Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta

B. GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ
I. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của sự nghiệp CNH - HĐH
7. Tính tất yếu khách quan
Khi bước vào thời kỳ quá dộ lên CNXH,trong diêu kiện cơ sở vật chất- kỹ
thuật còn ở trình đọ thấp kém, công cụ lao động thô sơ, cơ cấu kinh tế dựa trên
nông nghiệp là chủ yếu, đa số dan cư sống bằng nghề nông nghiệp, cơ cấu
nghành nghề trong nông nghiệp cũng đơn giản – cơ bản là độc canh lúa nước.
Nền sản xuất vật chất của xã hội dựa trên sản xuất nhỏ là chủ yếu và mang
nặng tính tự cấp tự túc, tỷ xuất hàng hoá trong nên kinh tế tế thấp. Trong đIêu
kiện chiến tranh ác liệt, nền kinh tế với cơ sở vật chất – kỹ thuật nói trên khó
tồn tại và phát triển bình thường. Cho năm 1990, công nghiệp và xây dựng chỉ
chiếm 22,6% thu nhập quốc dân. Thu nhập bình quân đầu người là nước thuộc
nhóm nghèo nhất thế giới và có nguy cơ tụt hậu xa hơn.
Từ tình hình nói trên. nếu không có sự thay đổi và phát triển thì nền kinh
tế không thể tăng trưởng nhanh, đất nước không thể vượt qua tình trạng nghèo
nàn và kém phát triển. Vì vậy , con đường tất yếu để ta thoát khỏi tình trạng đó
là phảI tiến hành CNH-HĐH .
Bên cạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của xã hội mới là
dân giàu nước mạnh ,xa hội công bằng văn minh, sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước ở nước ta con do yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá quyết định.
Sản phẩm của nền sản xuất xã hội không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu của xã
hội nói chung, mà chúng còn phảI được đem bán, chúng phảI có khả năng
cạnh tranh trên thị trường , có khả năng giữ vững và mở rộng thị trường .v.v.
Dop vậy, các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phảI được sản xuất dựa trên môt
nền tảng vững chắc của cơ sơ vât chất –kỹ thuật hiên dại một cơ cáu lành nghề
linh hoạt,hợp lý ,chi phí trên một dơn vi sản phẩm ở mức thấp nhât .Phân công
lao dộng ở trình dộ cao, kỹ thuật hiện đại, tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu
5
thị trường, khả năng thu lợi nhuận lớn, tăng khả năng tích luỹ cho nèn kinh tế
vầ tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế ở mưc độ cao hơn.Từ đó lại thúc đẩy
kinh tế trong nước phát triển hơn nữa.
Ngoài những cơ sở kinh tế đã nêu trên, sự nghiệp CNH đất nước ở nước
ta còn do yêu cầu bảo vệ tổ quốc, tăng cường tiềm lực quốc phòng của quốc
gia chi phối.
Sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế ở mỗi nước luôn đi đôi với sự
nghiệp bảo vệ, giữ gìn những thành quả mọi mặt đã đạt được. Trong tình hình
phức tạp của bầu không khí chính trị kinh tế hiện nay, các lực lượng phản động
trong nước và ngoài nước luôn tìm mọi cách để cản trở, phá hoại sự nghiệp
phát triển kinh tế nói riêng và sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta nói
chung. Vì vậy chúng ta luôn phảI tăng cường, củng cố, hiện đại hoá lực lượng
quốc phòng để nó trở thành lực lượng hùng mạnh, có khả năng bảo vệ vững
chắc tổ quốc XHCN, để cùng chung sức với các dân tộc bảo vệ nền hoà bình
thế giới, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Hiện
đại hoá quốc phòng, tăng sức mạnh vật chất – kỹ thuật cho lực lượng vũ trang,
dành thế chủ động trong mọi biến động chính trị chỉ có thể thực hiện được
trên cơ sở một nền công nghiệp hiện đại và một nền kinh tế phát triển mạnh
vững chắc.
Tóm lại tính tất yếu khách quan của CNH- HDH được bắt nguồn
từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội, yêu cầu củng cố an ninh
quốc phòng và yêu cầu của việc mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoàI của đất
nước.
1. Tác dụng của CNH- HDH
Việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước có tác dụng về
nhiều mặt.
- CNH- HDH, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại và cơ cấu kinh tế
mới tạo điều kiện biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên, tăng trưởng kinh tế và phát
6
triển kinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; góp
phần quyết định tới thắng lợi cuả xã hội mới của nước ta.
- CNH- HĐH tạo đIều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò
kinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực tích luỹ cuả đất nước và tạo công
ăn việc làm cho người lao động.
- Mỗi bước phát triển mới của cơ sở vật chất- kỹ thuật do quá trình công
nghiệp hoă đem lại sẽ tạo ra những đIều kiện mới cho việc xây dựng nền văn
hoá mới, thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, tạo thuận lợi cho sự phát triển tự
do toàn diện của con người- nhân tố trung tâm của thời đại, đưa đất nước đến
trình độ văn minh cao hơn.
- CNH- HĐH góp phần cung cấp và đảm bảo cho quốc phòng cac yếu tố vật
chất- kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ giữ
gìn an ninh, chủ quyền cuả đất nước.
- CNH- HĐH tạo nhiều khả năng cho nước ta trong việc tham gia vào phân
công lao động và hợp tác quốc tế, do đó tận dụng được sức mạnh trong
nước và sức mạnh kinh tế quốc tế.
Chính vì những tác dụng to lớn, tích cực, toàn diện đã nêu trên, từ đại hội III
dến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hết sức quan trọng của CNH- HĐH
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta. Đồng thời, qua mỗi lần đại
hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thêm và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này cho thích
hợp với đIều kiện và hoàn cảnh của đất nước ta trong những thời kỳ. Trong hội
nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đại Hội VII, Đảng ta còn nêu rõ:”
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.
CNH- HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước
xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ
quyền và định hướng XHCN”
<1.tr27>
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời kỳ

7
1. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc chiụ tác
động của nhiều yếu tố : khách quan, chủ quan,bên trong, bên ngoài , kinh
tế,chinh trị xã hội, khoa học công nghệ v. .v. Các yếu tố trên diễn ra trong từng
thời kỳ , với tưng quốc gia có khác nhau . Để thuận lợi trong nghiên cứu, người
ta thường khái quát thành hai loại: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên trong bao gồm: tièm năng kinh tế tự nhiên của quốc
gia(vị trí địa ly, nguồn tài nguyên , khoáng sản trên ,trong lòng đất, tài nguyên
rừng, nguồn đọng vật cùng các nguồn thuỷ hải sản v.v.) tiềm năng kinh tế –xã
hội (lực lượng lao động,truyền thống văn hoá , lịch sử, các nghề thủ công truyền
thống cuả dân tộc năng lượng định hướng lãnh đạo của Đảng cầm quyền cùng
sự điêu tiết của nhà nước . Các yếu tố bên ngoài bao gồm: các thành tựu khoa
học- công nghệ thế giới, đường lối đối ngoại của các quốc gia, tất cả những
thành tựu cũng như những xu hướng biến động của nền kinh tế toàn cầu.
Cả yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài đều là điều kiện phát triển kinh tế nói
chung, đồng thời cũng là những điều kiện quyết định nội dung CNH- HĐH nói
riêng của mỗi quốc gia.
Hai yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nội dung của công nghiệp
hoá là cách mạng khoa học kỹ thuật và quan hệ kinh tế quốc tế.
Về cách mạng khoa học kỹ thuật, đây là yếu tố tác động sâu sắc đến nhiều mặt
trong đời sống kinh tế, xã hội của các nước, là yếu tố chủ yếu đưa nền văn minh
nhân loại từ trình độ thấp lên trình độ cao và do đó nó có tác động trực tiếp,
mạnh mẽ đến sự nghiệp CNH- HĐH ở các nước chậm phát triển. Cho đến nay,
trong lịch sử đã diễn ra ba cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật vĩ đại và mỗi
cuộc cách mạng đó có đặc trưng cơ bản riêng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ( cách mạng công nghiệp) diễn ra ở
Anh bắt đầu những năm 60 của thế kỷ XVIII và kết thúc vào năm 1820. Nội
8
dung cơ bản của nó là biến lao động thủ công thành lao động cơ khí, trong đó
về năng lượng đặc trưng là việc sử dụng máy hơi nước.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 diễn ra từ nửa sau thế kỷ XIX. Nội dung
và đặc trưng cơ bản của nó là phát minh và ứng dụng rộng rãi động cơ đốt trong
và điện năng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba được gọi là cách mạng khoa học- công
nghệ bởi những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các
nguyên lý công nghệ sản xuất chứ không chỉ dừng lại ở công cụ sản xuất như
các thời kỳ trước.
Cách mạng khoa học- công nghệ có nhiều nội dung. Về quy mô và dung lượng
tri thức, các nhà khoa học đã đánh giá chúng phát triển theo cấp số nhân. Nhưng
ở đây chỉ đề cập đến những nội dung có liên quan đến các kỹ thuật, công nghệ
đang có triển vọng nhất hiện nay. Đó là: kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và công nghệ vũ trụ.
- Kỹ thuật điện tử: thành tựu nổi bật của kỹ thuật điện tử là việc phát minh
và sử dụng rộng rãi máy tính điện tử. Trong thời gian ngắn máy tính điện
tử đã trải qua bốn thế hệ, thế hệ thứ năm chuẩn bị ra đời với khả năng có
thể giải hàng trăm tỷ phép tính trong một giây. Hiện tại máy tính không
chỉ để tính toán mà là phương tiện cho hầu như tất cả các hoạt động của
con người và là cơ sở thiết yếu của công nghệ thông tin hiện đại.
- Công nghệ thông tin: là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh nhất, thúc
đẩy quá trình chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin.
Những bước phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin gắn liền với sự hoàn
thiện của máy tính. Một bước nhảy vọt trong công nghệ thông tin những năm
gần đây là sự ra đời của mạng máy tính. Từ cuối những năm 1980 đến đầu
những năm 1990 mạng máy tính phát triển, nối mọi nơi trên thế giới, làm hình
thành siêu xa lộ thông tin và internet.
9
- Công nghệ vật liệu mới: được hình thành bằng việc sử dụng phương pháp
khoa học để chế tạo vật liệu thay thế cho vật liệu tự nhiên. Nhiếu loại vật
liệu mới với những ưu điểm đặc biệt đã ra đời
- Công nghệ sinh học: đang được dự kiến là công nghệ hàng đầu khi bước
vào thế kỷ XXI.
Trong đó những bộ phận đang được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất là:
Gen ( hay công nghệ di truyền); công nghệ dung hợp tế bào ( tổng hợp tế bào
từ những tế bào sinh vật có tính di truyền khác nhau); công nghệ gây men
( công nghệ phản ứng sinh vật). Trong đó thành công lớn nhất của các nhà
khoa học là đã vẽ được bản đồ gen của con người vào những ngày đầu của thế
kỷ XXI.
- Công nghệ vũ trụ: bao gồm việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị máy móc cho
việc bay vào vũ trụ( như vệ tinh nhân tạo, phi thuyền trở người, phi thuyền đóng
tên lửa) và đang dự kiến lợi dụng những điều kiện đặc biệt của khoảng không vũ
trụ ( vô trùng, trọng lực cực nhỏ ) để chế tạo những sản phẩm mới ( như dược
phẩm có độ sạch cao ).
Trong các nước phát triển hiện nay, cách mạng khoa học- công nghệ đang diễn
ra sôi nổi, mạnh mẽ và có tác động rất to lớn. Tác động cơ bản nhất là làm thay
đổi cơ cấu các ngành kinh tế ở các nước phát triển.Nó thể hiện trên nhiều mặt.
Nó làm thay đổi tỷ lệ giữa ba ngành lớn ( công nghiệp,nông nghiệp, dịch vụ).
Ngành thứ nhất không ngừng thu nhỏ lại, tỷ lệ ngành thứ hai lúc đầu mở rộng
sau đó thu nhỏ, ngành thứ ba không ngừng mở rộng. Nó làm thay đổi cơ cấu nội
bộ từng ngành lớn ví dụ như ở ngành dịch vụ các ngành phục vụ truyền thống
như ngân hàng, bảo hiểm, ăn uống không ngừng được mở rộng; các nghề tư
vấn, thiết kế đang có xu hướng tăng lên; các ngành phục vụ cho phát triển đới
sống hiện đại như y tế, giáo dục, du lịch phát triển tương đối nhanh. Đặc biệt
công nghệ cao đang hiện đại hoá các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống tạo
ra những ngành nghề mới, giá trị tăng cao, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ
cấu hướng về kinh tế tri thức.
10
Từ làm thay đổi cơ cấu ngành nghề cách mạng khoa học- công nghệ còn
làm thay đổi cơ cấu sản phẩm trong điều kiện khoa học- kỹ thuật mới là làm
giảm vật tư, giảm năng lượng, giảm không gian và giảm lao động. Nó còn làm
thay đổi chế độ, cách thức sản xuất ra sản phẩm. Sản xuất tập trung, quy mô lớn,
sản xuất hàng loạt và chủng loại ít được thay thế bằng sản xuất phi tập trung,
quy mô nhỏ, khối lượng nhỏ, chủng loại nhiều.
Cách mạng khoa học- công nghệ còn tác động đến yếu tố chủ thể của nền sản
xuất xã hội là người lao đông. Người lao động sử dụng kỹ thuật công nghệ mới,
đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng và trí tuệ hơn. Do đó chi phí đào tạo tay nghề cho
ngưòi lao động cao hơn trước. Không những thế công nghệ- kỹ thuật mới còn
làm thay đổi cơ cấu lao động. Nghành thứ ba phát triển đã tạo cơ hội kiếm việc
làm cho nhiều người lao động dôi ra trong các ngành khác và số lao động mới
của xã hội.
Ngoài ra cách mạng khoa học- công nghệ trong các nước phát triển còn làm thay
đổi việc phân bố địa bàn sản xuất: Một mặt nó tạo điều kiện mở rộng phạm vi
không gian, phân bố địa bàn hoạt động sản xuất; mặt khác nó hạn chế tác động
của hoàn cảnh tự nhiên đối với việc bổ trí lực lượng sản xuất trong nền kinh tế.
Tác động chung nhất của cách mạng khoa học- công nghệ trong các quốc gia
phát triển là nó làm tăng năng suất lao động xã hội ở các nước tăng lên rất cao.
Thêm nữa, cuộc cách mạng này đã tạo cho mọi quốc gia những cơ hội để phát
triển. Như ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước phát triển.
Vì thế các nước chậm phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn.
Khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng, cạnh
tranh kinh tế diễn ra ngày càng gay gắt.
Về quan hệ kinh tế quốc tế trong những năm gần đây kinh tế hàng hoá đã phát
triển vượt khỏi phạm vi quốc gia và mở rộng ra phạm vi quốc tế. Sự phát triển
của kinh tế hàng hoá đến trình độ cao- kinh tế thị trường đã làm cho thị trường
thế giới phát triển cả về chiều rộng lẫn chiếu sâu. Từ đó, thị trường thế giới và
kinh tế hàng hoá đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và
11
sự hợp tác quốc tế cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các
quốc gia cũng tăng lên.Mức độ và phạm vi của quan hệ kinh tế quốc tế đã phát
triển chưa từng thấy trong những năm gần đây.
Việc tham gia và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt đến
quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá nói riêng của các quốc
gia. Sự tác động đó bao gồm cả tác động tích cực lấn tiêu cực, song tác động
tích cực là chủ yếu. Quan hệ kinh tế quốc tế tạo khả năng to lớn để nước ta có
thể tiếp cận những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại,
thu hút thêm các nguồn vốn bên ngoài, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lí của
các nước đi trước trên con đường công nghiệp hoá đất nước. Nó cũng giúp
chung ta tiếp nhận sự giúp đỡ của bạn bè năm châu, giải quyết những khó khăn
mà khả năng đất nước bị hạn chế, sử dụng có hiệu quả hơn những nguồn lực bên
trong vốn có của đất nước mình.
Về yếu tố bên trong:
Nếu như các yếu tố bên ngoài là cách mạng khoa học- kỹ thuật và quan
hệ kinh tế quốc tế tác động mạnh hơn đến yếu tố kỹ thuật, công nghệ trong quá
trình CNH- HĐH đất nước thì yếu tố bên trong đặc biệt là các tiềm năng kinh tế-
các lợi thế so sánh của Việt Nam lại có tác động nhiều hơn đến cơ cấu ngành
nghề trong quá trình CNH- HĐH ở nước này
Dù kỹ thuật hiện đại hay thô sơ thì Việt Nam vẫn phải phát triển kinh tế và
thực hiện CNH- HĐH đất nước trên cơ sở những tiềm năng kinh tế của mình.
Song các yếu tố bên ngoài sẽ có tác động rất tích cực đến việc sử dụng các tiềm
năng, các nguồn lực bên trong một cách có hiệu quả và nhanh chóng rút ngắn về
trình độ phát triển với các nước khác trên thế giới.
+ Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở phía đông bàn đảo Đông Dương và là
quốc gia ven biển. Như vậy, Việt Nam ở gần các tuyến đường biển quan trọng
và là nơi có các tuyến đường hàng không đi qua hoặc kề cận lãnh thổ. Đây là
một ưu thế của Việt Nam so với một số nước khác như Lào, Campuchia
12
Đường biển dài đã tạo cơ hội cho ngành giao thông vận tải của Việt Nam phát
triển. Bên cạnh nó các hoạt động kinh tế khai thác các tiềm năng của biển như:
đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng thềm
lục địa, du lịch biển có điều kiện phát triển.
+ Về tài nguyên thiên nhiên, đất đai là một loại tài nguyên quan trọng ở
Việt Nam. Số lượng 7 ha đất trồng trọt cùng với khí hậu nhiệt đới, gió mùa, độ
ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nông, lâm nghiệp phát triển. Tuy
vậy, khí hậu của Việt Nam cũng có mặt khắc nghiệt, gây ra biến cố như bão, lũ
lụt, hạn hán làm ảnh hưởng sâu sắc lên mọi hoạt động kinh tế.
Riêng về khoáng sản, tài nguyên khoáng sản của Việt Nam không giàu
nhưng phong phú. ở Việt Nam hiện đã phát hiện khoảng 100 loại quặng kim loại
và phi kim loại. Tiềm năng này cho phép phát triển các cơ sở khai khoáng, chế
biến và tinh chế rất lớn. Tuy vậy, cùng với tình trạng chưa phát triển của cơ sở
hạ tầng, nhiều mỏ khoáng sản lại nằm ở các vùng heo hút, hiểm trở của đất
nước. Điều đó cũng gây không ít khó khăn cho việc khai thác và vận chuyển
trong quá trình sản xuất- kinh doanh.
+ Về nguồn nhân lực, Việt Nam là nước đông dân, bước vào thế kỷ XXI
dân số Việt Nam có trên 80 triệu người(đông dân thứ 2 ở các nước Đông Nam á
và thứ 13 trong số 216 quốc gia trên thế giới). Như vậy, Việt Nam có khoảng 40
triệu lao động tỷ lệ lao động trẻ cao, và chủ yếu tập trung ở các thành phố. Cho
đến cuối thập kỷ 90, lao động trình độ thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao( khoảng trên
80%) .
Tình hình nguồn nhân lực nói trên có thuận lợi cho phát triển nhiều ngành
kinh tế mới. Đặc biệt lao động trẻ có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh.
Tuy vậy, chính dân số đông cũng gây khó khăn cho vấn đề cải thiện mức sống,
đặc biệt yêu cầu mở rộng thị trường lao động để giải quyết vấn đề việc làm
trong khi tiềm năng về vốn của đất nước rất hạn chế.
Các tiềm năng kinh tế nói trên có ảnh hưởng rất sâu sắc đến việc lựa chọn
cơ cấu các ngành công nghiệp ở Việt Nam trong các giai đoạn phát triển. Đặc
13
biệt việc lựa chọn cơ cấu ngành nghề trong thời kỳ đầu của quá trình CNH-
HĐH.
2. Nội dung cơ bản của CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nước ta
Với trình độ kinh tế- xã hội ở điểm xuất phát của quá trình xây dựng xã hội
mới cũng như tại thời điểm hiện nay còn thấp kém, với điều kiện bên trong, bên
ngoài có nhiều phức tạp, khó khăn, qua tham khảo kinh nghiệm của các nước đi
trước sự nghiệp CNH- HDDH đất nước ở Việt Nam phải tiến hành trong một
quá trình lâu dài. Quá trình đó gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải giải
quyết các vấn đề liên quan đến 2 nội dung cơ bản, đó là kỹ thuật (công nghệ) và
cơ cấu ngành nghề. Song ở giai đoạn đầu, do điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng
và do sức ép của vấn đề bức xúc là giải quyết việc làm nên nội dung công
nghiệp hoá tập trung vào phát triển những ngành nghề thu hút nhiều lao dộng để
tạo ra tổng sản phẩm xã hội và giá trị hàng hoá cao hơn. ở các giai đoạn sau, xét
riêng về mặt kỹ thuật- công nghệ thì càng rút ngắn thời gian để tiếp thu những
thành tựu khoa học- công nghệ mới nhất của nhân loại, càng tiến gần tới đích
thành công của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
Quá trình CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nước ta phải giải quyết hai nội
dung sau:
Một là: Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật mới.
Trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay, kỹ thuật thủ công vẫn chiếm tỷ trọng
lớn, do đó về mặt kỹ thuật- công nghệ phải tiến hành cách mạng khoa học- kỹ
thuật. Thực chất của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nước ta có nội dung
bao hàm của cả ba cuộc cách mạng kỹ thuật mà thế giới đã trải qua.
Cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nước ta là một quá trình không thể thực hiện
trong một thời gian ngắn, hay kết thúc ở ngay chặng đường đầu tiên. Bởi quá
trình đó sẽ thực hiện đổi mới về kỹ thuật- công nghệ. Do những điều kiện đặc
thù của Việt Nam, nên sự đổi mới về kỹ thuật- công nghệ sẽ mang các tính chất
sau: một mặt, sự đổi mới về kỹ thuật công nghệ sẽ được tiến hành tuần tự từ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét