Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Sở Giao Dịch – Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.DOC

+ Hiệu quả sử dụng tài sản =
• Khả năng tự tài trợ
+ Hệ số tự tài trợ = x 100%
+ Hệ số đòn bẩy =
• Khả năng sinh lời
+Tốc độ tăng trưởng doanh thu =x100%
+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận = x 100%
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) = x 100%
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) = x 100%
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án là một khâu quan trọng trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn.
Nội dung bao gồm thẩm định tính pháp lý của dự án sau đó tiến hành thẩm định các khía
cạnh như thị trường, kỹ thuật, tài chính, nhân sự và kinh tế - xã hội của dự án.
- Thẩm định mục đích và các điều kiện pháp lý của dự án: kiểm tra tính hợp lệ và sự
đầy đủ của hồ sơ trình duyệt, qua đó đánh giá mục tiêu dự án có phù hợp với quy hoạch
kinh tế của ngành, của địa phương, vùng lãnh thổ và sự phù hợp với các chính sách phát
triển kinh tế, chính sách ưu đãi hay hạn chế kinh doanh sản xuất hay không. Xác định loại
hình dự án là dự án xây dựng mới, dự án mở rộng nâng cao công suất, dự án đầu tư chiều
sâu, hợp lí hoá quá trình sản xuất hay là dự án kết hợp đầu tư chiều sâu, hợp lí hoá quá trình
sản xuất và mở rộng nâng cao công suất để từ đó áp dụng từng nội dung tính toán cho phù
hợp.
- Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án: các vấn đề cần xác định rõ đó là thị
trường đầu vào, đầu ra của dự án; xác định thế mạnh, lợi thế cạnh tranh, thị phần sản phẩm
dự án; trên cơ sở đó để đánh giá việc lựa chọn quy mô sản xuất, công nghệ, kỹ thuật, bộ
máy quản lý, nhân công và dự kiến khả năng tiêu thụ, ước tính doanh thu của dự án. Thẩm
định khía cạnh thị trường là bước khởi đầu quan trọng, cần có sự đánh giá chính xác vì nó
ảnh hưởng trực tiếp tới các giai đoạn sau của dự án là thẩm định phương án kỹ thuật và
thẩm định tài chính.
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án: đòi hỏi cán bộ tín dụng có sự đánh giá
chính xác trong khâu tính toán các thông số kỹ thuật, kiểm tra sự phù hợp của máy móc
thiết bị với môi trường kinh doanh, môi trường tự nhiên, tránh tình trạng bị hao mòn quá
nhanh (bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) và có sự phù hợp với tình hình
tài chính của dự án cũng như phù hợp với khả năng vận hành của chủ đầu tư để từ đó đề ra
CH18G - NHÓM 06 Page 5
phương án kỹ thuật hợp lí, làm cơ sở cho xây dựng dòng tiền của dự án.
- Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý: thẩm định năng lực, trình độ,
chuyên môn, kinh nghiệm cũng như khả năng quản lí, khai thác dự án. Đây là khía cạnh
thường ít được quan tâm khi thẩm định dự án tuy nhiên do nhận thức được tầm ảnh hưởng
của vấn đề nên trong quy trình thẩm định, các cán bộ tín dụng tại đây rất chú trọng để phân
tích nhu cầu nhân lực và trình độ tổ chức quản lý của dự án. Thực tế cho thấy rất nhiều dự
án dù tính toán chi phí và hiệu quả kinh tế vẫn thất bại khi thực hiện mà nguyên nhân dẫn
đến lại là do trình độ quản lý yếu kém, nhân lực không đủ trình độ đáp ứng yêu cầu kỹ
thuật.
- Thẩm định tài chính dự án: đây là nội dung lớn, là khía cạnh chính trong quá trình
thẩm định dự án; là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả của dự án và trên cơ sỏ đó đánh
giá được khả năng trả nợ của khách hàng. Nội dung thẩm định dự án có mối liên hệ mật
thiết đối với các nội dụng khác của công tác thẩm định trong đó khía cạnh thị trường và
phương án kỹ thuật cùng tổ chức quản lí là 3 nội dung quan trọng nhất. Nội dung thẩm định
tài chính này sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần sau.
- Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: đứng trên góc độ ngân hàng thì hiện
nay khía cạnh này vẫn đang còn được phân tích khá hạn chế, chưa có sự quan tâm đúng đắn
khi đánh giá các tác động của dự án tới môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, xã hội.
1.2.3. Thẩm định tài sản bảo đảm
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Mặc dù
đã trải qua các khâu thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định cả khả năng trả nợ của dự án,
của khách hàng trước khi ra quyết định cho vay nhưng vẫn chưa thể loại bỏ được những rủi
ro tín dụng. Bảo đảm tiền vay là cách thức ràng buộc khách hàng để thu hồi nợ và giảm
thiểu rủi ro tín dụng đã được sử dụng hiệu quả đối với các dự án tại SGD.
4
Để đảm bảo tiền vay thực sự thực sự có hiệu quả đòi hỏi giá trị bảo đảm phải lớn
hơn nghĩa vụ được bảo đảm, tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra dòng tiền tức là
có giá trị và có thị trường để tiêu thụ, cuối cùng tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sở pháp
lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Các cách thực hiện bảo đảm tín dụng bao gồm bảo đảm bằng tài sản thế chấp, bảo
đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm bằng hình
thức bảo lãnh của bên thứ ba.
- Bảo đảm bằng tài sản thế chấp: tài sản thế chấp là bất động sản thuộc quyền sở hữu
4
Bảo đảm tiền vay được thực hiện theo Nghị định 178/1999/NĐ – CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các
tổ chức tín dụng và Nghị định 85/2002/NĐ – CP ngày 25/10/2002 về sửa đổi, bổ sung Nghị định 178
CH18G - NHÓM 06 Page 6
của bên đi vay (nhà ở, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tài sản khác gắn liền với chúng)
hoặc giá trị quyền sở hữu đất hợp pháp.
- Bảo đảm bằng tài sản cầm cố: là cách thức bên đi vay giao tài sản là các động sản
thuộc sở hữu để đảm bảo khả năng trả nợ như máy móc thiết bị, phương tiện đi lại
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: là cách thức khách hàng sử dụng tài
sản có giá trị được tại ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của ngân hàng. Tuy nhiên
đây không phải là cách thức được sử dụng rộng rãi mà nó chỉ áp dụng đối với các dự án
được ưu tiên như các dự án thực hiện theo quyết định của Chính phủ hay các dự án trung,
dài hạn đầu tư phát triển của khách hàng có tín nhiệm, khách hàng truyền thống, khách hàng
có khả năng tài chính lành mạnh, có dự án đầu tư khả thi hay những dự án có mức vốn tự có
ít nhất đạt 70% tổng vốn đầu tư.
- Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: đây là cách thức thực hiện bảo đảm
thông qua sự bảo lãnh của bên thứ ba, bên này sẽ thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ thay cho
bên đi vay đối với bên cho vay. Có hai loại bảo lãnh là bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh
bằng tín chấp.
Việc thẩm định giá trị pháp lí của tài sản bảo đảm là rất cần thiết, các tài sản đảm
bảo như nhà xưởng, đất đai, phương tiện đi lại hay những tài sản hình thành từ chính dự án
vay vốn cần phải thẩm định quyền sở hữu để làm chứng thực cho tài sản đó.
Bên cạnh việc thẩm định giá trị pháp lí, thẩm định giá trị thị trường tài sản bảo đảm
nợ vay lại rất quan trọng bởi điểu kiện pháp lí mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều
kiện đủ đảm bảo khả năng thanh lí tài sản để thu hồi nợ khi cần thiết. Khi tiến hành thẩm
định tài sản bảo đảm, các cán bộ tín dụng thường tiến hành phân loại loại hình tài sản: tài
sản hữu hình và tài sản vô hình để thuận lợi cho việc đánh giá dòng tiền theo giá trị thị
trường.
1.3. Phương pháp thẩm định dự án
Nhìn chung, phương pháp thẩm định tại SGD là sự kết hợp nhuần nhuyễn các
phương pháp vốn có, đó là sự kết hợp giữa 5 phương pháp thẩm định phổ biến; thẩm định
theo trình tự kết hợp thẩm định theo phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu cùng với
phương pháp dự báo thống kê và phương pháp phân tích độ nhạy, triệt tiêu rủi ro để tiến
hành phân tích toàn bộ các nội dung của dự án.
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, việc lựa chọn phương pháp thẩm định rất
quan trọng. Phương pháp thẩm định đưa ra cách thức xử lí thông tin để cán bộ thẩm định
đánh giá một cách hiệu quả nhất. Cụ thể đó là khi tiến hành thẩm định một dự án, cách thức
tiến hành thẩm định luôn tiến hành từ thẩm định tổng quát đến thẩm định chi tiết (thẩm định
CH18G - NHÓM 06 Page 7
theo trình tự); thẩm định tổng quát nhằm đánh giá tính đầy đủ, hợp lí của dự án trong hồ sơ
dự án, tính pháp lí của chủ đầu tư để từ đó có cái nhìn tổng quan nhất về dự án; thẩm định
chi tiết nhằm phát hiện ra những thiếu sót của dự án để hoàn tất các nội dụng thẩm định.
Khi tiến hành thẩm định theo trình tự như trên, quy trình thẩm định cũng gắn kết phương
pháp so sánh, đánh giá theo mỗi nội dung cần thẩm định làm cơ sở trong cả đánh giá tổng
quát dự án và cả đánh giá chi tiết dự án. Trong quá trình phân tích, phương pháp dự báo là
công cụ hữu hiệu để đưa ra dự báo các thông số chi phí, doanh thu trong suốt quãng đời của
dự án, với các phương pháp được sử dụng chính như phương pháp định mức, lấy ý kiến
chuyên gia, ngoại suy thống kê.
Phân tích độ nhạy và triệt tiêu rủi ro là phương pháp được sử dụng hỗ trợ lẫn nhau
khi thẩm định tài chính dự án cụ thể là đánh giá nội dung rủi ro vì dòng tiền của mỗi dự án
thường biến đổi theo nhiều yếu tố, mỗi yếu tố lại có một xu hướng biến đổi, dao động riêng
và không chỉ có từng yếu tố tác động riêng rẽ mà sẽ có nhiều yếu tố đồng thời tác động lên
dòng tiền của dự án như các yêu tố chi phí nguyên nhiên vật liệu, giá cả, lãi suất Từ đó sẽ
giúp phía ngân hàng định dạng được những rủi ro theo từng giai đoạn và yếu tố nhạy cảm
nhất đối với dự án và đưa ra biện pháp quản lí cần thiết. Hiện nay, với sự hỗ trợ của các
phần mềm việc phân tích độ nhạy, nhất là phân tích theo nhiều chiều đã trở nên dễ dàng
hơn, tuy nhiên quan trọng vẫn là việc xác định được các yếu tố nhạy cảm, mức độ biến
động của các yếu tố đó.
2. Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch.
Trong quy trình thẩm định dự án đầu tư, để đảm bảo tính an toàn cho nguồn vốn vay,
các ngân hàng đều phải tiến hành thẩm định trên nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó thẩm
định tài chính là khía cạnh được quan tâm lớn nhất, nó có ý nghĩa quyết định trong các nội
dung thẩm định.
2.1. Vai trò của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của mỗi Ngân hàng thương mại,
trong đó tín dụng dự án luôn được đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu tư
kéo dài, chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội nên tiềm ẩn
nhiều rủi ro khó định trước. Thẩm định dự án đầu tư là công tác thiết yếu đối với hoạt động
tín dụng; cần phải được tiến hành trên mọi phương diện để có cái nhìn khách quan trước khi
cho vay, trong đó thẩm định tài chính dự án là một nội dung mắt xích của thẩm định dự án,
đây là một yêu cầu bắt buộc, mang tính chất tất yếu vì kết quả của nội dung thẩm định tài
chính có liên quan mật thiết tới mọi nội dung của thẩm định tài chính; hơn nữa kết quả của
nội dung này không những là cơ sở để đánh giá tính khả thi của dự án mà qua đó còn là căn
CH18G - NHÓM 06 Page 8
cứ để ngân hàng đánh giá khả năng thu hồi nợ của mình. Với mục tiêu an toàn và sinh lời,
ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có hiệu quả tài chính.
Công tác thẩm định tài chính có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào chất lượng
thẩm định tài chính dự án. Dưới góc độ Ngân hàng, chất lượng thẩm định tài chính được
hiểu là tiêu chí để đánh giá sự đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của Ngân hàng thông qua các
tiêu chí như quy trình thẩm định khoa học và toàn diện, thời gian thẩm định nhanh chóng và
hiệu quả, phương pháp thẩm định khoa học và phù hợp, trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm
định, mức độ rủi ro tín dụng thấp và có khả năng thu hồi nợ. Việc nâng cao chất lượng công
tác thẩm định tài chính ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng công tác thẩm định và tới hoạt
động cũng như uy tín của ngân hàng bởi nếu buông lỏng thẩm định tài chính thì tỷ lệ nợ xấu
gia tăng, ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc khó khăn trong thu hồi gốc và lãi, làm giảm uy
tín và giảm hiệu quả kinh doanh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính bao gồm năng lực, trình độ
của cán bộ thẩm định; thông tin cho quá trình thẩm định; phương pháp, tiêu chuẩn thẩm
định; hệ thống trang thiết bị phục vụ quá trình thẩm định; công tác tổ chức thẩm định.
Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan khác như tình hình kinh tế vĩ
mô, điều kiện pháp lí và chất lượng lập dự án của doanh nghiệp.
2.2. Phương pháp thẩm định tài chính dự án
Phương pháp thẩm định tài chính dự án được tiến hành dựa theo phương pháp thẩm
định chung. Như đã trình bày ở trên, thẩm định dự án có 5 phương pháp chính gồm có thẩm
định theo trình tự; thẩm định theo phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu; phương
pháp phân tích độ nhạy; phương pháp dự báo và phương pháp triệt tiêu rủi ro; trong đó 3
phương pháp phổ biến hiện nay được ngân hàng sử dụng để thẩm định tài chính là phương
pháp so sánh, đối chiếu chỉ tiêu và phương pháp độ nhạy, triệt tiêu rủi ro.
Phương pháp so sánh, đối chiếu chỉ tiêu là cách thức ngân hàng so sánh, đối chiếu
các nội dung tài chính dự án với các tiêu chuẩn về thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn
công nghệ, tiêu chuẩn sản phẩm, các chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư, các định mức
tiêu hao nguyên nhiên vật liệu của những chuẩn mực luật pháp quy định cũng như của
kinh nghiệm thực tế, của các dự án tương tự trong thời gian gần để xác định tổng vốn đầu
tư, xác định tính hợp lí của dòng tiền và đánh giá hiệu quả dự án. Các chỉ tiêu được lựa
chọn dựa trên sự phù hợp của dự án theo thời gian, không gian với điều kiện và đặc điểm cụ
thể nơi dự án diễn ra.
Hai phương pháp phân tích độ nhạy và triệt tiêu rủi ro hiện đang được ngân hàng áp
dụng để đánh giá kiểm định tính an toàn, vững chắc của hiệu quả dự án; phương pháp phân
CH18G - NHÓM 06 Page 9
tích độ nhạy dựa trên việc tính toán để nhận biết các yếu tố nhạy cảm đối với dự án còn
phương pháp triệt tiêu rủi ro chủ yếu dựa trên các biện pháp kinh tế và hành chính thích hợp
để hạn chế thấp nhất hoặc phân tán rủi ro. Phân tích độ nhạy thường dự kiến những tình
huống xấu có thể xảy ra xung quanh sự biến động của các yếu tố chi phí đầu tư, giá cả yếu
tố đầu vào, giá thành đầu ra ; còn phương pháp triệt tiêu rủi ro lại đánh giá rủi ro theo 2
giai đoạn là thực hiện dự án và sau khi đi vào hoạt động để có biện pháp quản lí thích hợp
như rủi ro do chậm tiến độ, rủi ro cung cấp dịch vụ kỹ thuật, rủi ro cung cấp các yếu tố đầu
vào, rủi ro thiếu vốn kinh doanh, rủi ro quản lí điều hành dự án Hai phương pháp này
được sử dụng tương hỗ với nhau để đánh giá toàn diện hơn rủi ro đối với dự án.
2.3. Nội dung thẩm định tài chính dự án.
Các nội dung của thẩm định tài chính luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, nội dung
bao gồm: thứ nhất là thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như
phương thức tài trợ vốn; thứ hai, thẩm định dòng tiền của dự án; thứ ba, thẩm định lãi suất
chiết khấu đối với dự án; thứ tư, thẩm định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính; thứ
năm là đánh giá rủi ro trong dự án. Dựa trên các kết quả phân tích trên sẽ đưa ra các kết
luận chung về tính khả thi về tài chính của dự án để làm căn cứ ra quyết định cho vay.
2.2.1. Thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ
Tổng mức dự toán vốn đầu tư là mức vốn đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu
động để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động, bao gồm vốn cho chuẩn bị đầu tư, vốn thực
hiện đầu tư, vốn cho giai đoạn kết thúc đầu tư, lãi vay và vốn lưu động ban đầu cho sản xuất
hoặc vốn lưu động bổ sung. Xác định tổng mức dự toán và độ biến động của chỉ tiêu này có
ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện dự án đầu tư. Phương pháp sử dụng để tính
toán tổng vốn đầu tư thường kết hợp giữa phương pháp cộng chi phí và phương pháp định
mức dựa trên việc so sánh đối chiếu với các dự án cùng loại khác hoặc những dự án tương
tự; đối với những dự án mới thì việc xác định tổng mức vốn đầu tư sẽ trở nên khó khăn hơn
vì chưa có cơ sở để phân tích mà chủ yếu dựa trên những ước lượng.
Dự toán tốt tổng vốn đầu tư sẽ đảm bảo dự án được diễn ra đúng tiến độ, đảm bảo
khối lượng công việc, giúp chủ đầu tư chủ động các tình huống có thể diễn ra nếu có sự
biến động ảnh hưởng tới dự án. Đồng thời là cơ sở để các ngân hàng quyết định mức vốn
cho vay, thời gian, quy mô, phương thức giải ngân vốn vay. Nếu dự toán mức vốn đầu tư
sai lệch nhiều so với thực tế phản ánh không chính xác các chỉ tiêu tài chính của dự án,
ngoài ra nếu quá thấp thì dự án sẽ thiếu hụt vốn, lâm vào tình trạng trì trệ, không thực hiện
được dự án; nếu dự toán vốn quá cao thì sẽ gây nên tình trạng lãng phí, sử dụng vốn không
hiệu quả. Vì vậy, khi thẩm tra tổng dự toán vốn đầu tư, tại SGD luôn chú ý kiểm tra tính
CH18G - NHÓM 06 Page 10
chính xác, đầy đủ các chỉ tiêu, thông số chi phí của dự án.
Không chỉ mức dự toán mà cơ cấu nguồn tài trợ cũng có ảnh hưởng tới kết quả các
chỉ tiêu tài chính, bởi xác định nguồn tài trợ cho dự án sẽ xác định cơ cấu vốn cho dự án.
Một dự án có cơ cấu vốn càng tối ưu, càng sử dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính thì
dự án càng có hiệu quả. Thông thường, mỗi một dự án được tài trợ bởi hai nguồn chính là
vốn chủ sở hữu và vốn vay, trong đó lượng vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn. Việc xác
định mức vốn đầu tư theo từng giai đoạn dự án là căn cứ để xây dựng bảng cân đối vốn đầu
tư đảm bảo khả năng huy động vốn phải luôn lớn hơn nhu cầu sử dụng vốn. Khi thẩm định
các nguồn tài trợ cho dự án phải thẩm định cả cơ sở pháp lí và khả năng huy động của các
bên.
Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn dài
hạn (D/E), nó ảnh hưởng tới việc xây dựng dòng tiền của dự án và lựa chọn lãi suất chiết
khấu hợp lý. Đối với việc xác định dòng tiền phù hợp của dự án, cùng một khoản lợi nhuận
trước thuế và lãi vay (EBIT) thì việc sử dụng nợ theo một cơ cấu thích hợp sẽ làm tăng giá
trị của dự án cũng như của doanh nghiệp.
2.3.2. Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án là sự chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án
theo từng năm.
Dòng tiền từng năm được kí hiệu là CF
i
, tùy vào cơ cấu vốn và phương thức trả nợ
thì có cách xác định CF
i
khác nhau. Trong trường hợp này ta chỉ đề cập tới cơ cấu vốn hỗn
hợp và do trong thực tế có hai phương thức thanh toán nên dòng tiền được xác định như
sau:
+ Thanh toán theo niên kim là xem trả lãi và vốn vay hàng năm là một dòng tiền ra
CF
i
= LNST + Khấu hao TSCĐ – trả gốc vay
CF
o
= vốn chủ sở hữu
+ Thanh toán theo phương thức lãi trả hàng năm, vốn trả vào năm cuối đời dự án
CF
i
= LNST + Khấu hao TSCĐ + lãi vay
CF
0
= vốn chủ sở hữu + vốn đi vay
Với các dự án có quy mô tương đối lớn tại SGD hiện nay, để đảm bảo tính an toàn
thì thường yêu cầu chủ đầu tư trả gốc và lãi vào cuối các năm theo yêu cầu về thời gian, quy
mô.
Để đảm bảo tính chính xác trong việc tính toán doanh thu, chi phí cần đảm bảo sự
đầy đủ về các tiêu chí thực thu, thực chi cũng như xác định hợp lý doanh thu, chi phí dựa
trên cơ sở so sánh với thực tế hoặc cân đối với giá thị trường. Doanh thu không chỉ có thu
CH18G - NHÓM 06 Page 11
từ sản phẩm chính mà còn bao gồm khoản thu từ sản phẩm phụ, phế liệu, phế phẩm, thu từ
thanh lí. Khi xác định, công tác thẩm định luôn chú trọng vào cách tính khấu hao và cách xử
lý lạm phát.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính khấu hao khác nhau như khấu hao đều, khao
hao giảm dần theo giá trị còn lại Mỗi phương thức khấu hao lại có cách xác định thời gian
và các khoản mục tính khấu hao khác nhau từ đó sẽ làm thay đổi chi phí và dòng tiền của
dự án. Lạm phát là yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới kết quả của dự án, ước lượng tỷ lệ lạm phát
là điều kiện cần thiết tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng lạm phát không chỉ tác động lên
yếu tố đầu vào của dự án mà còn tác động lên sản phẩm đầu ra của dự án; vì vậy điều kiện
đủ khi xét đến tác động của lạm phát là cần đánh giá được mức độ tác động lên doanh thu
và chi phí của dự án. Nếu sự tác động là tương đối đồng đều thì ta có thể bỏ qua yếu tố lạm
phát, nếu lạm phát tác động làm tăng doanh thu lớn hơn hay nhỏ hơn tới chi phí thì khi đó
cần có sự đánh giá, ước lượng rõ ràng hơn để đảm bảo tính chính xác của các chỉ tiêu tài
chính.
Bên cạnh đó việc tính hợp lý việc phân bổ chi phí khác cũng được quan tâm chi phí
quản lý chung (chi phí quản lý, chi phí hành chính, chi phí bảo hiểm, tiền lương ), các
khoản thuế, nhất là thuế đầu vào, đầu ra, khoản thuế được khấu trừ. Tùy vào đặc thù của
từng dự án mà có sự điều chỉnh phù hợp với các chi phí này, như các dự án có sản phẩm cần
nhập khẩu nguyên vật liệu, xuất khẩu sản phẩm
2.3.3. Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, là cái giá mà chủ sở hữu vốn đó
(nói chung cho cả chủ đầu tư và ngân hàng) phải trả khi đầu tư vào dự án hay nói cách khác
đây là suất sinh lời yêu cầu tối thiểu mà dự án phải đạt được. Việc xác định chính xác lãi
suất chiết khấu là điều tối quan trọng để đánh giá độ tin cậy của NPV tuy nhiên vấn đề xác
định lãi suất chiết khấu của các dự án hiện nay vẫn đang còn khá đơn giản, chủ yếu vẫn dựa
trên lãi suất cho vay tức là chỉ xét trên quan điểm của ngân hàng, điều này đồng nghĩa với
việc đồng nhất rủi ro của ngân hàng là rủi ro của dự án và của doanh nghiệp . Đứng trên góc
độ doanh nghiệp khi tiến hành xác định lãi suất chiết khấu thường mang tính chủ quan, ước
lượng nhiều hơn là đánh giá thực tế, các doanh nghiệp thường lấy mức lãi suất tiền gửi trên
thị trường ngân hàng để tính toán.
Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn tỷ suất chiết khấu đó là phân tích rủi ro, khả
năng sinh lời của dự án và việc lựa chọn cơ cấu vốn. Nếu rủi ro của dự án bằng rủi ro của
doanh nghiệp thì suất chiết khấu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, nếu độ rủi ro của dự án
cao hơn độ rủi ro của doanh nghiệp thì suất sinh lời tối thiểu của dự án phải cao hơn suất
CH18G - NHÓM 06 Page 12
sinh lời của doanh nghiệp. Lãi suất chiết khấu thường được xác định là lãi suất bình quân
của các nguồn vốn tài trợ dự án bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu.
Chính vì vậy, để đảm bảo tính chính xác của lãi suất chiết khấu thì các dự án tại
SGD tiến hành thẩm định lại thông qua việc đánh giá xếp hạng doanh nghiệp theo 5 bước
bao gồm các khía cạnh như lĩnh vực kinh doanh, quy mô, đánh giá các chỉ tiêu tài chính và
phi tài chính.
- Bước 1: xác định ngành, lĩnh vực và cơ cấu doanh thu theo ngành nghề, lĩnh vực
Có 4 nhóm ngành, lĩnh vực là nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ, cơ sở phân loại là dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp
đó. Việc xác định ngành, lịch vực kinh doanh là cơ sở cho các bước tiếp theo.
- Bước 2: chấm điểm quy mô
Đây là bước xác định loại doanh nghiệp lớn, trung bình hay nhỏ dựa trên tổng điểm
của các tiêu chí về vốn kinh doanh, lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp ngân sách.
- Bước 3: chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
(Nội dung đã được trình bày ở phần thẩm định nội dung tài chính của khách hàng)
- Bước 4: chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính
Bao gồm các tiêu chí:
+ Các chỉ tiêu vĩ mô liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp: môi trường kinh
doanh, chu kỳ kinh doanh, triển vọng tăng trưởng của ngành,áp lực cạnh tranh, nguồn cung
ứng đầu vào.
+ Các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp: thời gian hoạt động của
doanh nghiệp, đánh giá về sản phẩm, thị phần, công nghệ, tính ổn định của nguồn nguyên
liệu, địa điểm kinh doanh, loại hình doanh nghiệp, trình độ - tư cách – kinh nghiệm nhà lãnh
đạo.
+ Uy tín trong quan hệ tín dụng với tất cả các TCTD: trả nợ đúng hạn, số lần cơ cấu
lại thời hạn trả nợ, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ vay của doanh nghiệp, tỷ lệ lãi quá hạn
trong vòng 12 tháng và số lần cam kết mất khả năng thanh toán (L/C, bảo lãnh, cam kết
khác )
+ Mức độ quan hệ với MSB: mức độ quan hệ tín dụng, doanh thu chuyển qua MSB/
tổng doanh thu trong 12 tháng qua, giá trị tài sản bảo đảm tại MSB/ dư nợ tại MSB, cung
cấp thông tin đầy đủ và chính xác theo yêu cầu của MSB.
- Bước 5: tổng hợp điểm và xếp hàng khách hàng
Sau khi tổng hợp điểm, phần mềm sẽ tự động tính toán để xếp hạng doanh nghiệp.
Các thang hạng giảm dần như AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C.
CH18G - NHÓM 06 Page 13
Có thể thấy các tiêu chí khi đánh giá doanh nghiệp rất đầy đủ, nó đã bao gồm tất cả
mọi khía cạnh từ đánh giá các rủi ro tài chính, rủi ro phi tài chính, khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Vì vậy, đối với từng hạng doanh nghiệp mà có mức lãi suất cho vay nhất
định. Từ đây, ngân hàng sẽ quyết định lãi suất chiết khấu theo công thức sau:
Lãi suất chiết khấu = lãi suất vay + % biên độ lãi ròng của MSB
Tuy nhiên công thức này vẫn chưa xác định lãi suất cho vay dựa trên chi phí cơ hội của
vốn chủ sở hữu.
2.3.4. Thẩm định chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
Trong quá trình lập dự án khi quyết định đầu tư khách hàng thường dựa trên kết quả
của hệ thống các chỉ tiêu tài chính như NPV, IRR, PP. Tuy nhiên với mong muốn được
ngân hàng chấp nhận cho vay vốn nên các con số này thường cố tình được sửa đổi, hơn nữa
phương pháp tiến hành còn đơn giản nên việc thẩm định, tính toán lại các chỉ tiêu tài chính
là rất quan trọng.
 Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value)
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả dự án đầu tư vì nó thể hiện giá trị tăng
thêm cho chủ đầu tư, là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại các dòng tiền ròng kỳ vọng thu
được với giá trị hiện tại của vốn đầu tư bỏ ra tại mốc 0. Công thức xác định NPV như sau:
NPV = - CF
O
Trong đó: r là lãi suất chiết khấu, giả định không thay đổi qua các năm
n là tuổi thọ của dự án
Hiện nay có thể tính NPV trên phần mềm Excel bằng cách nhập các thông số thông
qua hàm NPV:
NPV = (rate, value1,value2 )
Rate là r – lãi suất chiết khấu
Value1, value 2 là dòng tiền hàng năm.
Ý nghĩa kinh tế của NPV như sau:
+ NPV > 0 nghĩa là dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn, tức là
không những bù đắp được vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo thêm lợi nhuận, lợi nhuận này được
xem xét trên cơ sở giá trị thời gian của tiền.
+ NPV = 0 nghĩa là dự án có suất sinh lời bằng với chi phí chi phí cơ hội của vốn.
Lúc này, dự án có thể vẫn được chấp nhận.
+ NPV < 0 nghĩa là dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội của vốn, lúc này
dự án bị thua lỗ.
Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án có nhiều điểm thuận lợi như có tính đến giá
CH18G - NHÓM 06 Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét