Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Công ty Cổ phần Đầu Tư Xây Dựng và Thương Mại Nhật Việt.doc

mức tiền lương sẽ có tác dụng nâng cao khả năng tái sản xuất sức lao động và
chất lượng lao động.
Tiền lương là đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng quan tâm và
động cơ trong lao động của người lao động. Độ lớn của tiền lương phụ thuộc
vào hiệu quả sản xuất, đồng thời khối lượng các tài liệu sinh hoạt lại phụ
thuộc trực tiếp vào độ lớn của mức tiền lương, thì người lao động sẽ quan tâm
trực tiếp đến kết quả lao động của họ. Vì sự cần thiết phải thoả mãn những
nhu cầu ngày càng lớn của mình mà người lao động sẽ tích cực lao động,
nâng cao tay nghề, phát huy sáng tạo và tận dụng hết khả năng của máy móc
thiết bị để sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, chất lượng hơn. Tiền lương phản
ánh vai trò, vị trí của người lao động trong doanh nghiệp và trong xã hội do
vậy tiền lương cao vừa là mục tiêu vừa là sự ghi nhận của xã hội về thành
tích
phấn đấu của người lao động. Tiền lương có vai trò như đòn bẩy kinh tế, kích
thích cả người lao động và chủ doanh nghiệp. Trong quá trình tổ chức quản lý
tiền lương, các doanh nghiệp cần phát huy vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền
lương để thúc đẩy sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao lợi ích
của người lao động
 Kích thích kinh tế phát triển và thúc đẩy sự phân công lao động:
Xét về tầm vĩ mô, tổng mức tiền lương quyết định tổng cầu về hàng hoá
và dịch vụ. Do vậy việc tăng các mức tiền lương có tác dụng kích thích tăng
sản xuất, yếu tố tăng nhu cầu về lao động. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về tiền
lương giữa các ngành nghề thúc đẩy sự phân công và bố trí lao động cũng như
các biện pháp nâng cao chất lượng lao động
1.1.3: Vai trò nhiệm vụ của hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương
 Vai trò, nhiệm vụ của hạch toán tiền lương và các khoản trích
theo lương
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
5
Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó biểu hiện quan hệ xã hội nói
chung giữa những người lao động và các tập thể lao động nói riêng trong việc
phân phối một bộ phận chủ yếu của thu nhập quốc dân. Như vậy mức tiền
lương phụ thuộc vào khối lượng thu nhập của quốc dân vào quy mô tiêu dùng
cá nhân và sự đóng góp của mỗi người lao động
 Nhiệm vụ của tiền lương và các khoản trích theo lương
Kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, việc chấp hành chính
sách, chế độ tiền lương, chế độ lao động, trợ cấp bảo hiểm xã hội và tình hình
sử dụng quỹ tiền lương, bảo hiểm xã hội
Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ
,đúng đắn các chế độ lao động về tiền lương và bảo hiểm xã hội đúng chế độ,
đúng phương pháp
Tính toán và phân bổ chính xác đúng đối tượng các khoản chi phí, tiền
lương các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vào
chi phí sản xuất kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động
Ngăn chặn những hành vi vô trách nhiệm, vi phạm chính sách lao động
tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
1.1.4 Nguyên tắc trả lương
 Trả công ngang nhau cho lao động như nhau:
Trả công ngang nhau cho lao động như nhau nghĩa là khi xây dựng
chế độ tiền lương không phân biệt giới tính tuổi tác, dân tộc.
 Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
6
Người lao động muốn được tăng tiền lương, tiền lương thực tế của họ được
tăng lên là động lực của sự lao động nhiệt tình sáng tạo, tăng năng suất lao
động. Ngược lại mục tiêu của doanh nghiệp là thu được nhiều lợi nhuận, vì
vậy nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì chi phí tiền lương
cho một đơn vị sản phẩm tăng lên và nếu các yếu tố khác không đổi thì lợi
nhuận sẽ giảm sút. Để doanh nghiệp thu được lợi nhuận và thu lợi nhuận ngày
càng tăng( điều kiện để doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng) và người lao động
cũng có thu nhập ngày càng cao thì tốc độ tăng năng suất lao động phải
nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương. Bởi vì tiền lương bình quân tăng do năng
suất lao động tăng do người lao động nâng cao trình độ lành nghề, do doanh
nghiệp áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, quản lý vật liệu, tiền vốn và lao
động có hiệu quả
1.2 Các hình thức trả lương
Tuỳ trong điều kiện cụ thể và quy mô sản xuất khác nhau mà chủ doanh
nghiệp áp dụng cách trả lương khác nhau. Song hiện nay các doanh nghiệp
Việt Nam đều áp dụng hai hình thức trả lương cơ bản: trả lương theo thời gian
và trả lương theo sản phẩm hoàn thành.
1.2.1. Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian thực hiện việc tính trả lương cho
người lao động theo thời gian làm việc thực tế của họ. Hình thức trả lương
này áp dụng cho công nhân làm việc văn phòng, nhân viên điều hành hành
chính, quản trị , tổ chức lao động, thông kê, tài vụ, kế toán.
Theo cách tính lương này thì tiền lương trả cho người lao động được
tính theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và trình độ thạo nghiệp vụ, kỹ
thuật chuyên môn của người lao động. Tuỳ theo tính chất lao động mà mỗi
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
7
ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng. Trong mỗi thang lương đó lại
chia thành nhiều bậc lương. Bậc lương thể hiện trình độ, nghiệp vụ thành
thạo, mỗi bậc lương ứng với hệ số lương nhất định.
Hình thức này được chia thành 2 loại: Theo thời gian giản đơn và theo
thời gian có thưởng
+ Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn bao gồm:
Lương tháng:
Là tiền lương đã được quy định sẵn đã được quy định bậc lương trong các
thang lương. Lương tháng được áp dụng để trả cho cán bộ công nhân viên làm
công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế
Mức lương tháng = Lương cơ bản x Hệ số lương + Phụ cấp
Lương ngày:
Là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày
làm việc thực tế trong tháng.
Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trực
tiếp hưởng lương theo thời gian hoặc lương cho nhân viên trong thời gian
thực tập, hội họp hay làm thêm nhiệm vụ khác, cho người lao động theo hợp
đồng hoặc ngắn hạn
Mức lương ngày =Mức lương tháng + phụ cấp
Số ngày làm việc theo chế độ
o Lương giờ:
Là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương giờ và số giờ làm
việc thực tế
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
8
Mức lương giờ được tính trên cơ sở mức lương ngày và số giờ làm việc
trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường được áp dụng cho lao động trực
tiếp theo sản phẩm hoặc ding làm cơ sở để tính giá tiền lương theo sản phẩm
Mức lương giờ =Mức lương ngày
Số ngày làm việc theo chế độ

o Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng
Người lao động ngoài tiền lương thời gian giản đơn còn nhận được một
khoản tiền thưởng do kết quả tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
sản phẩm , tiết kiệm nguyên vật liệu hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao
1.2.2: Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương theo số lượng ,
chất lượng công việc đã hoàn thành . Đây là hình thức trả lương phù hợp với
nguyên tắc phân phối lao động, gắn chặt với số lượng và chất lượng lao động
và cũng là hình thức trả lương cơ bản đang được áp dụng trong cơ sở sản
xuất vật chất.Tuy nhiên hình thức này còn hạn chế như chỉ coi trọng số lượng
sản phẩm mà chưa quan tâm đến chất lượng công việc, không đúng theo định
mức kinh tế, kỹ thuật để làm cơ sở cho cách tính lương, đơn giá đối với từng
loại sản phẩm, công việc hợp lý nhất.Có các hình thức tính trả lương theo sản
phẩm như sau:
+ Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp: là tiền lương trả cho người lao
động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm. Sản phẩm này phải đúng
quy cách, phẩm chất , định mức kinh tế và đơn giá tiền lương sản phẩm đã
quy định
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
9
+ Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp được tính bằng tiền lương
thực lĩnh của bộ phận trực tiếp nhân với tỷ lệ % lương gián tiếp
+ Tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng: Là tiền lương tính theo sản
phẩm trực tiếp kết hợp gián hoặc gián tiếp kết hợp với chế độ khen thưởng
do doanh nghiệp quy định. Chế độ khen thưởng này được đặt ra khuyến
khích người người lao động nêu cao ý thức trách nhiệm, doanh nghiệp có chế
độ tiền lương thưởng cho công nhân đặt và vượt chỉ tiêu mà donh nghiệp quy
định
+ Tiền lương sản phẩm lũy tiến : Là tiền lương tính theo sản phẩm trực
tiếp kết hợp với tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức sản
xuất hoặc định mức sản phẩm
+ Tiền lương khoán theo khối lượng công việc hay từng công việc
Tóm lại ta thấy rằng các hình thức trả lương ở mỗi doanh nghiệp khác
nhau. Điều quan trọng là việc chi trả đó có phản ảnh đúng kết quả của người
lao động hay không. Do vậy ngoài căn cứ vào bảng lương, thang lương, các
định mức kinh tế – kỹ thuật lãnh đạo các doanh nghiệp còn phải chọn hình
thức trả lương phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Việc tổ
chức lao động tiền lương là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý toàn
diện của doanh nghiệp vì nó có tác động trực tiếp đến nhân tố con người,
nhân tố quyết định đối với nền sản xuất xã hội. Giải quyết tốt lao động tiền
lương có nghĩa doanh nghiệp đã quan tâm đến bồi dưỡng nhân tố con người,
điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển vững chắc, bảo
đảm sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.3. Nội dung quỹ tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
1.3.1. Quỹ tiền lương
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
10
Là toàn bộ số tiền lương trả cho công nhân viên của doanh nghiệp do
doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương. Quỹ tiền lương của doanh
nghiệp gồm:
-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và
các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm ca đêm, thêm giờ.
-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do
những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép.
-Các khoản phụ cấp thường xuyên: Phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm
niên, phụ cấp làm đêm, phụ cấp trách nhiệm.
-Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được
chia làm hai loại: tiền lương chính và tiền lương phụ
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời
gian họ thực hiện nhiệm vụ chính: gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ
cấp.
+ Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời
gian họ thực hiện nhiệm vụ chính của họ, thời gian nghỉ phép, nghỉ lễ tết,
ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ.
1.3.2: Quỹ BHXH
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập theo tỉ lệ quy
định trên tiền lương phải trả cho CNV trong kỳ. Quỹ BHXH được xây dựng
theo quy định chung của nhà nước. Theo chế độ hiện hành hàng tháng doanh
nghiệp trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 22% trên tổng số lương thực tế phải
trả cho CNV trong tháng, trong đó 16% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
của các đối tượng lao động, 6% trừ vào lương của người lao động.Tiền lương
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
11
cơ bản được tính theo cấp bậc, hệ số, loại công việc của từng công nhân quy
định, mức lương cơ bản tối thiểu là 730.000đ/ tháng
Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia
đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động, cụ thể:
-Trợ cấp CNV ốm đau, thai sản.
-Trợ cấp công nhân viên khị bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
-Trợ cấp CNV khi về hưu, mất sức lao động
-Chi công tác quản lý quỹ BHXH
Theo chế độ hiện hành toàn bộ số trích, BHXH được nộp lên cơ quan quản
lý bảo hiểm để chi trả các trường hợp nghỉ hưu, mất sức lao động
Tại doanh nghiệp, hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho
CNV bị ốm đau, thai sản, trên cơ sở các chức từ hợp lý, hợp lệ. Cuối tháng
doanh nghiệp phải thanh quyết toán với cơ quan quản lý BHXH
1.3.3: Quỹ BHYT
Quỹ BHYT là khoản tiền được tính toán và trích lập theo tỷ lệ quy định
là 4.5% trên tổng số lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ CNV của công
ty nhằm phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Cơ quan
bảo hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo tỷ lệ nhất định mà
nhà nước quy định cho những người tham gia đóng bảo hiểm
Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên
tiền lương phải trả cho CNV trong kỳ. Theo chế độ hiện hành thì doanh
nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số tiền lương thực tế phải
trả cho CNV trong tháng, trong đó 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
của các đối tượng lao động, 1,5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
12
BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ
trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, toàn bộ quỹ
BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp
cho người lao động thông qua mạng lưới y tế.
1.3.4: KPCĐ
Là khoản chi phí cho hoạt động công đoàn cấp trên và công đoàn cấp
dưới, nhằm phục vụ thăm quan, nghỉ mát. Khoản này sẽ do doanh nghiệp chịu
hoàn toàn và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh theo một tỷ lệ nhất
định.Tỷ lệ trích hiện hành 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
1.3.4: BHTN
BHTN được hình thành trong quá trình công ty làm ăn phá sản hoặc
thua lỗ không có khả năng hoàn trả tiền lương cho cán bộ công nhân viên,
được trích lập theo tỉ lệ quy định trên tổng số lương cơ bản và các khoản phụ
cấp của công nhân viên. Tỷ lệ trích hiện hành theo quy định mới là 2%, 1%
tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ , 1% tính vào thất nghiệp của
người lao động
1. 3.5. Các khoản thu nhập khác của người lao động
 Phụ cấp lương
Điều 4: Nghị định 26/CP ngày 23/05/1995 quy định có 7 loại phụ cấp như
sau:
- Phụ cấp khu vực: ap dụng cho những lao động làm việc ở những nơi xa xôi
hẻo lánh, điều kiện sống và sinh hoạt gặp nhiều khó khăn.
- Phụ cấp ca ba: Là khoản phụ cấp cho những người làm ca ba
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
13
- Phụ cấp thu hút: Khuyến khích những người chấp nhận đến làm việc trong
môi trường làm việc độc hại hoặc nguy hiểm
- Phụ cấp đắt đỏ: áp dụng cho những nơi có chỉ số giá cả sinh hoạt cao hơn
chỉ số giá bình quân từ 10% trở lên.
- Phụ cấp lưu động: áp dụng đối với một số công việc phải thường xuyên
thay đổi địa điểm
- Phụ cấp trách nhiệm: trả cho những người vừa trực tiếp sản xut vừa kiêm cả
chức vụ quản lý nhưng không thuộc chức vụ lãnh đạo bổ nhiệm, hoặc những
người làm công việc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng chả được xá định mức
lương
 Tiền thưởng:
Ngoài chế độ tiền thưởng và các khoản trích theo lương, các
doanh nghiệp còn xác định chế độ tiền thưởng cho tập thể, các nhân có thành
tích cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Có 2 chế độ thưởng sau:
Thưởng thường xuyên: Được trích từ quỹ lương để trả cho người lao động
theo một tiêu chuẩn nhất định. Đây là một khoản tiền lương bổ sung nhằm
quán triệt nguyên tắc phân phối lao động, tránh bình quân chủ nghĩa. Tiền
thưởng phụ thuộc vào năng lực sản xuất và sáng tạo của người lao động có tác
dụng khuyến khích người lao đông hăng say làm việc
Tiền thưởng về chất lượng sản phẩm: áp dụng khi công nhân có sáng kiến
làm nâng cao chất lượng sản phẩm. Khoản tiền này tính trên cơ sở tỷ lệ chung
không quá 40% phần chênh lệch quá giữa sản phẩm có phẩm cấp cao với sản
phẩm có phẩm cấp thấp
Tài liệu được sưu tầm bởi HangIMC
Nhận viết luận văn, chuyên đề thực tập nghành Kế toán, QTKD 0947221986
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét