo những nhận định của nhiều du kháh có dịp thăm quan vài
lần tại đây, nguồn không khí mỗi năm ngày càng xấu và không còn trong lành
nh trớc nữa. Điều đó cho phép khẳng định rằng chất lợng môi trờng tại đây đã
có dấu hiệu suy giảm bị tổn hại và không đợc trú trọng đúng mực.
2.3.2.2. Nguyên nhân và hậu quả.
Thực tế cho thấy, quá trình xử lý rác thải là một vấn đề vô cùng quan
trọng trong khâu giải quyết vấn đề ô nhiễm tại đây. Chính do sự phân bố rộng
và địa hình phức tạp nên lợng rác thải sau mỗi mùa lễ hội để xử l ý đợc là một
vấn đề rất khó khăn. Nếu trong những dịp chính hội, việc quản lý môi trờng rất
khó khăn cộng với nhiều chính sách về môi trờng tại đây cha phát huy hiệu quả
dẫn đến tình trạng không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng thì mặt khác số lợng rác
thải đi lại không đợc xử lý dứt điểm vả cứ lớn dần mỗi năm và điều tất yếu
nguồn không khí bị ảnh hởng và suy thoái nghyiêm trọng.
Về hậu quả, sự ô nhiễm không khi nơi đây không tác động trên diện rộng
nh ô nhiễm nguồn nớc. Nhng có thể thấy rõ nhấtm sự ô nhiễm đó tác động lớn
đến sức khoẻ con ngời, về lâu dài sẽ giảm lợng du khách, xã hội phải mất nguồn
chi phí lớn để giải quyết hậu quả do sự tác động của quá trình ô nhiễm đó đồng
thời ảnh hởng đến tiềm năng du lịch và tài nguyên du lịch nơi đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
13
Đề án môn học
2.4. Thực trạng hoạt động bảo vệ môi trờng của chính quyền và nhân
dân sở tại.
2.4.1. Hoạt động tuyên truyền giáo dục.
Đây là một hoạt động quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi
trờng của ngời dân và du khách. Tuy nhiên nhìn chung chính quyền nơi đây cha
thấy đợc tác dụng to lớn của hoạt động đó vì thực tế cho thấy rằng chỉ k khi
mùa lễ hội chính thức bắt đầu công tác tuyên truyền, giáo dục nói chung và về
môi trờng nói riêng mới bắt đầu hoạt động nhng lại mang tính chất không thờng
xuyên và trong phạm vi hẹp. Chính vì vậy trong thời gian tới để hoạt động tuyên
truyền giáo dục thực sự phát huy tác dụng cũng nh nâng cao chất lợng của công
tác tuyên truyền, chính quyền sở tại cần nỗ lực hơn nữa trong việc đổi mới cả
nội dung lẫn hình thức trong hoạt động này.
2.4.2. Việc sử dụng ngân sách trong hoạt động bảo vệ môi trờng.
Hàng năm với hàng tỷ đồng hỗ trợ từ các tổ chức du lịch trong nớc cộng
với số tiền thu đợc từ việc bàn về thăm quan, tiền bến bãi là nguồn thu rất lớn
để có thể thực thi các dự án nhằm xây dựng việc bảo vệ môi trờng bền vững.
Nhng dờng nh kinh phí phục vụ cho các hoạt động này còn ít hoặc là việc sử
dụng còn cha đúng mục đích và cha phát huy hiệu quả cao. Do đó nắm bắt thực
trạng trên các ban ngành chức năng cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong
việc giúp cơ quan địa phơng sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý tránh lãng
phí và phát huy đợc hiệu quả cao nhất đúng nh mong muốn.
2.4.3. Công tác kiểm tra, giám sát diễn biến sự thay đổi của môi trờng
còn lỏng lẻo.
Nh trên đã nói, việc sử dụng không hợp lý trong việc chi cho các dự án,
các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trờng. Vì vậy nguồn nhân lực
có chuyên môn về vấn đề này còn rất ít và thiếu kinh nghiệm, cộng với địa hình
rộng và phức tạp làm cho việc kiểm tra, giám sát thờng xuyên gặp rất nhiều khó
khăn. Trong năm 2004 đội ngũ này tuy có đợc tăng cờng nhng thực sự vẫn cha
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
14
trăm nghìn khách du lịch đến hàng năm, lợng rác thải tỉ lệ thuận với số khách
đó. Mặt khác lợng khách đông tạo ra nguy cơ quá tải cho điểm du lịch và gây
tổn hại đến tài nguyên du lịch tại đây.
Ngoài các nhân tố trên, còn kể đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch.
Cũng nh các quy định, quy chế nơi đây. Chính điều đó vô hình chung đã tạo ra
sự nơi lỏng trong công tác quản lý mọi mặt và gây tác động xấu đến môi trờng.
1.1.2.2. Hậu quả từ những tác động đó
Về trớc mắt, ô nhiễm môi trờng và sự suy giảm giá trị tài nguyên là điều
khó tránh khỏi. Mặt khác sự ô nhiễm không khí, nguồn nớc tại điểm du lịch
chùa Hơng có thể ảnh hởng đến các vùng lân cận và do đó sức khoẻ của khách
du lịch, của ngời dân cũng bị ảnh hởng gây ra nguy cơ làm giảm chất lợng cuộc
sống.
Nếu xét về lâu dài, nếu sự ô nhiễm đó không đợc cải tạo và hạn chế đến
mức tối thiểu thì tại các điểm du lịch ở nớc ta nói chung, điểm du lịch chùa H-
ơng nói riêng lợng khách du lịch có nguy cơ xu hớng ít tham quan hơn đồng
thời các điểm du lịch này sẽ không thể tiếp tục khai thác đợc nữa.
1.1.3. Lợi ích của vấn đề bảo vệ môi trờng tại các điểm du lichk
Nhìn chung việc bảo vệ môi trờng tại bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt động
tích cực và có lợi. Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việc bảo vệ
môi trờng mang lại những lợi ích sau:
1.1.3.1. Lợi ích cho toàn xã hội
Xét một cách toàn diện, xã hội sẽ giảm bớt các chi phí phục vụ cho việc
cải tạo môi trờng. Mặt khác những chi phí có liên quan do môi trờng ô nhiễm
tác động đến cũng đợc giảm bớt. Đồng thời chất lợng cuộc sống và môi trờng
của toàn xã hội đợc nâng cao.
1.1.3.2. Lợi ích cho khách du lịch
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
5
Đề án môn học
Trớc hết khách du lịch sẽ đợc tham quan trong bầu không khí trong lành
và rất có lợi cho sức khoẻ.
Thứ hai, khách du lịch có cơ hội chiêm ngỡng những tài nguyên du lịch
nguyên sơ, mang đậm chất cổ kính và dấu ấn của thời gian.
Thứ ba, nếu lợng ô nhiễm lớn và chi phí cho việc cải tạo sự ô nhiễm đó
lớn thì khách du lịch sẽ phải chịu một phần chi phí thông qua giá vé cũng nh
các dịch vụ khác. Do đó khách du lịch có thể sẽ giảm bớt đợc chi phí của mình
nếu môi trờng tại điểm du lịch đợc bảo vệ tốt.
1.1.3.3. Lợi ích cho dân c và chính quyền sở tại
Thứ nhất, chính quyền sở tại sẽ giảm bớt chi phí cũng nh nguồn nhân lực
cho vấn đề bảo vệ môi trờng tại địa bàn.
Thứ hai, các khâu quản lý sẽ đơn giản cũng nh có thể khai thác tối đa tài
nguyên du lịch tại vùng phục vụ cho khách du lịch.
Thứ ba, nếu vấn đề môi trờng đợc bảo vệ tốt, lợng khách du lịch sẽ đông
và kéo theo có nhiều công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho dân c.
Thứ t, trong tơng lai sẽ có nhiều dự án đầu t cho sự phát triển du lịch tại
địa bàn nhằm mục đích thu hút càng nhiều du khách. Nếu các dự án đó hợp lý
và mang tính khả thi, đó sẽ là nguồn lợi lớn không chỉ cho quốc gia mà cho cả
chính quyền và dân c sở tại.
1.1.3.4. Lợi ích cho các nhà cung ứng
Trong mối quan hệ giữa khách du lịch - Nhà cung ứng - điểm du lịch, các
nhà cung ứng luôn là trung gian cung cấp nhiều dịch vụ đến khách. Do đó du
lịch càng phát triển sẽ càng có lợi cho các nhà cung ứng, đồng thời tăng ngân
sách quốc gia.
1.1.3.5. Lợi ích trong viêc giữ gìn các tài nguyên du lịch và giữ gìn các
di sản văn hoá cho các thế hệ sau. Đó cũng chính là nội dung trong chiến lợc
phát triển bền vững mà các cấp, các ban ngành đang nỗ lực thực hiện.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
6
Đề án môn học
1.2. Lợi thế trong vấn đề bảo vệ môi trờng tại điểm du lịch Chùa H-
ơng
1.2.1. Lợi thế về sự quan tâm của các cấp lãnh đạo TW và địa phơng.
Vì đây chính là một danh thắng cần đợc giữ gìn và tôn tạo, vì vậy sở
khoa học công nghệ và môi trờng Hà Tây trong những tháng cuối năm 2002 đã
có những cuộc khảo sát và nghiên cứu thực tế trớc sự hỗ trợ của Sở và Tổng cục
du lịch. Bớc đầu đã có một số kết luận sơ bộ và có dự án cải tạo môi trờng tại
đây trong giai đoạn 2006-2010.
1.2.2. Nguồn kinh phí lớn thu đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần
thúc đẩy đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần thúc đẩy các dự án bảo vệ
môi trờng tại nơi đây. Theo báo Hà Tây số ra ngày 18-5-2003, sau khi kết thúc
đợt lễ hội xuân 2003, nguồn thu từ việc bán vé thu đợc trên 10 tỉ đồng. Nếu làm
một phép tính đơn giản so với năm 2004 vừa qua có thể thấy con số này sẽ lớn
hơn vì số lợng khách đổ về đây trong dịp lễ hội xuân 2004 lớn hơn 2003.
1.2.3. Lợi thế về nguồn lao động tại chỗ
Xã Hơng Sơn - địa bàn có chùa Hơng, có lợng lao động lớn d thừa sau
mỗi vụ lễ hội. Vì vậy nếu những dự án bảo vệ môi trờng thực thi có thể sẽ giải
quyết phần nào công ăn việc làm của dân c sau mỗi vụ lễ hội, tránh đợc cảnh:
"ngời dân Hơng Sơn làm 3 tháng ăn cả năm" (Báo Hà Tây tháng 9-2002) trong
một thời gian ngắn.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
7
Đề án môn học
Chơng 2
Thực trạng môi trờng tại địa điểm du lịch
chùa Hơng
2.1. Sự xuống cấp của các tài nguyên du lịch
2.1.1. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1. Lợng khách du lịch hàng năm đổ về chùa Hơng rất đông.
Tuy nhiên mạng lới vận chuyển khách còn ít và sơ sài đã gây nên tình
trạng tắc nghẽn đôi lúc tại các hang động, tại các chùa. Điều đó vô hình chung
cộng với ý thức bảo vệ các di sản, các tài nguyên du lịch của du khách còn kém
đã gây ra những tác động tiêu cực làm h hại nhiều đến các hang động, tợng đá,
nhũ đá, chùa chiền
Trích dẫn lời tác giả Đoàn Xuân Hoà trên báo giáo dục thời đại có đoạn:
"Với lợng khách đổ về Hơng Sơn hàng năm ngày càng tăng, nếu mỗi ngời cứ tự
ý mình có những hành động gây tổn hại đến cảnh quan nơi đây, thì vài chục
năm nữa những thế hệ sau khi đến đây chỉ đợc chiêm ngỡng những công trình
do con ngời xây dựng".
2.1.1.2. Chính quyền và dân c sở tại có sự khai thác quá mức gây ra sự
xuống cấp của tài nguyên du lịch nơi đây
Trớc đây các cấp, ban ngành có liên quan đến du lịch đều cho rằng, lợng
khách du lịch đến các điểm du lịch càng nhiều sẽ là một dấu hiệu tốt chứng tỏ
điểm du lịch đó đang thu hút khách du lịch. Điều đó xét trên một khía cạnh nào
đó là rất đúng. Tuy nhiên họ đâu biết tằng nếu cứ tiếp tục để tình trạng đó xảy
ra thì trong tơng lai có thể sẽ không còn khả năng khai thác đợc tại điểm du lịch
đó nữa, bởi vì mỗi điểm du lịch chỉ có một sức chứa nhất định và lợng khách du
lịch tại một thời điểm nào đó phải luôn nhỏ hơn hoặc bằng sức chứa đó.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
8
Đề án môn học
Hiện nay chính quyền xã Hơng Sơn và Sở du lịch Hà Tây vẫn cha nhận
thức đúng đắn về nguyên tác đó. Vì vậy tình trạng quá tải về khách du lịch diễn
ra hàng ngày tạiđây (nhất là những ngày nghỉ) mỗi dịp lễ hội.
2.1.3. Nghịch lý giữa thu và chi: "Nhiều công trình, điểm du lịch h hỏng,
xuống cấp nhng cha đợc tồn tại".
Với nguồn thu hàng năm cộng với sự hỗ trợ của nhà nớc và tổng cục du
lịch là những nguồn kinh phí lớn cho việc thực hiện các dự án trùng tu và cải tạo
tại đây. Tuy nhiên, tiền "rót" xuống thì nhiều nhng việc sử dụng lại cha có hiệu
quả hoặc không hiệu quả. Vì vậy cần có biện pháp quan tâm hơn nữa đến việc
sử dụng các nguồn kinh phí trong việc thực thi các dự án trùng tu tại đây.
2.1.4. Phải chăng các ban ngành chức năng làm ngơ hoặc bất lực trớc
những hành vi phá hoại của ngời dân nơi đây?
Cứ sau mỗi mùa lễ hội, ngời dân nơi đây cho nổ mìn lấy đá (có tổ chức)
là một việc làm phổ biến. Tuy nhiên họ không có ý thức đợc hiểm hoạ mà họ
gây ra trớc mắt và lâu dài. Mặt khác chính quyền nơi đây dờng nhu làm ngơ tr-
ớc những việc làm đó và cứ để nó diễn ra thờng xuyên. Thiết nghĩ các ban
ngành chức năng cần có những biện pháp tích cực hơn để ngăn ngừa và chấm
dứt những hành vi gây hại trên.
2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Nhìn chung, các tài nguyên du lịch nhân văn tại chùa hơng mang đậm
những nét kiến trúc độc đáo của ngời xa. Tuy nhiên cùng với thời gian và khí
hậu bất ổn của nớc ta, hầu hết các công trình kiến trúc này đều đã qua tu sửa.
Nhng những năm gần đây, lợng khách du lịch về đây rất đông, đôi lúc quá tải
đã dẫn đến hiện tợng nhiều công trình bị xuống cấp nghiêm trọng. Vì vậy các
ban ngành liên quan cần có biện pháp và dự án trùng tu kịp thời, nhng không
làm mất đi vẻ vốn có của nó. Điều đó không chỉ giữ nguyên giá trị cho tài
nguyên đó, đồng thời sẽ giúp cho khách du lịch có cảm giác an toàn khi thăm
quan tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
9
Đề án môn học
Cũng nh tài nguyên du lịch tự nhiên, các tài nguyên du lịch nhân văn
cũng cha đợc quan tâm đúng mức (ở đây nói về khía cạnh trùng tu, tôn tạo). Do
đó trong tơng lai gần cần quan tâm đúng mức để các tài nguyên du lịch nơi đây
phát huy nguyên những giá trị, phục vụ cho việc thăm quan của du khách.
2.2. Việc xây dựng các đền chùa trái phép có phải là minh chứng cho
thấy giá trị các tài nguyên du lịch đã suy giảm?
Theo thống kê đầy đủ của sở du lịch Hà Tây, từ năm 1998 đến đầu năm
2003 trên tổng thể khu thắng cảnh Hơng Sơn có gần 100 đền chùa lớn nhỏ đợc
xây dựng và chủ yếu do t nhân tự bỏ tiền xây dựng với mục đích chính là kinh
doanh kiếm lời. Khi đợc phỏng vấn và trả lời về thực trạng trên, chủ tịch UBND
xã Hơng Sơn cho biết: "Trong quy hoạch phát triển của xã đã trình lên huyện và
tỉnh, có xin phép cho xây dựng một số ngôi đền, chùa mới nhằm mục đích phục
vụ cho nhu cầu cúng lễ ngày càng tăng của dân ta. Tuy nhiên nhiều hộ trong xã
đã tự ý bỏ tiền xây dựng những ngôi đền nhỏ với mục đích kiếm lời đang là một
thực trạng nhức nhối khó kiểm soát. Trong thời gian tới, đợc sự trợ giúp của
huyện, xã sẽ tổ chức kiểm tra những nơi làm ăn vi phạm và sẽ đóng cửa các nơi
đó".
Nh vậy có thể thấy việc xây dựng tự ý của ngời dân nơi đây không theo
một quy hoạch tổng thể gây nên sự lộn xộn khi thăm quan các di tích và tài
nguyên. Mặt khác việc xây dựng đó kéo theo hàng loạt các vấn đề nảy sinh làm
ảnh hởng đến cảnh quan môi trờng nơi đây và việc giải quyết các vấn đề đó là
bài học lớn trong khâu quản lý xây dựng cho các ban ngành tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
10
Đề án môn học
2.3. Sự xuống cấp của môi trờng
2.3.1. Sự ô nhiễm nguồn nớc
2.3.1.1. Biểu hiện
Nếu du khách một lần đến thăm chùa hơng và du thuyền trên bến Đục, có
thể thấy những "vật thể lạ" nổi lềnh bềnh trên sông. Đó có thể là: túi nilon, chai
nớc, đồ ăn và có cảm giác bất an nếu muốn dùng n ớc trên sông.
Hàng năm sau mỗi vụ lễ hội, chính quyền nơi đây không có biện pháp xử
lý các chất thải "nổi đó". Vì vậy qua từng năm, lợng rác thải đó ngày càng
nhiều và một số lợng lớn bị chìm xuống lòng bến Đục và thực sự bến Đục giờ
đây đã đục thật.
Mặt khác, theo số liệu thống kê của Sở Khoa học công nghệ - môi trờng
Hà Tây, số lợng sinh vật tại các dòng sông, dòng suối nằm trong phạm vi xã H-
ơng Sơn đã giảm từ 85 loài (năm 1996) xuống 4 loài (năm 2002). Cũng theo
cuộc khảo sát đó cho thấy nồng độ các chất thải trong nớc đến thời điểm đó cha
vợt quá tiêu chuẩn cho phép nhng cũng không thể dùng cho các sinh hoạt hàng
ngày của ngời dân và nếu cứ tiếp tục để tình trạng ô nhiêm đó kéo dài, trong
một tơng lai không xa nguồn nớc ở nơi đây sẽ không còn giá trị sử dụng nữa.
2.3.1.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, có thể thấy rõ những chất thải đó phần lớn do khách du lịch
hoặc là cố tình hoặc là vô ý hoặc do cha có sự bố trí hợp lý các thùng bỏ rác nên
dẫn đến việc vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm nguồn nớc.
Thứ hai, do các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt phục vụ nhu cầu khách du lịch
rất lớn, lợng phế thải từ quá trình phục vụ đó không đợc xử lý đúng nơi, đúng
chỗ và cũng do sự nhận thức của ngời dân còn kém cho nên đó cũng là nhân tố
gây ô nhiễm nguồn nớc nơi đây.
Thứ ba, lu lợng thuyền bè đi lại phục vụ du khách rất lớn và do đặc điểm
địa hình sông nớc nên việc quản lý là rất khó khăn. Việc mang rác thải đúng nơi
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
11
Đề án môn học
quy định chỉ còn phụ thuộc vào ý thức và nhận thức của du khách.
Thứ t, quá trình xây dựng các công trình, các hạng mục. Việc tôn tạo các
di tích cũng là nguyên nhân gây lên tình trạng ô nhiễm tại đây. Do đó để khắc
phục những tình trạng trên đòi hỏi cần có thời gian và giải pháp thích hợp.
2.3.1.3. Hậu quả
Nếu nói về hậu quả về lâu dài do sự ô nhiễm nguồn nớc gây ra thì khó có
thể lờng hết đợc. Tuy nhiên có thể dễ dàng thấy đợc hậu quả trớc mắt do tác
động của ô nhiễm đó gây ra là rất lớn.
Trớc hết gây nguy hại và ảnh hởng đến chất lợng của cuộc sống ngời dân
nơi đây. Không phải tất cả mọi ngời dân trong xã đều sống dựa vào 3 tháng lễ
hội mà nghề chính của họ vẫn là sản xuất nông nghiệp, nếu tình trạng ô nhiễm
đó ngày một trầm trọng sẽ dẫn đến nguồn nớc sử dụng cho việc tới tiêu, sinh
hoạt bị ảnh hởng. Điều đó là không hợp lý bởi nh vậy chính là vì cái lợi nhỏ mà
quên đi cái lợi lớn.
Thứ hai, với sự phát triển của khoa học công nghệ trong tơng lai, nếu tình
trạng đó không đợc khắc phục thì hiện chăng chùa Hơng có còn là điểm thu hút
khách du lịch nữa hay không.
Thứ ba, hiện trạng ô nhiễm hiện nay còn cha đến mức quá nghiêm trọng.
Nếu không giải quyết kịp thời, trong tơng lai nguồn kinh phí phục vụ cho quá
trình cải tạo có thể lớn gấp nhiều lần mà vẫn không mang lại hiệu quả nh mong
muốn.
2.3.2. Sự ô nhiễm không khí.
2.3.2.1. Thực trạng.
Theo thống kê và khảo sát vào tháng 4 năm 2004 của sở y tế Hà Tây, tỷ
lệ ngời làm việc thời gian dài trong mùa lễ hội tại chùa Hơng có nguy cơ mắc
các bệnh về hô hấp cao gấp 3 lần so với những ngời khác . Mặt khác cũng theo
cuộc khảo sát này cho thấy nồng độ không khí nơi đây trong những ngày cao
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
12
Đề án môn học
điểm của lễ hội cao gần đến tiêu chuẩn cho phép. Thực tế này phản ánh rằng
không khí nơi đây đã có dần hiện suy giảm và nguy cơ đó ngàycàng tăng.
Mặt khác, theo những nhận định của nhiều du kháh có dịp thăm quan vài
lần tại đây, nguồn không khí mỗi năm ngày càng xấu và không còn trong lành
nh trớc nữa. Điều đó cho phép khẳng định rằng chất lợng môi trờng tại đây đã
có dấu hiệu suy giảm bị tổn hại và không đợc trú trọng đúng mực.
2.3.2.2. Nguyên nhân và hậu quả.
Thực tế cho thấy, quá trình xử lý rác thải là một vấn đề vô cùng quan
trọng trong khâu giải quyết vấn đề ô nhiễm tại đây. Chính do sự phân bố rộng
và địa hình phức tạp nên lợng rác thải sau mỗi mùa lễ hội để xử l ý đợc là một
vấn đề rất khó khăn. Nếu trong những dịp chính hội, việc quản lý môi trờng rất
khó khăn cộng với nhiều chính sách về môi trờng tại đây cha phát huy hiệu quả
dẫn đến tình trạng không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng thì mặt khác số lợng rác
thải đi lại không đợc xử lý dứt điểm vả cứ lớn dần mỗi năm và điều tất yếu
nguồn không khí bị ảnh hởng và suy thoái nghyiêm trọng.
Về hậu quả, sự ô nhiễm không khi nơi đây không tác động trên diện rộng
nh ô nhiễm nguồn nớc. Nhng có thể thấy rõ nhấtm sự ô nhiễm đó tác động lớn
đến sức khoẻ con ngời, về lâu dài sẽ giảm lợng du khách, xã hội phải mất nguồn
chi phí lớn để giải quyết hậu quả do sự tác động của quá trình ô nhiễm đó đồng
thời ảnh hởng đến tiềm năng du lịch và tài nguyên du lịch nơi đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
13
Đề án môn học
2.4. Thực trạng hoạt động bảo vệ môi trờng của chính quyền và nhân
dân sở tại.
2.4.1. Hoạt động tuyên truyền giáo dục.
Đây là một hoạt động quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi
trờng của ngời dân và du khách. Tuy nhiên nhìn chung chính quyền nơi đây cha
thấy đợc tác dụng to lớn của hoạt động đó vì thực tế cho thấy rằng chỉ k khi
mùa lễ hội chính thức bắt đầu công tác tuyên truyền, giáo dục nói chung và về
môi trờng nói riêng mới bắt đầu hoạt động nhng lại mang tính chất không thờng
xuyên và trong phạm vi hẹp. Chính vì vậy trong thời gian tới để hoạt động tuyên
truyền giáo dục thực sự phát huy tác dụng cũng nh nâng cao chất lợng của công
tác tuyên truyền, chính quyền sở tại cần nỗ lực hơn nữa trong việc đổi mới cả
nội dung lẫn hình thức trong hoạt động này.
2.4.2. Việc sử dụng ngân sách trong hoạt động bảo vệ môi trờng.
Hàng năm với hàng tỷ đồng hỗ trợ từ các tổ chức du lịch trong nớc cộng
với số tiền thu đợc từ việc bàn về thăm quan, tiền bến bãi là nguồn thu rất lớn
để có thể thực thi các dự án nhằm xây dựng việc bảo vệ môi trờng bền vững.
Nhng dờng nh kinh phí phục vụ cho các hoạt động này còn ít hoặc là việc sử
dụng còn cha đúng mục đích và cha phát huy hiệu quả cao. Do đó nắm bắt thực
trạng trên các ban ngành chức năng cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong
việc giúp cơ quan địa phơng sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý tránh lãng
phí và phát huy đợc hiệu quả cao nhất đúng nh mong muốn.
2.4.3. Công tác kiểm tra, giám sát diễn biến sự thay đổi của môi trờng
còn lỏng lẻo.
Nh trên đã nói, việc sử dụng không hợp lý trong việc chi cho các dự án,
các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trờng. Vì vậy nguồn nhân lực
có chuyên môn về vấn đề này còn rất ít và thiếu kinh nghiệm, cộng với địa hình
rộng và phức tạp làm cho việc kiểm tra, giám sát thờng xuyên gặp rất nhiều khó
khăn. Trong năm 2004 đội ngũ này tuy có đợc tăng cờng nhng thực sự vẫn cha
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
14
Môđun đối đồng điều địa phương và một số phạm trù con Serre
tr ó tí ữ s ợ t tí rt ỉ r r
n é t ể H
n
I
(M) rt số depth(IR
p
, M
p
) é t ớ
p Supp(M/IM) \ {m}. ó
ứ
n í ộ s ọ f-depth(I, M) ủ M tr I ế t
ị ĩ ệ ộ s s rộ ủ M tr
I í ệ gdepth(I, M) ỉ r r gdepth(I, M) í n
é t ể Supp H
n
I
(M)
ệ sử ụ ệ trù rr ủ
trù R rr rss
ứ ột ó ệ tố tí t sở ủ ố ồ ề
ị ú ý r ớ ồ ột 0 ớ ữ
s ớ rt ớ ó ữ ề t t
ữ trù rr ì tế ỏ ở tr ó tể q
ề ột ỏ tổ qt ớ S ột trù rr trớ
H
i
I
(M) S? ết q ọ t ợ tr tr
n é t ể H
n
I
(M) / S ớ S ột trù rr M
R t tết ữ s ồ tờ ớ tệ
ệ S Sộ s tr Sộ s ột sự tổ qt ó
ủ tr ết ề ộ s ộ s ọ ộ s s rộ
ệ sử ụ ệ trù rr ủ
trù R rr rss
ứ ột ó ệ tố tí t sở ủ ố ồ ề
ị ú ý r ớ ồ ột 0 ớ ữ
s ớ rt ớ ó ữ ề t t
ữ trù rr ì tế ỏ ở tr ó tể q
ề ột ỏ tổ qt ớ S ột trù rr trớ
H
i
I
(M) S? ết q ọ t ợ tr tr
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
n é t ể H
n
I
(M) / S ớ S ột trù rr M
R t tết ữ s ồ tờ ớ tệ
ệ S Sộ s tr Sộ s ột sự tổ qt ó
ủ tr ết ề ộ s ộ s ọ ộ s s rộ
ụ í ủ trì ết q tr ủ r
r rss tr s rr
strs r r
ó ề trù rr
ột số ị ề ố ồ ề ị trì
ề S Sộ s ết q ề ố ồ ề ị
tr ờ ột ỏ H
i
I
(M) S?
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
P trù rr ột số ị
ề ố ồ ề ị
r sốt R ột tr M
R
P trù rr S
ị ĩ S ớ rỗ ữ R ọ S
ột trù rr ủ trù R ế ớ ỗ ớ
R 0 M
M M
0 t ó M S ỉ
M
, M
S.
ổ ề sử S ột trù rr ủ trù R
ó S ó í ớ é t
Ext
i
R
(N, M) S ớ ọ R ữ s N ọ M S.
ứ M S N ữ s ỉ ứ
Ext
i
R
(N, M) S N ữ s R tr N ó
ột tự
. . . F
2
F
1
F
0
N 0,
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
tr ó ỗ F
i
tự ữ s ộ tử ế
Hom(, M) tự ủ N ở tr t ợ ố ứ
0 Hom(F
0
, M)
f
0
Hom(F
1
, M)
f
1
Hom(F
2
, M)
f
2
. . . .
ị ĩ ủ ở rộ t ó
Ext
i
R
(N, M) = Ker f
i
/ Im f
i1
,i = 0, 1, 2, . . .
ớ ỗ i, ì F
i
tự ữ s F
i
=
R
n
i
. ó
Hom(F
i
, M) = Hom(R
n
i
, M) =
Hom(R, M)
n
i
= M
n
i
.
q t n
i
từ ớ 0 M
n
i
1
M
n
i
M 0
t s r M
n
i
S. ó Hom(F
i
, M) S. r Ker f
i
S. r
Ext
i
R
(N, M) S.
ớ ỗ R M t ọ ủ M í ệ ở Supp M t
Supp M = {p Spec R | M
p
= 0}.
í ụ ớ s ữ trù rr ủ trù
R
ớ ồ ột 0.
ớ R rt
ớ R tr
ớ R M ó t ữ
ớ R ó ộ ữ
ứ ì t ủ 0 0
ị ể
sử M rt N ủ M. ó ỗ
ữ ủ N ũ ữ ủ M ó
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ó ừ ì tế N rt ì ỗ ữ ủ
M/N t ứ ớ ột ữ ủ M ữ N ì tế
ừ ó M/N rt ợ N
ủ M s N M/N rt M
0
M
1
. . . ột
ữ ủ M. ó t ó M
0
N M
1
N . . .
ủ N
(M
0
+ N)/N (M
1
+ N)/N . . .
ủ M/N. ì N M/N rt tồ t số tự
k s M
n
N = M
k
N (M
n
+ N)/N = (M
k
+ N)/N ớ
ọ n k. n k. ó M
k
M
n
. m M
k
. ó
m+N (M
k
+N)/N = (M
n
+N)/N. r m+N = x+a+N = x+N
ớ x M
n
, a N. ó mx NM
k
= NM
n
. r mx M
n
.
ó m M
n
. r M
k
= M
n
ớ ọ n k. ì tế M rt
ớ rt ột trù rr
ứ t tự
sử M ột R N ủ M. ễ
ể tr ợ Supp M = Supp N Supp(M/N). ì tế ế M ó
ữ tì Supp N Supp(M/N) ữ ợ ế Supp N
Supp(M/N) ữ tì Supp M t ữ ớ
ó ữ ột trù rr
ế M ó ộ ữ tì ọ ọ t
ủ M ũ ó ộ ữ ợ ế N ủ M
s N M/N ó ộ ữ tì (M) = (N) + (M/N) < .
ì tế ớ R ó ộ ữ ột trù rr
r ột tố p
0
p
1
. . . p
n
ủ R s
p
i
= p
i+1
ớ ọ i ợ ọ ột tố ộ n
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ọ ề r ủ R í ệ dim R, tr ủ ộ ủ
tố ủ R tứ
dim R = sup{n | tồ t ột tố ủ R ộ n}.
ớ ỗ I ủ R t í ệ Var(I) t tố ủ
R ứ I. ớ ỗ R M t t
dim Supp M = sup{dim R/p : p Supp M}.
ọ dim Supp M ề ủ ủ M
ú ý sử M ữ s ề r ủ M í ệ
dim M ề r ủ R/ Ann M. ì M ữ s
Supp M = Var(Ann M) ó t ó
dim Supp M = sup{dim(R/p) | p Supp M} = dim(R/ Ann M).
ì tế ề ủ ủ M í ề r ủ M r trờ ợ
t ết dim M t dim Supp M.
M = 0 R rt tì Supp M ột t ữ ồ
ữ tố ủ R ì tế dim Supp M = 0.
P tế t ột số í ụ ề trù rr
í ụ ớ ỗ số tự s ớ R M s dim Supp M
s ột trù rr ủ trù R
ứ M R N ủ M ì Supp M =
Supp N Supp(M/N)
dim Supp M = max{dim Supp N, dim Supp(M/N)}.
ề ứ tỏ r dim Supp M s ế ỉ ế dim Supp N s
dim Supp(M/N) s ớ M tỏ tí t
dim Supp M s t ột trù rr
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
í ệ Max R t tố ủ R ở tr ế M
rt tì Supp M Max R Supp M t ữ ề
ợ ú tứ ó ữ M ớ Supp M Max R
Supp M t ữ M rt
ét ề ét ột tr ột trờ
rt ủ ó ồ ú ột tố ử ụ í ụ
tr trờ ợ s = 0 t ợ trù rr s
í ụ ớ R M ớ Supp M Max R ột
trù rr P trù rr ứ tt R rt t
ọ ó trù R ử rt srt s
r ột tố p ủ R ợ ọ
tố ết ủ R M ế tồ t m M s
p = Ann
R
m = {r R | rm = 0}.
tố ết ủ M ợ í ệ Ass M ú
ý r Ass M Supp M ữ ì R tr t ó
min Ass M = min Supp M.
Z ột t ủ ổ tố Spec R ủ R. ó Z
ó ớ é ệt ó ế p Z é t q Z ớ ọ
tố p, q Spec R s p q
í ụ sử Z Spec R ó ớ é ệt ó ó
ớ R M ớ Ass M Z ột trù rr
ứ M R N ủ M. ì R
tr Ass N Ass M Ass NAss(M/N). ì tế ế Ass N
Z Ass(M/N) Z tì Ass M Z. ợ Ass M Z.
ó Ass N Z. ứ Ass(M/N) Z. ì Ass M Z
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
min Ass M = min Supp M min Supp M Z. Z ó ớ é
ệt ó t ó Supp M Z. ì
Supp M = Supp N Supp(M/N)
Supp(M/N) Z. r Ass(M/N) Supp(M/N) Z.
ớ ỗ M t Supp M ó ớ é ệt ó t
ế p, q Spec R p q p Supp M tì
0 = M
p
=
(M
q
)
pR
q
.
ì tế M
q
= 0 tứ q Supp M. ó t í ụ t ó
trù rr s
í ụ ế Z Spec R ó ớ é ệt ó tì ớ
R M ớ Supp M Z ột trù rr
ề ệ C
I
tr trù rr S
I ột ố ị ủ R M R ú t sẽ
ét ột ề ệ ữ í s tr trù rr ủ
trù R r ớ ỗ R M t ị ĩ
I
(M) =
n0
(0 :
M
I
n
), tr ó 0 :
M
I
n
= {m M | I
n
m = 0}.
ị ĩ S trù rr ủ trù R
ó r S tỏ ề ệ (C
I
) ế M S ớ ọ R M
tỏ tí t M =
I
(M) 0 :
M
I S
rớ r ột t ể ột trù rr t
ề ệ (C
I
) ú t ột số ệ q ế
ộ ột R E ợ ọ ộ ế ớ ỗ
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
f : N M ỗ ồ g : N E tồ t ột ồ
h : M E s g = hf. E ột R M
ủ E. ó E ột ở rộ ốt ế ủ M ế M L = 0 ớ
ọ L = 0 ủ E. ó E ộ ủ M ế E ột
ở rộ ốt ế ủ M E ộ ú ý r ỗ R
M ề ó ộ ộ ủ M ị t s
ột ì tế t í ệ ộ ủ M E
R
(M) E(M).
ổ ề S trù rr ủ trù R
ế S ó ớ é ộ tì S tỏ ề ệ (C
I
).
ứ sử M ột R ó tí t M =
I
(M)
0 :
M
I S ứ M S. ì M =
I
(M) ộ
E(M) ủ M í ộ E(0 :
M
I) ủ 0 :
M
I. ì 0 :
M
I S
S ó ớ é ộ E(0 :
M
I) S r E(M) S.
ú ý r M E(M). ữ S trù rr ó t ổ ề
t ó M S.
ột t ể ột trù rr tỏ ề
ệ (C
I
).
ổ ề S trù rr ủ trù R
ó S tỏ ề ệ (C
I
) ế ỉ ế M S ớ ọ R
M tỏ tí t M =
I
(M) 0 :
M
x S ớ tử x
ó tr I
ứ sử S tỏ ề ệ (C
I
). M ột R
ó tí t M =
I
(M) 0 :
M
x S ớ x I. ì 0 :
M
I 0 :
M
x
S trù rr t ổ ề t ó 0 :
M
I S.
S tỏ ề ệ (C
I
) M S. ợ M R
s M =
I
(M) 0 :
M
I S. ết I = (x
1
, . . . , x
n
). t
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
M
0
= M M
i
= 0 :
M
(x
1
, . . . , x
i
)R ớ i = 1, . . . , n. ứ
q ù t i r M
i
S ớ ọ i = n, . . . , 1, 0.
tết M
n
= 0 :
M
I S, ết q ú i = n. ớ i < n, tết
q r M
i+1
S. ì M
i+1
= 0 :
M
i
x
i+1
S x
i+1
I
t tết t s r M
i
S. M
i
S ớ ọ i. ọ i = 0 t ó
M S.
P ố ủ tết ú t ét tr trù
rr ở í ụ trù tỏ
ề ệ (C
I
).
í ụ trù rr ủ trù R s
tỏ ề ệ (C
I
).
P trù rr ồ ột 0.
P trù rr ồ R rt
P trù rr ồ R M ó Supp M t ữ
P trù rr ồ R ử rt R M
s Supp M Max R).
P trù rr ồ R M ớ dim Supp M s
tr ó s 0 ột số trớ
P trù rr ồ R M ớ Ass M Z, tr ó
Z Spec R ột t ó ớ é ệt
ứ ì ộ ủ 0 0 trù
ó ớ é ộ ì tế t ổ ề t ó ết q
ổ ề t ỉ ứ ộ ủ ỗ
rt rt sử M R rt ó Ass M Max R
Ass M t ữ ết Ass M = {m
1
, . . . , m
t
}. í ệ E(M)
ộ ủ M E
i
= E(R/m
i
) ộ ủ trờ t R/m
i
.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Vai trò của tổng công ty nhà nước và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước
Kết cấu luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn chia thành 3 chơng
Chơng I
Một số nhận thức lý luận làm cơ sở xây dựng
các tổng công ty nhà nớc ở nớc ta
I- Lý luận của chủ nghĩa mác-lê nin và vận dụng vào thực
tiễn Việt Nam trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội
Vận dụng nguyên lý chủ nghĩa Mác- Lê nin vào thực tế Cách mạng ở nớc
ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: sau khi
hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân
chủ nhân dân, nớc ta chuyển sang thực hiện nhiệm vụ của thời kì quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển T bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ cơ
bản của thời kỳ qúa độ là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã
hội; xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chủ yếu
là sản xuất nhỏ, mang nặng tính tự cung, tự cấp của nớc ta, đòi hỏi khách quan
phải xây dựng nền sản xuất lớn dựa trên cơ sở nền công nghệ hiện đại, trải qua
quá trình phát triển nhiều chặng đờng. Xuất phát từ kết quả của những năm đổi
mới, từ những tiền đề đã đợc tạo ra, Đảng ta đã nhận định: Nớc ta đã chuyển
sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, đến năm
2020 cơ bản thành nớc công nghiệp.
Đứng trớc những thời cơ, thuận lợi, nguy cơ và những thách thức mới ,
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng ta đã xác định
Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá (1),
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát
triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.(2). Đến đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta nhận định: Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là con đờng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa so với các nớc xung quanh,
giữ vững đợc ổn định chính trị,xã hội, bảo vệ đợc độc lập chủ quyền và định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. (3).
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay đợc tiến hành theo
nhận thức mới, Nghị quyết VII của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII
cho rằng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xẵ hội, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao và Mục tiêu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất (4).
Các văn kiện đại hội Đảng ta đã khẳng định trong thời kỳ quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế bao gồm: Kinh
tế Nhà nớc; kinh tế hợp tác; kinh tế T bản Nhà nớc; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
kinh tế t bản t nhân và tại Đại hội Đảng lần thứ IX, từ quan điểm mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, ở nớc ta có thêm: thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài. Đảng ta luôn khẳng định t tởng nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành
phần và coi đó là đờng lối chiến lợc lâu dài ở nớc ta. Trong thời kỳ quá độ, có
nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp,
tầng lớp xã hội khác nhau nhng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã
hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh
trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc dới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân gắn liền
với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, dân giầu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay Đảng ta xác định
trong nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nớc nghèo, kém phát triển; Thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những t tởng và
hành động tiêu cực, sai trái. Động lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn
kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí
thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,
phát huy tiềm năng và tiềm lực của các thành phần kinh tế , của toàn xã hội.
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng, có
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Chế độ
sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu từng bớc đợc xác lập và sẽ chiếm u
thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về cơ bản. Đảng ta cũng
đã chỉ đạo đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế,
chính sách và thủ tục hành chính để tạo sức bật mới cho sự phát triển mạnh mẽ
các thành phần kinh tế. Mọi thành phần kinh tế, mọi công dân đợc đầu t kinh
doanh theo các hình thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh
tế theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến
khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, là bộ phận của nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế Nhà nớc là một trong những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc,
có nhiệm vụ đảm bảo những cân đối chủ yếu của nền kinh tế và là cơ sở thực
hiện định hớng xã hôị chủ nghĩa của nền kinh tế. Bởi vậy kinh tế Nhà nớc phải
nắm vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa nh Đại hội IX đã chỉ ra. Vai
trò đó thể hiện ở chỗ: mở đờng và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát
triển; thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ
có sức mạnh vật chất để Nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị trờng
theo định hớng Xã hội chủ nghĩa; là nền tảng của xã hội mới.
Đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Kinh tế nhà nớc tập trung đầu t cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội;
Nắm vững vị trí then chốt trong nền kinh tế; nâng cao năng suất, chất lợng và
hiệu quả để thực hiện vai trò chủ đạo. Doanh nghiệp nhà nớc đi đầu trong việc
thực hiện phát triển những ngành sản xuất t liệu sản xuất quan trọng và công
nghiệp công nghệ cao .
Kinh tế Nhà nớc phải vận động theo hớng ngày càng đợc nâng cao vai
trò, vị trí của mình, với mức độ, phạm vi phù hợp, ngày càng giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thờì với việc xác định chủ trơng phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần là việc tạo lập đồng bộ các loại thị trờng, đổi mới
quản lý nhà nớc. Hình thành đồng bộ các loại thị trờng đi đôi với xây dựng
khuôn khổ pháp lý cần thiết để thị trờng hoạt động năng động, có hiệu quả, có
kỷ cơng trong cạnh tranh lành mạnh, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh
doanh. Có biện pháp chống gian lận thơng mại. Nhà nớc tôn trọng nguyên tắc
và cơ chế hoạt động khách quan của thị trờng, tạo điều kiện để phát huy mặt
tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng. Nhà n-
ớc tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lợc, quy hoạch và kế hoạch
định hớng phát triển, thực hiện những dự án phát triển bằng nguồn lực tập
trung; đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trờng đầu t, kinh doanh; điều tiết
thu nhập hợp lý; kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật; giảm mạnh sự can
thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đơn giản hoá các thủ tục hành chính, công khai hoá và thực hiện đúng trách
nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nớc trong quan hệ với doanh
nghiệp.Tập trung vào xoá bỏ những quy định và thủ tục mang tính hành chính
quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất .
Đặc trng của cơ chế thị trờng là có khả năng tự động điều tiết nền sản
xuất xã hội. Cơ chế thị trờng kích thích sự phát triển sản xuất cả chiều rộng và
chiều sâu, tăng cờng chuyên môn hoá sản xuất vào các ngành, các lĩnh vực,
nhất làm tăng năng suất lao động xã hội. Song cơ chế thị trờng dễ phá vỡ những
cân đối tổng thể của nền kinh tế xã hội, thờng nảy sinh ra những khuyết tật, gây
tác hại cho nền kinh tế và cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi
doanh nghiệp kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phơng đều có lợi ích riêng của
mình và đều tìm mọi cách để tối u những lợi ích đó, do đó có thể xảy ra hiện t-
ợng lợi ích của doanh nghiệp, địa phơng này tăng lên, làm thiệt hại đến lợi ích
của doanh nghiệp khác, địa phơng khác. Nhà nớc với t cách điều hành nền kinh
tế phải thực hiện sự định hớng; tạo lập các cân đối vĩ mô, ngăn ngừa các đột
biến xấu, điều hành các quan hệ kinh tế bằng các công cụ và chính sách, hớng
dẫn và tạo môi trờng và điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Việc khai thác những u điểm, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trờng
không thể thiếu vai trò của nhà nớc, với t cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, trong đó các doanh nghiệp nhà nớc loại lớn là một công cụ hữu
hiệu.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tất yếu khách quan,
hợp quy luật và là nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở nớc ta.
Đồng thời đó cũng là một quá trình khó khăn phức tạp vì phải đổi mới cả một
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý. Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng
cũng nh khi cơ chế thị trờng đã đợc xây dựng đồng bộ, vai trò quản lý của nhà
nớc càng tăng lên nhng không có nghĩa là nhà nớc nắm tất cả, can thiệp vào tất
cả các hoạt động của doanh nghiệp. Quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng đòi hỏi nhà nớc phải có
trình độ, năng lực và chất lợng cao trong quản lý kinh tế. Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: Vận dụng cơ chế thị trờng đòi hỏi phải nâng
cao năng lực quản lý vĩ mô nhà nớc, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của
các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi
với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trờng. Trong
quá trình đổi mới Đảng ta chủ trơng phát triển kinh tế nhiều thành phần để góp
phần phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là chính sách nhất quán, lâu dài trong cả thời kỳ đi
lên chủ nghĩa xã hội .
Để thực hiện có hiệu quả chính sách đó Đảng chỉ đạo tiếp tục đổi mới,
sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc là đểđảm
bảo cho kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đó là
vấn đề rất lớn trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần .
Việc sắp xếp, đổi mới , nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc là việc
mà Đảng ta quan tâm và đợc triển khai ngay từ thời kỳ đổi mới và nhất là trong
10 năm qua (1991 - 2001).
Nghị quyết lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX về việc:
Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà n-
ớc đã xác định quan điểm chỉ đạo: Kinh tế Nhà nớc có vai trò quyết định trong
việc giữ vững định hớng Xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính
trị xã hội của đất nớc. Doanh nghiệp Nhà nớc phải không ngừng đợc đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vững vị trí then chốt nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô, làm lực lợng
nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nớc thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Nhà
nớc phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Điều chỉnh để
doanh nghiệp Nhà nớc có cơ cấu hợp lý , tập trung vào những ngành , lĩnh vực
then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với những sản phẩm
và dịch vụ chủ yếu. Tiếp tục đổi mới quản lý để doanh nghiệp Nhà nớc kinh
doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và kinh doanh bình đẳng với doanh
nghiệp thuộc các thành pnần kinh tế khác theo luật pháp. Thực hiện độc quyền
nhà nớc trong lĩnh vực cần thiết nhng không biến độc quyền Nhà nớc thành độc
quyền doanh nghiệp. Mục tiêu là sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nớc .
Trong những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi
xớng và lãnh đạo, cùng với việc từng bớc xoá bỏ tập trung bao cấp, thực hiện
nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế Nhà nớc đã có
nhiều biến đổi quan trọng, Nhà nớc đã giảm mạnh bao cấp đối với doanh nghiệp
Nhà nớc, chuyển các doanh nghiệp này sang chế độ hạch toán kinh tế, nâng
cao quyền tự chủ của doanh nghiệp, đáp ứng xu hớng vận động mang tính phổ
biến chủ đạo của các hình thức tổ chức kinh tế đó là tập trung hoá và liên hiệp
hoá, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá. Tập trung hoá là quá trình lớn lên của
doanh nghiệp xét về quy mô, bằng cách các doanh nghiệp sáp nhập lại với nhau,
hợp nhất với nhau, hoặc các doanh nghiệp tự mở rộng quy mô của chính mình,
quá trình đó làm cho số doanh nghiệp giảm đi, tơng ứng thì quy mô doanh
nghiệp tăng lên.
Tập trung hoá và liên hiệp hoá là xu hớng chủ đạo của hình thức tổ chức
kinh tế; xu hớng chuyên môn hoá và hiệp tác hoá là nội dung chủ yếu, là hai
mặt hữu cơ của phân công lao động xă hội, đó là quan hệ hữu cơ thúc đẩy nhau,
tạo hiệu quả kinh doanh.
Do tác động của khoa học công nghệ cũng nh nhu cầu mở rộng kinh
doanh, nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận, ở các nớc phát triển buộc
phải đi vào tổ chức các tập đoàn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mạnh,
mặc dù các nớc này vẫn tồn tại khá nhiều các doanh nghiệp nhỏ trụ vững đợc
trong cạnh tranh, song xu hớng chủ đạo vẫn là phải hình thành và phát triển
những tập đoàn kinh tế lớn. Các tập đoàn này chiếm vị trí hết sức trọng yếu
trong nền kinh tế quốc dân.
ở nớc ta với mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, việc
hình thành tập đoàn kinh tế mạnh, hình thành các tổng công ty một cách khoa
học, khách quan, cần thiết là một đòi hỏi bức xúc hiện nay.
II - quá trình hình thành các Tổng công ty Nhà nớc ở Việt Nam
và quan niệm về hiệu quả của chúng
1. Sự ra đời các tổng công ty ở Việt Nam
Trên cơ sở sắp xếp và làm thủ tục thành lập và đăng ký lại doanh
nghiêp Nhà nớc theo quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nớc
ban hành theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội
đồng Bộ trởng ( nay là Chính phủ ) đã đợc các Bộ, địa phơng và các doanh
nghiệp Nhà nớc triển khai thực hiện đã đạt đợc một bớc quan trọng, Chính phủ
đã có Quyết định số 90/TTg và Quýêt định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm
1994, tiếp tục thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nớc, tiến hành kiểm tra, rà
soát, phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nớc, chấn
chỉnh tổ chức quản lý , tiếp tục sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nớc để nâng cao
hiệu quả kinh doanh và từng bớc tổ chức lại một cách hợp lý các doanh nghiệp
Nhà nớc đang hoạt động cùng ngành nghề trên cùng một điạ bàn theo hớng
không phân biệt doanh nghiệp Nhà nớc do Trung ơng hay địa phơng quản lý .
Sắp xếp, thành lập và đăng ký lại các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty. Những
Tổng công ty đợc xem xét thành lập và đăng ký lại khi có ít nhất 5 đơn vị thành
viên quan hệ với nhau về công nghệ, tài chính, chơng trình đầu t phát triển, dịch
vụ về cung ứng, vận chuyển, tiêu thụ, thông tin, đào tạo; toàn Tổng công ty có
vốn pháp định trên 500 tỷ đồng, đối với một số Tổng công ty trong những
ngành đặc thù thì vốn pháp định có thể thấp hơn nhng không đợc ít hơn 100 tỷ
đồng. Tổng công ty thực hiện hạch toán kinh tế theo một trong hai hình thức:
Hạch toán toàn Tổng công ty, các đơn vị thành viên hạch toán báo sổ và Hạch
toán tổng hợp có phân cấp cho các đơn vị thành viên; có luận chứng kinh tế - kỹ
thuật về việc thành lập Tổng công ty và đề án kinh doanh của Tổng công ty và
văn bản giám định các luận chứng đó. có phơng án bố trí cán bộ lãnh đạo và
quản lý đúng tiêu chuẩn, đủ năng lực điều hành toàn bộ hoạt động của Tổng
công ty, có vốn điều lệ, tổ chức và hoạt động đã đợc cơ quan chủ quản phê
duyệt và đợc tuân thủ trong thực tế.
Tổng công ty nhà nớc là doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô lớn, bao gồm
các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính,
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một số
chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do nhà nớc thành lập nhằm tăng cờng
tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để thực
hiện nhiệm vụ nhà nớc giao; nâng cao hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành
viên và của toàn Tổng công ty nhà nớc, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Tổng
công ty đặc biệt quan trọng do Thủ tớng Chính phủ quyết định thành lập; các
Tổng công ty nhà nớc khác do Bộ trởng quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, thủ tr-
ởng các cơ quan ngang Bộ,Thủ trởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng quyết định thành lập
theo uỷ quyền của Thủ tóng Chính phủ.Tổng công ty nhà nớc chịu sự quản lý
Nhà nớc của cấp ra quyết định thành lập với t cách là cơ quan quản lý nhà nớc
đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với t cách là cơ quan thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nớc theo quy định của luật
doanh nghiệp nhà nớc và các quy định khác của pháp luật.
Tổng công ty nhà nớc có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên
và các nguồn lực khác của nhà nớc giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đ-
ợc nhà nớc giao; có quyền giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý, sử dụng
các nguồn lực mà Tổng công ty nhà nớc đã nhận của nhà nớc , điều chỉnh
những nguồn lực đã giao cho các đơn vị thành viên trong trờng hợp cần thiết
phù hợp với kế hoạch phát triển chung của Tổng công ty nhà nớc; có quyền đầu
t, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của
một doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật; có quyền chuyển nhợng,
thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của mình trừ
những danh mục tàI sản nhà nớc không cho phép; có quyền tổ chức quản lý, tổ
chức sản xuất kinh doanh .
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn chia thành 3 chơng
Chơng I
Một số nhận thức lý luận làm cơ sở xây dựng
các tổng công ty nhà nớc ở nớc ta
I- Lý luận của chủ nghĩa mác-lê nin và vận dụng vào thực
tiễn Việt Nam trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội
Vận dụng nguyên lý chủ nghĩa Mác- Lê nin vào thực tế Cách mạng ở nớc
ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: sau khi
hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân
chủ nhân dân, nớc ta chuyển sang thực hiện nhiệm vụ của thời kì quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển T bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ cơ
bản của thời kỳ qúa độ là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã
hội; xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chủ yếu
là sản xuất nhỏ, mang nặng tính tự cung, tự cấp của nớc ta, đòi hỏi khách quan
phải xây dựng nền sản xuất lớn dựa trên cơ sở nền công nghệ hiện đại, trải qua
quá trình phát triển nhiều chặng đờng. Xuất phát từ kết quả của những năm đổi
mới, từ những tiền đề đã đợc tạo ra, Đảng ta đã nhận định: Nớc ta đã chuyển
sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, đến năm
2020 cơ bản thành nớc công nghiệp.
Đứng trớc những thời cơ, thuận lợi, nguy cơ và những thách thức mới ,
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng ta đã xác định
Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá (1),
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát
triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.(2). Đến đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta nhận định: Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là con đờng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa so với các nớc xung quanh,
giữ vững đợc ổn định chính trị,xã hội, bảo vệ đợc độc lập chủ quyền và định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. (3).
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay đợc tiến hành theo
nhận thức mới, Nghị quyết VII của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII
cho rằng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xẵ hội, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao và Mục tiêu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất (4).
Các văn kiện đại hội Đảng ta đã khẳng định trong thời kỳ quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế bao gồm: Kinh
tế Nhà nớc; kinh tế hợp tác; kinh tế T bản Nhà nớc; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
kinh tế t bản t nhân và tại Đại hội Đảng lần thứ IX, từ quan điểm mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, ở nớc ta có thêm: thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài. Đảng ta luôn khẳng định t tởng nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành
phần và coi đó là đờng lối chiến lợc lâu dài ở nớc ta. Trong thời kỳ quá độ, có
nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp,
tầng lớp xã hội khác nhau nhng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã
hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh
trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc dới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân gắn liền
với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, dân giầu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay Đảng ta xác định
trong nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nớc nghèo, kém phát triển; Thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những t tởng và
hành động tiêu cực, sai trái. Động lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn
kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí
thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,
phát huy tiềm năng và tiềm lực của các thành phần kinh tế , của toàn xã hội.
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng, có
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Chế độ
sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu từng bớc đợc xác lập và sẽ chiếm u
thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về cơ bản. Đảng ta cũng
đã chỉ đạo đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế,
chính sách và thủ tục hành chính để tạo sức bật mới cho sự phát triển mạnh mẽ
các thành phần kinh tế. Mọi thành phần kinh tế, mọi công dân đợc đầu t kinh
doanh theo các hình thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh
tế theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến
khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, là bộ phận của nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế Nhà nớc là một trong những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc,
có nhiệm vụ đảm bảo những cân đối chủ yếu của nền kinh tế và là cơ sở thực
hiện định hớng xã hôị chủ nghĩa của nền kinh tế. Bởi vậy kinh tế Nhà nớc phải
nắm vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa nh Đại hội IX đã chỉ ra. Vai
trò đó thể hiện ở chỗ: mở đờng và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát
triển; thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ
có sức mạnh vật chất để Nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị trờng
theo định hớng Xã hội chủ nghĩa; là nền tảng của xã hội mới.
Đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Kinh tế nhà nớc tập trung đầu t cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội;
Nắm vững vị trí then chốt trong nền kinh tế; nâng cao năng suất, chất lợng và
hiệu quả để thực hiện vai trò chủ đạo. Doanh nghiệp nhà nớc đi đầu trong việc
thực hiện phát triển những ngành sản xuất t liệu sản xuất quan trọng và công
nghiệp công nghệ cao .
Kinh tế Nhà nớc phải vận động theo hớng ngày càng đợc nâng cao vai
trò, vị trí của mình, với mức độ, phạm vi phù hợp, ngày càng giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thờì với việc xác định chủ trơng phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần là việc tạo lập đồng bộ các loại thị trờng, đổi mới
quản lý nhà nớc. Hình thành đồng bộ các loại thị trờng đi đôi với xây dựng
khuôn khổ pháp lý cần thiết để thị trờng hoạt động năng động, có hiệu quả, có
kỷ cơng trong cạnh tranh lành mạnh, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh
doanh. Có biện pháp chống gian lận thơng mại. Nhà nớc tôn trọng nguyên tắc
và cơ chế hoạt động khách quan của thị trờng, tạo điều kiện để phát huy mặt
tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng. Nhà n-
ớc tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lợc, quy hoạch và kế hoạch
định hớng phát triển, thực hiện những dự án phát triển bằng nguồn lực tập
trung; đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trờng đầu t, kinh doanh; điều tiết
thu nhập hợp lý; kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật; giảm mạnh sự can
thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đơn giản hoá các thủ tục hành chính, công khai hoá và thực hiện đúng trách
nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nớc trong quan hệ với doanh
nghiệp.Tập trung vào xoá bỏ những quy định và thủ tục mang tính hành chính
quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất .
Đặc trng của cơ chế thị trờng là có khả năng tự động điều tiết nền sản
xuất xã hội. Cơ chế thị trờng kích thích sự phát triển sản xuất cả chiều rộng và
chiều sâu, tăng cờng chuyên môn hoá sản xuất vào các ngành, các lĩnh vực,
nhất làm tăng năng suất lao động xã hội. Song cơ chế thị trờng dễ phá vỡ những
cân đối tổng thể của nền kinh tế xã hội, thờng nảy sinh ra những khuyết tật, gây
tác hại cho nền kinh tế và cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi
doanh nghiệp kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phơng đều có lợi ích riêng của
mình và đều tìm mọi cách để tối u những lợi ích đó, do đó có thể xảy ra hiện t-
ợng lợi ích của doanh nghiệp, địa phơng này tăng lên, làm thiệt hại đến lợi ích
của doanh nghiệp khác, địa phơng khác. Nhà nớc với t cách điều hành nền kinh
tế phải thực hiện sự định hớng; tạo lập các cân đối vĩ mô, ngăn ngừa các đột
biến xấu, điều hành các quan hệ kinh tế bằng các công cụ và chính sách, hớng
dẫn và tạo môi trờng và điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Việc khai thác những u điểm, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trờng
không thể thiếu vai trò của nhà nớc, với t cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, trong đó các doanh nghiệp nhà nớc loại lớn là một công cụ hữu
hiệu.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tất yếu khách quan,
hợp quy luật và là nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở nớc ta.
Đồng thời đó cũng là một quá trình khó khăn phức tạp vì phải đổi mới cả một
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý. Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng
cũng nh khi cơ chế thị trờng đã đợc xây dựng đồng bộ, vai trò quản lý của nhà
nớc càng tăng lên nhng không có nghĩa là nhà nớc nắm tất cả, can thiệp vào tất
cả các hoạt động của doanh nghiệp. Quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng đòi hỏi nhà nớc phải có
trình độ, năng lực và chất lợng cao trong quản lý kinh tế. Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: Vận dụng cơ chế thị trờng đòi hỏi phải nâng
cao năng lực quản lý vĩ mô nhà nớc, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của
các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi
với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trờng. Trong
quá trình đổi mới Đảng ta chủ trơng phát triển kinh tế nhiều thành phần để góp
phần phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là chính sách nhất quán, lâu dài trong cả thời kỳ đi
lên chủ nghĩa xã hội .
Để thực hiện có hiệu quả chính sách đó Đảng chỉ đạo tiếp tục đổi mới,
sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc là đểđảm
bảo cho kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đó là
vấn đề rất lớn trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần .
Việc sắp xếp, đổi mới , nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc là việc
mà Đảng ta quan tâm và đợc triển khai ngay từ thời kỳ đổi mới và nhất là trong
10 năm qua (1991 - 2001).
Nghị quyết lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX về việc:
Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà n-
ớc đã xác định quan điểm chỉ đạo: Kinh tế Nhà nớc có vai trò quyết định trong
việc giữ vững định hớng Xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính
trị xã hội của đất nớc. Doanh nghiệp Nhà nớc phải không ngừng đợc đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vững vị trí then chốt nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô, làm lực lợng
nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nớc thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Nhà
nớc phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Điều chỉnh để
doanh nghiệp Nhà nớc có cơ cấu hợp lý , tập trung vào những ngành , lĩnh vực
then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với những sản phẩm
và dịch vụ chủ yếu. Tiếp tục đổi mới quản lý để doanh nghiệp Nhà nớc kinh
doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và kinh doanh bình đẳng với doanh
nghiệp thuộc các thành pnần kinh tế khác theo luật pháp. Thực hiện độc quyền
nhà nớc trong lĩnh vực cần thiết nhng không biến độc quyền Nhà nớc thành độc
quyền doanh nghiệp. Mục tiêu là sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nớc .
Trong những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi
xớng và lãnh đạo, cùng với việc từng bớc xoá bỏ tập trung bao cấp, thực hiện
nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế Nhà nớc đã có
nhiều biến đổi quan trọng, Nhà nớc đã giảm mạnh bao cấp đối với doanh nghiệp
Nhà nớc, chuyển các doanh nghiệp này sang chế độ hạch toán kinh tế, nâng
cao quyền tự chủ của doanh nghiệp, đáp ứng xu hớng vận động mang tính phổ
biến chủ đạo của các hình thức tổ chức kinh tế đó là tập trung hoá và liên hiệp
hoá, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá. Tập trung hoá là quá trình lớn lên của
doanh nghiệp xét về quy mô, bằng cách các doanh nghiệp sáp nhập lại với nhau,
hợp nhất với nhau, hoặc các doanh nghiệp tự mở rộng quy mô của chính mình,
quá trình đó làm cho số doanh nghiệp giảm đi, tơng ứng thì quy mô doanh
nghiệp tăng lên.
Tập trung hoá và liên hiệp hoá là xu hớng chủ đạo của hình thức tổ chức
kinh tế; xu hớng chuyên môn hoá và hiệp tác hoá là nội dung chủ yếu, là hai
mặt hữu cơ của phân công lao động xă hội, đó là quan hệ hữu cơ thúc đẩy nhau,
tạo hiệu quả kinh doanh.
Do tác động của khoa học công nghệ cũng nh nhu cầu mở rộng kinh
doanh, nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận, ở các nớc phát triển buộc
phải đi vào tổ chức các tập đoàn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mạnh,
mặc dù các nớc này vẫn tồn tại khá nhiều các doanh nghiệp nhỏ trụ vững đợc
trong cạnh tranh, song xu hớng chủ đạo vẫn là phải hình thành và phát triển
những tập đoàn kinh tế lớn. Các tập đoàn này chiếm vị trí hết sức trọng yếu
trong nền kinh tế quốc dân.
ở nớc ta với mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, việc
hình thành tập đoàn kinh tế mạnh, hình thành các tổng công ty một cách khoa
học, khách quan, cần thiết là một đòi hỏi bức xúc hiện nay.
II - quá trình hình thành các Tổng công ty Nhà nớc ở Việt Nam
và quan niệm về hiệu quả của chúng
1. Sự ra đời các tổng công ty ở Việt Nam
Trên cơ sở sắp xếp và làm thủ tục thành lập và đăng ký lại doanh
nghiêp Nhà nớc theo quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nớc
ban hành theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội
đồng Bộ trởng ( nay là Chính phủ ) đã đợc các Bộ, địa phơng và các doanh
nghiệp Nhà nớc triển khai thực hiện đã đạt đợc một bớc quan trọng, Chính phủ
đã có Quyết định số 90/TTg và Quýêt định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm
1994, tiếp tục thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nớc, tiến hành kiểm tra, rà
soát, phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nớc, chấn
chỉnh tổ chức quản lý , tiếp tục sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nớc để nâng cao
hiệu quả kinh doanh và từng bớc tổ chức lại một cách hợp lý các doanh nghiệp
Nhà nớc đang hoạt động cùng ngành nghề trên cùng một điạ bàn theo hớng
không phân biệt doanh nghiệp Nhà nớc do Trung ơng hay địa phơng quản lý .
Sắp xếp, thành lập và đăng ký lại các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty. Những
Tổng công ty đợc xem xét thành lập và đăng ký lại khi có ít nhất 5 đơn vị thành
viên quan hệ với nhau về công nghệ, tài chính, chơng trình đầu t phát triển, dịch
vụ về cung ứng, vận chuyển, tiêu thụ, thông tin, đào tạo; toàn Tổng công ty có
vốn pháp định trên 500 tỷ đồng, đối với một số Tổng công ty trong những
ngành đặc thù thì vốn pháp định có thể thấp hơn nhng không đợc ít hơn 100 tỷ
đồng. Tổng công ty thực hiện hạch toán kinh tế theo một trong hai hình thức:
Hạch toán toàn Tổng công ty, các đơn vị thành viên hạch toán báo sổ và Hạch
toán tổng hợp có phân cấp cho các đơn vị thành viên; có luận chứng kinh tế - kỹ
thuật về việc thành lập Tổng công ty và đề án kinh doanh của Tổng công ty và
văn bản giám định các luận chứng đó. có phơng án bố trí cán bộ lãnh đạo và
quản lý đúng tiêu chuẩn, đủ năng lực điều hành toàn bộ hoạt động của Tổng
công ty, có vốn điều lệ, tổ chức và hoạt động đã đợc cơ quan chủ quản phê
duyệt và đợc tuân thủ trong thực tế.
Tổng công ty nhà nớc là doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô lớn, bao gồm
các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính,
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một số
chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do nhà nớc thành lập nhằm tăng cờng
tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để thực
hiện nhiệm vụ nhà nớc giao; nâng cao hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành
viên và của toàn Tổng công ty nhà nớc, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Tổng
công ty đặc biệt quan trọng do Thủ tớng Chính phủ quyết định thành lập; các
Tổng công ty nhà nớc khác do Bộ trởng quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, thủ tr-
ởng các cơ quan ngang Bộ,Thủ trởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng quyết định thành lập
theo uỷ quyền của Thủ tóng Chính phủ.Tổng công ty nhà nớc chịu sự quản lý
Nhà nớc của cấp ra quyết định thành lập với t cách là cơ quan quản lý nhà nớc
đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với t cách là cơ quan thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nớc theo quy định của luật
doanh nghiệp nhà nớc và các quy định khác của pháp luật.
Tổng công ty nhà nớc có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên
và các nguồn lực khác của nhà nớc giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đ-
ợc nhà nớc giao; có quyền giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý, sử dụng
các nguồn lực mà Tổng công ty nhà nớc đã nhận của nhà nớc , điều chỉnh
những nguồn lực đã giao cho các đơn vị thành viên trong trờng hợp cần thiết
phù hợp với kế hoạch phát triển chung của Tổng công ty nhà nớc; có quyền đầu
t, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của
một doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật; có quyền chuyển nhợng,
thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của mình trừ
những danh mục tàI sản nhà nớc không cho phép; có quyền tổ chức quản lý, tổ
chức sản xuất kinh doanh .
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)