Đề án môn học
trăm nghìn khách du lịch đến hàng năm, lợng rác thải tỉ lệ thuận với số khách
đó. Mặt khác lợng khách đông tạo ra nguy cơ quá tải cho điểm du lịch và gây
tổn hại đến tài nguyên du lịch tại đây.
Ngoài các nhân tố trên, còn kể đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch.
Cũng nh các quy định, quy chế nơi đây. Chính điều đó vô hình chung đã tạo ra
sự nơi lỏng trong công tác quản lý mọi mặt và gây tác động xấu đến môi trờng.
1.1.2.2. Hậu quả từ những tác động đó
Về trớc mắt, ô nhiễm môi trờng và sự suy giảm giá trị tài nguyên là điều
khó tránh khỏi. Mặt khác sự ô nhiễm không khí, nguồn nớc tại điểm du lịch
chùa Hơng có thể ảnh hởng đến các vùng lân cận và do đó sức khoẻ của khách
du lịch, của ngời dân cũng bị ảnh hởng gây ra nguy cơ làm giảm chất lợng cuộc
sống.
Nếu xét về lâu dài, nếu sự ô nhiễm đó không đợc cải tạo và hạn chế đến
mức tối thiểu thì tại các điểm du lịch ở nớc ta nói chung, điểm du lịch chùa H-
ơng nói riêng lợng khách du lịch có nguy cơ xu hớng ít tham quan hơn đồng
thời các điểm du lịch này sẽ không thể tiếp tục khai thác đợc nữa.
1.1.3. Lợi ích của vấn đề bảo vệ môi trờng tại các điểm du lichk
Nhìn chung việc bảo vệ môi trờng tại bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt động
tích cực và có lợi. Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việc bảo vệ
môi trờng mang lại những lợi ích sau:
1.1.3.1. Lợi ích cho toàn xã hội
Xét một cách toàn diện, xã hội sẽ giảm bớt các chi phí phục vụ cho việc
cải tạo môi trờng. Mặt khác những chi phí có liên quan do môi trờng ô nhiễm
tác động đến cũng đợc giảm bớt. Đồng thời chất lợng cuộc sống và môi trờng
của toàn xã hội đợc nâng cao.
1.1.3.2. Lợi ích cho khách du lịch
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
5
Đề án môn học
Trớc hết khách du lịch sẽ đợc tham quan trong bầu không khí trong lành
và rất có lợi cho sức khoẻ.
Thứ hai, khách du lịch có cơ hội chiêm ngỡng những tài nguyên du lịch
nguyên sơ, mang đậm chất cổ kính và dấu ấn của thời gian.
Thứ ba, nếu lợng ô nhiễm lớn và chi phí cho việc cải tạo sự ô nhiễm đó
lớn thì khách du lịch sẽ phải chịu một phần chi phí thông qua giá vé cũng nh
các dịch vụ khác. Do đó khách du lịch có thể sẽ giảm bớt đợc chi phí của mình
nếu môi trờng tại điểm du lịch đợc bảo vệ tốt.
1.1.3.3. Lợi ích cho dân c và chính quyền sở tại
Thứ nhất, chính quyền sở tại sẽ giảm bớt chi phí cũng nh nguồn nhân lực
cho vấn đề bảo vệ môi trờng tại địa bàn.
Thứ hai, các khâu quản lý sẽ đơn giản cũng nh có thể khai thác tối đa tài
nguyên du lịch tại vùng phục vụ cho khách du lịch.
Thứ ba, nếu vấn đề môi trờng đợc bảo vệ tốt, lợng khách du lịch sẽ đông
và kéo theo có nhiều công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho dân c.
Thứ t, trong tơng lai sẽ có nhiều dự án đầu t cho sự phát triển du lịch tại
địa bàn nhằm mục đích thu hút càng nhiều du khách. Nếu các dự án đó hợp lý
và mang tính khả thi, đó sẽ là nguồn lợi lớn không chỉ cho quốc gia mà cho cả
chính quyền và dân c sở tại.
1.1.3.4. Lợi ích cho các nhà cung ứng
Trong mối quan hệ giữa khách du lịch - Nhà cung ứng - điểm du lịch, các
nhà cung ứng luôn là trung gian cung cấp nhiều dịch vụ đến khách. Do đó du
lịch càng phát triển sẽ càng có lợi cho các nhà cung ứng, đồng thời tăng ngân
sách quốc gia.
1.1.3.5. Lợi ích trong viêc giữ gìn các tài nguyên du lịch và giữ gìn các
di sản văn hoá cho các thế hệ sau. Đó cũng chính là nội dung trong chiến lợc
phát triển bền vững mà các cấp, các ban ngành đang nỗ lực thực hiện.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
6
Đề án môn học
1.2. Lợi thế trong vấn đề bảo vệ môi trờng tại điểm du lịch Chùa H-
ơng
1.2.1. Lợi thế về sự quan tâm của các cấp lãnh đạo TW và địa phơng.
Vì đây chính là một danh thắng cần đợc giữ gìn và tôn tạo, vì vậy sở
khoa học công nghệ và môi trờng Hà Tây trong những tháng cuối năm 2002 đã
có những cuộc khảo sát và nghiên cứu thực tế trớc sự hỗ trợ của Sở và Tổng cục
du lịch. Bớc đầu đã có một số kết luận sơ bộ và có dự án cải tạo môi trờng tại
đây trong giai đoạn 2006-2010.
1.2.2. Nguồn kinh phí lớn thu đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần
thúc đẩy đợc hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần thúc đẩy các dự án bảo vệ
môi trờng tại nơi đây. Theo báo Hà Tây số ra ngày 18-5-2003, sau khi kết thúc
đợt lễ hội xuân 2003, nguồn thu từ việc bán vé thu đợc trên 10 tỉ đồng. Nếu làm
một phép tính đơn giản so với năm 2004 vừa qua có thể thấy con số này sẽ lớn
hơn vì số lợng khách đổ về đây trong dịp lễ hội xuân 2004 lớn hơn 2003.
1.2.3. Lợi thế về nguồn lao động tại chỗ
Xã Hơng Sơn - địa bàn có chùa Hơng, có lợng lao động lớn d thừa sau
mỗi vụ lễ hội. Vì vậy nếu những dự án bảo vệ môi trờng thực thi có thể sẽ giải
quyết phần nào công ăn việc làm của dân c sau mỗi vụ lễ hội, tránh đợc cảnh:
"ngời dân Hơng Sơn làm 3 tháng ăn cả năm" (Báo Hà Tây tháng 9-2002) trong
một thời gian ngắn.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
7
Đề án môn học
Chơng 2
Thực trạng môi trờng tại địa điểm du lịch
chùa Hơng
2.1. Sự xuống cấp của các tài nguyên du lịch
2.1.1. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1. Lợng khách du lịch hàng năm đổ về chùa Hơng rất đông.
Tuy nhiên mạng lới vận chuyển khách còn ít và sơ sài đã gây nên tình
trạng tắc nghẽn đôi lúc tại các hang động, tại các chùa. Điều đó vô hình chung
cộng với ý thức bảo vệ các di sản, các tài nguyên du lịch của du khách còn kém
đã gây ra những tác động tiêu cực làm h hại nhiều đến các hang động, tợng đá,
nhũ đá, chùa chiền
Trích dẫn lời tác giả Đoàn Xuân Hoà trên báo giáo dục thời đại có đoạn:
"Với lợng khách đổ về Hơng Sơn hàng năm ngày càng tăng, nếu mỗi ngời cứ tự
ý mình có những hành động gây tổn hại đến cảnh quan nơi đây, thì vài chục
năm nữa những thế hệ sau khi đến đây chỉ đợc chiêm ngỡng những công trình
do con ngời xây dựng".
2.1.1.2. Chính quyền và dân c sở tại có sự khai thác quá mức gây ra sự
xuống cấp của tài nguyên du lịch nơi đây
Trớc đây các cấp, ban ngành có liên quan đến du lịch đều cho rằng, lợng
khách du lịch đến các điểm du lịch càng nhiều sẽ là một dấu hiệu tốt chứng tỏ
điểm du lịch đó đang thu hút khách du lịch. Điều đó xét trên một khía cạnh nào
đó là rất đúng. Tuy nhiên họ đâu biết tằng nếu cứ tiếp tục để tình trạng đó xảy
ra thì trong tơng lai có thể sẽ không còn khả năng khai thác đợc tại điểm du lịch
đó nữa, bởi vì mỗi điểm du lịch chỉ có một sức chứa nhất định và lợng khách du
lịch tại một thời điểm nào đó phải luôn nhỏ hơn hoặc bằng sức chứa đó.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
8
Đề án môn học
Hiện nay chính quyền xã Hơng Sơn và Sở du lịch Hà Tây vẫn cha nhận
thức đúng đắn về nguyên tác đó. Vì vậy tình trạng quá tải về khách du lịch diễn
ra hàng ngày tạiđây (nhất là những ngày nghỉ) mỗi dịp lễ hội.
2.1.3. Nghịch lý giữa thu và chi: "Nhiều công trình, điểm du lịch h hỏng,
xuống cấp nhng cha đợc tồn tại".
Với nguồn thu hàng năm cộng với sự hỗ trợ của nhà nớc và tổng cục du
lịch là những nguồn kinh phí lớn cho việc thực hiện các dự án trùng tu và cải tạo
tại đây. Tuy nhiên, tiền "rót" xuống thì nhiều nhng việc sử dụng lại cha có hiệu
quả hoặc không hiệu quả. Vì vậy cần có biện pháp quan tâm hơn nữa đến việc
sử dụng các nguồn kinh phí trong việc thực thi các dự án trùng tu tại đây.
2.1.4. Phải chăng các ban ngành chức năng làm ngơ hoặc bất lực trớc
những hành vi phá hoại của ngời dân nơi đây?
Cứ sau mỗi mùa lễ hội, ngời dân nơi đây cho nổ mìn lấy đá (có tổ chức)
là một việc làm phổ biến. Tuy nhiên họ không có ý thức đợc hiểm hoạ mà họ
gây ra trớc mắt và lâu dài. Mặt khác chính quyền nơi đây dờng nhu làm ngơ tr-
ớc những việc làm đó và cứ để nó diễn ra thờng xuyên. Thiết nghĩ các ban
ngành chức năng cần có những biện pháp tích cực hơn để ngăn ngừa và chấm
dứt những hành vi gây hại trên.
2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Nhìn chung, các tài nguyên du lịch nhân văn tại chùa hơng mang đậm
những nét kiến trúc độc đáo của ngời xa. Tuy nhiên cùng với thời gian và khí
hậu bất ổn của nớc ta, hầu hết các công trình kiến trúc này đều đã qua tu sửa.
Nhng những năm gần đây, lợng khách du lịch về đây rất đông, đôi lúc quá tải
đã dẫn đến hiện tợng nhiều công trình bị xuống cấp nghiêm trọng. Vì vậy các
ban ngành liên quan cần có biện pháp và dự án trùng tu kịp thời, nhng không
làm mất đi vẻ vốn có của nó. Điều đó không chỉ giữ nguyên giá trị cho tài
nguyên đó, đồng thời sẽ giúp cho khách du lịch có cảm giác an toàn khi thăm
quan tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
9
Đề án môn học
Cũng nh tài nguyên du lịch tự nhiên, các tài nguyên du lịch nhân văn
cũng cha đợc quan tâm đúng mức (ở đây nói về khía cạnh trùng tu, tôn tạo). Do
đó trong tơng lai gần cần quan tâm đúng mức để các tài nguyên du lịch nơi đây
phát huy nguyên những giá trị, phục vụ cho việc thăm quan của du khách.
2.2. Việc xây dựng các đền chùa trái phép có phải là minh chứng cho
thấy giá trị các tài nguyên du lịch đã suy giảm?
Theo thống kê đầy đủ của sở du lịch Hà Tây, từ năm 1998 đến đầu năm
2003 trên tổng thể khu thắng cảnh Hơng Sơn có gần 100 đền chùa lớn nhỏ đợc
xây dựng và chủ yếu do t nhân tự bỏ tiền xây dựng với mục đích chính là kinh
doanh kiếm lời. Khi đợc phỏng vấn và trả lời về thực trạng trên, chủ tịch UBND
xã Hơng Sơn cho biết: "Trong quy hoạch phát triển của xã đã trình lên huyện và
tỉnh, có xin phép cho xây dựng một số ngôi đền, chùa mới nhằm mục đích phục
vụ cho nhu cầu cúng lễ ngày càng tăng của dân ta. Tuy nhiên nhiều hộ trong xã
đã tự ý bỏ tiền xây dựng những ngôi đền nhỏ với mục đích kiếm lời đang là một
thực trạng nhức nhối khó kiểm soát. Trong thời gian tới, đợc sự trợ giúp của
huyện, xã sẽ tổ chức kiểm tra những nơi làm ăn vi phạm và sẽ đóng cửa các nơi
đó".
Nh vậy có thể thấy việc xây dựng tự ý của ngời dân nơi đây không theo
một quy hoạch tổng thể gây nên sự lộn xộn khi thăm quan các di tích và tài
nguyên. Mặt khác việc xây dựng đó kéo theo hàng loạt các vấn đề nảy sinh làm
ảnh hởng đến cảnh quan môi trờng nơi đây và việc giải quyết các vấn đề đó là
bài học lớn trong khâu quản lý xây dựng cho các ban ngành tại đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
10
Đề án môn học
2.3. Sự xuống cấp của môi trờng
2.3.1. Sự ô nhiễm nguồn nớc
2.3.1.1. Biểu hiện
Nếu du khách một lần đến thăm chùa hơng và du thuyền trên bến Đục, có
thể thấy những "vật thể lạ" nổi lềnh bềnh trên sông. Đó có thể là: túi nilon, chai
nớc, đồ ăn và có cảm giác bất an nếu muốn dùng n ớc trên sông.
Hàng năm sau mỗi vụ lễ hội, chính quyền nơi đây không có biện pháp xử
lý các chất thải "nổi đó". Vì vậy qua từng năm, lợng rác thải đó ngày càng
nhiều và một số lợng lớn bị chìm xuống lòng bến Đục và thực sự bến Đục giờ
đây đã đục thật.
Mặt khác, theo số liệu thống kê của Sở Khoa học công nghệ - môi trờng
Hà Tây, số lợng sinh vật tại các dòng sông, dòng suối nằm trong phạm vi xã H-
ơng Sơn đã giảm từ 85 loài (năm 1996) xuống 4 loài (năm 2002). Cũng theo
cuộc khảo sát đó cho thấy nồng độ các chất thải trong nớc đến thời điểm đó cha
vợt quá tiêu chuẩn cho phép nhng cũng không thể dùng cho các sinh hoạt hàng
ngày của ngời dân và nếu cứ tiếp tục để tình trạng ô nhiêm đó kéo dài, trong
một tơng lai không xa nguồn nớc ở nơi đây sẽ không còn giá trị sử dụng nữa.
2.3.1.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, có thể thấy rõ những chất thải đó phần lớn do khách du lịch
hoặc là cố tình hoặc là vô ý hoặc do cha có sự bố trí hợp lý các thùng bỏ rác nên
dẫn đến việc vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm nguồn nớc.
Thứ hai, do các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt phục vụ nhu cầu khách du lịch
rất lớn, lợng phế thải từ quá trình phục vụ đó không đợc xử lý đúng nơi, đúng
chỗ và cũng do sự nhận thức của ngời dân còn kém cho nên đó cũng là nhân tố
gây ô nhiễm nguồn nớc nơi đây.
Thứ ba, lu lợng thuyền bè đi lại phục vụ du khách rất lớn và do đặc điểm
địa hình sông nớc nên việc quản lý là rất khó khăn. Việc mang rác thải đúng nơi
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
11
Đề án môn học
quy định chỉ còn phụ thuộc vào ý thức và nhận thức của du khách.
Thứ t, quá trình xây dựng các công trình, các hạng mục. Việc tôn tạo các
di tích cũng là nguyên nhân gây lên tình trạng ô nhiễm tại đây. Do đó để khắc
phục những tình trạng trên đòi hỏi cần có thời gian và giải pháp thích hợp.
2.3.1.3. Hậu quả
Nếu nói về hậu quả về lâu dài do sự ô nhiễm nguồn nớc gây ra thì khó có
thể lờng hết đợc. Tuy nhiên có thể dễ dàng thấy đợc hậu quả trớc mắt do tác
động của ô nhiễm đó gây ra là rất lớn.
Trớc hết gây nguy hại và ảnh hởng đến chất lợng của cuộc sống ngời dân
nơi đây. Không phải tất cả mọi ngời dân trong xã đều sống dựa vào 3 tháng lễ
hội mà nghề chính của họ vẫn là sản xuất nông nghiệp, nếu tình trạng ô nhiễm
đó ngày một trầm trọng sẽ dẫn đến nguồn nớc sử dụng cho việc tới tiêu, sinh
hoạt bị ảnh hởng. Điều đó là không hợp lý bởi nh vậy chính là vì cái lợi nhỏ mà
quên đi cái lợi lớn.
Thứ hai, với sự phát triển của khoa học công nghệ trong tơng lai, nếu tình
trạng đó không đợc khắc phục thì hiện chăng chùa Hơng có còn là điểm thu hút
khách du lịch nữa hay không.
Thứ ba, hiện trạng ô nhiễm hiện nay còn cha đến mức quá nghiêm trọng.
Nếu không giải quyết kịp thời, trong tơng lai nguồn kinh phí phục vụ cho quá
trình cải tạo có thể lớn gấp nhiều lần mà vẫn không mang lại hiệu quả nh mong
muốn.
2.3.2. Sự ô nhiễm không khí.
2.3.2.1. Thực trạng.
Theo thống kê và khảo sát vào tháng 4 năm 2004 của sở y tế Hà Tây, tỷ
lệ ngời làm việc thời gian dài trong mùa lễ hội tại chùa Hơng có nguy cơ mắc
các bệnh về hô hấp cao gấp 3 lần so với những ngời khác . Mặt khác cũng theo
cuộc khảo sát này cho thấy nồng độ không khí nơi đây trong những ngày cao
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
12
Đề án môn học
điểm của lễ hội cao gần đến tiêu chuẩn cho phép. Thực tế này phản ánh rằng
không khí nơi đây đã có dần hiện suy giảm và nguy cơ đó ngàycàng tăng.
Mặt khác, theo những nhận định của nhiều du kháh có dịp thăm quan vài
lần tại đây, nguồn không khí mỗi năm ngày càng xấu và không còn trong lành
nh trớc nữa. Điều đó cho phép khẳng định rằng chất lợng môi trờng tại đây đã
có dấu hiệu suy giảm bị tổn hại và không đợc trú trọng đúng mực.
2.3.2.2. Nguyên nhân và hậu quả.
Thực tế cho thấy, quá trình xử lý rác thải là một vấn đề vô cùng quan
trọng trong khâu giải quyết vấn đề ô nhiễm tại đây. Chính do sự phân bố rộng
và địa hình phức tạp nên lợng rác thải sau mỗi mùa lễ hội để xử l ý đợc là một
vấn đề rất khó khăn. Nếu trong những dịp chính hội, việc quản lý môi trờng rất
khó khăn cộng với nhiều chính sách về môi trờng tại đây cha phát huy hiệu quả
dẫn đến tình trạng không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng thì mặt khác số lợng rác
thải đi lại không đợc xử lý dứt điểm vả cứ lớn dần mỗi năm và điều tất yếu
nguồn không khí bị ảnh hởng và suy thoái nghyiêm trọng.
Về hậu quả, sự ô nhiễm không khi nơi đây không tác động trên diện rộng
nh ô nhiễm nguồn nớc. Nhng có thể thấy rõ nhấtm sự ô nhiễm đó tác động lớn
đến sức khoẻ con ngời, về lâu dài sẽ giảm lợng du khách, xã hội phải mất nguồn
chi phí lớn để giải quyết hậu quả do sự tác động của quá trình ô nhiễm đó đồng
thời ảnh hởng đến tiềm năng du lịch và tài nguyên du lịch nơi đây.
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
13
Đề án môn học
2.4. Thực trạng hoạt động bảo vệ môi trờng của chính quyền và nhân
dân sở tại.
2.4.1. Hoạt động tuyên truyền giáo dục.
Đây là một hoạt động quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi
trờng của ngời dân và du khách. Tuy nhiên nhìn chung chính quyền nơi đây cha
thấy đợc tác dụng to lớn của hoạt động đó vì thực tế cho thấy rằng chỉ k khi
mùa lễ hội chính thức bắt đầu công tác tuyên truyền, giáo dục nói chung và về
môi trờng nói riêng mới bắt đầu hoạt động nhng lại mang tính chất không thờng
xuyên và trong phạm vi hẹp. Chính vì vậy trong thời gian tới để hoạt động tuyên
truyền giáo dục thực sự phát huy tác dụng cũng nh nâng cao chất lợng của công
tác tuyên truyền, chính quyền sở tại cần nỗ lực hơn nữa trong việc đổi mới cả
nội dung lẫn hình thức trong hoạt động này.
2.4.2. Việc sử dụng ngân sách trong hoạt động bảo vệ môi trờng.
Hàng năm với hàng tỷ đồng hỗ trợ từ các tổ chức du lịch trong nớc cộng
với số tiền thu đợc từ việc bàn về thăm quan, tiền bến bãi là nguồn thu rất lớn
để có thể thực thi các dự án nhằm xây dựng việc bảo vệ môi trờng bền vững.
Nhng dờng nh kinh phí phục vụ cho các hoạt động này còn ít hoặc là việc sử
dụng còn cha đúng mục đích và cha phát huy hiệu quả cao. Do đó nắm bắt thực
trạng trên các ban ngành chức năng cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong
việc giúp cơ quan địa phơng sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý tránh lãng
phí và phát huy đợc hiệu quả cao nhất đúng nh mong muốn.
2.4.3. Công tác kiểm tra, giám sát diễn biến sự thay đổi của môi trờng
còn lỏng lẻo.
Nh trên đã nói, việc sử dụng không hợp lý trong việc chi cho các dự án,
các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trờng. Vì vậy nguồn nhân lực
có chuyên môn về vấn đề này còn rất ít và thiếu kinh nghiệm, cộng với địa hình
rộng và phức tạp làm cho việc kiểm tra, giám sát thờng xuyên gặp rất nhiều khó
khăn. Trong năm 2004 đội ngũ này tuy có đợc tăng cờng nhng thực sự vẫn cha
Phạm Hữu Tuyến Lớp Du lịch 43B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét