Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Kiến thức pháp luật Thủ tục hành chính - tư pháp (Tập 5)

VIE/02/015 đã chọn tỉnh Lạng Sơn là địa bàn để thực hiện thí
điểm việc tăng cường năng lực pháp luật cho cán bộ, công chức cơ
sở, giao cho Ban Nội chính trung ương là cơ quan chủ trì thực hiện
Tiểu dự án Tăng cường năng lực pháp luật cho cán bộ, công chức
cơ sở tỉnh Lạng Sơn.
Thực hiện kế hoạch hoạt động của Tiểu dự án, Công ty tư vấn
luật Vision & Associates được lựa chọn là đơn vị tư vấn độc lập
khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực pháp luật của cán bộ, công
chức cơ sở tỉnh Lạng Sơn. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá
của đơn vị tư vấn và nhu cầu của tỉnh Lạng Sơn, các chuyên gia
pháp luật đã được Tiểu dự án của Ban Nội chính trung ương tập
hợp để xây dựng bộ tài liệu tập huấn cho cán bộ, công chức cơ sở
của tỉnh Lạng Sơn. Bộ tài liệu này gồm năm tập Kiến thức pháp
luật và bốn tập Tình huống pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở.
Do năng lực, thời gian hạn chế và khối lượng kiến thức, công
việc rất lớn nên bộ tài liệu có thể còn khiếm khuyết. Ban Quản lý
Dự án VIE/02/015 và Tiểu dự án Ban Nội chính trung ương cảm
ơn những ý kiến đóng góp và xin trân trọng tiếp thu để tiếp tục
hoàn thiện bộ tài liệu này.
Được sự đồng ý của Ban Quản lý Dự án VIE/02/015 và Tiểu
dự án Ban Nội chính trung ương, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản
tập 5 Thủ tục hành chính - tư pháp trong bộ sách Kiến thức
pháp luật dành cho cán bộ, công chức cơ sở của tỉnh Lạng Sơn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc !
Tháng 3 năm 2007
Nhà xuất bản Tư pháp
8
preface
Officials and public servants at grassroots level (communes,
precincts, and towns) are the closest to ordinary people. Within
their scope of functions, and duties, they directly bring the laws
to the people through dealing with matters relating to the legiti-
mate rights and benefits of the people, at the same time, official and
public servant at grassroots level understand the most expectations
and needs of the peoples, understand well problems and shortcom-
ings of the States policies, laws and regulations in application in
the real life. Although policies and laws of the State are proper, its
implementation will be less effective if they are not applied by com-
petent public servants. However, because of various objective and
subjective reasons, capacity of officials and public servants at
grassroots level are limited, there are a part of them are not capa-
ble to meet with requirement, especially in the context of industri-
alisation, modernisation and building of a socialist rule of law
State of the people, for the people and by the people.
Accordingly, improvement of legal capacity for official and
public servants at grassroots level is a pressing need to contribute
to strengthen local staff to be qualified and capable to fulfill imple-
ment and enforce their duties and tasks as provided for by laws
and to protect legitimate rights and benefits of individuals and
organisation in the local area.
Aware of importance of the issue in the context of development
of a legal system for Viet Nam until 2010 and orientation up to
2020, under the framework of Project VIE/02/015, Project
Steering Committee selected Lang Son province as the pilot site to
9
implement a sub-project on strengthening the legal capacity for
officials and public servants at grassroots level and assigned
Central Internal Affairs Committee to deploy the sub-project.
In accordance with sub-project work plan, Vision & Associates-
an independent legal consultancy firm-was hired to conduct a
based-line survey and prepare an assessment report on current sta-
tus of legal capacity of officials and public servants in Lang Son
province. Based on this assessment and based on needs officials at
Lang Son province, legal consultants of the sub-project develop a
set of training materials for officials and public servants at grass-
root level of Lang Son province. These materials comprise of five
volumes named Legal Knowledge for officials and public servants
at grassroots level and the other four volumes named Legal Case
Studies for officials and public servants at grassroots level.
Because of limit of time and complexity of work, the materials
will certainly have errors or mistakes. Management Unit of Project
VIE/02/015 and Sub-project of the Central Internal Affairs
Committee sincerely thank for any comments and opinions from
the readers to improve the materials.
With permission of Management Unit of Project VIE/02/015
and Sub-project of the Central Internal Affairs Committee, Judicial
Publishing House publishes Volume 5 titled Administrative -
Judicial Procedures of the Legal Knowledge for Officials and
Public Servants at Grassroots Level of Lang Son Province.
We kindly introduce this book to the readers!
Hanoi, March 2007
The Judicial Publishing house
10
MụC LụC
Lời giới thiệu
Phần 1: Pháp luật về quản lý hộ tịch ở chính quyền cấp xã
Phần 2: Công tác quản lý hộ khẩu của chính quyền cấp xã
Phần 3: Pháp luật về công chứng, chứng thực và nhiệm vụ
của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Phần 4: Công tác văn thư và hoạt động soạn thảo, ban
hành các văn bản hành chính cá biệt
Phần 5: Công tác thi hành án và trách nhiệm của chính
quyền cấp xã trong công tác thi hành án
Phần 6: Pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính tại
Toà án và một số vấn đề liên quan tới chính quyền cấp xã
11
7
13
108
156
201
262
333
12
Phần I
PHáP LUậT Về QUảN Lý Hộ TịCH ở CHíNH QUYềN CấP Xã
I. NHữNG VấN Đề CHUNG
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Sự kiện hộ tịch
Sự kiện hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng
nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Trong cuộc
sống của mỗi cá nhân, các sự kiện hộ tịch xảy ra rất phong phú. Có
những sự kiện mang tính quy luật như sự ra đời và mất đi của một
người. Có những sự kiện xảy ra phổ biến như việc kết hôn, ly hôn,
nhận nuôi con nuôi, nhận cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, xác định
lại dân tộc, cải chính họ, tên, ngày, tháng, năm sinh. Nhìn chung,
sự kiện hộ tịch có các đặc điểm sau:
- Là những sự kiện quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân;
- Là những sự kiện có ý nghĩa xác định đặc điểm riêng biệt về
tình trạng dân sự của mỗi cá nhân;
- Các sự kiện hộ tịch gắn liền với sự ra đời, quá trình tồn tại
và mất đi của mỗi con người, gắn liền với các quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân.
1.2. Đăng ký hộ tịch
Đăng ký hộ tịch là hành vi hành chính của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đăng ký hộ tịch, nhằm:
- Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám
13
Phần I. Pháp luật về quản lý hộ tịch
ở chính quyền cấp xã
hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ
tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;
- Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi
quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi
con nuôi.
Như vậy, đăng ký hộ tịch là một hoạt động hành chính của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký hộ tịch. Hoạt động đăng ký
hộ tịch được phân biệt thành hai nhóm hành vi có tính chất nghiệp
vụ khác nhau rõ ràng.
- Thứ nhất, nhóm hành vi xác nhận các sự kiện hộ tịch: sinh;
kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ,
tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh;
xác định lại dân tộc; đăng ký quá hạn các việc sinh, tử; đăng ký lại
các việc sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi. Đối với các sự kiện hộ tịch
nói trên, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào
sổ dành riêng cho từng loại việc, đồng thời cấp cho đương sự giấy
chứng nhận về việc đó (như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết
hôn ). Hành vi xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát
sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký. Chỉ sau khi
được đăng ký, các sự kiện đó mới làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân.
- Thứ hai, nhóm hành vi ghi vào sổ hộ tịch những sự thay đổi
về hộ tịch của cá nhân đã được công nhận bởi quyết định có hiệu
lực pháp lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phạm vi các
việc có thể ghi vào Sổ hộ tịch chỉ bao gồm 5 việc: việc xác định cha,
mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật;
chấm dứt nuôi con nuôi. Khác với nhóm hành vi thứ nhất, đối với
các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn
cứ vào quyết định (bằng văn bản) đã có hiệu lực pháp lý của cơ
14
Kiến thức pháp luật
Tập 5: Thủ tục hành chính - tư pháp
quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ: bản án hoặc quyết định của
Tòa án giải quyết việc ly hôn, quyết định của Chủ tịch nước cho
một người thôi quốc tịch Việt Nam ) để ghi chú việc đó vào Sổ hộ
tịch. Điểm phân biệt cơ bản giữa nhóm hành vi này với nhóm hành
vi thứ nhất là hành vi ghi vào Sổ hộ tịch không làm phát sinh hiệu
lực pháp lý. Bởi vì bản thân các quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý cho các việc đó.
Ví dụ: một bản án xử ly hôn của Toà án bản thân nó đã có hiệu lực
pháp lý chứ không phải chờ đến khi được ghi chú vào Sổ hộ tịch
mới có hiệu lực pháp lý.
1.3. Quản lý hộ tịch
Quản lý hộ tịch là hoạt động do các cơ quan hành chính có
thẩm quyền thực hiện nhằm theo dõi thực trạng và những biến
Lưu ý:
So với các quy định tương ứng của Nghị định số
83/1998/NĐ-CP, thì phạm vi các việc đăng ký hộ tịch theo Nghị
định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng
ký và quản lý hộ tịch (Nghị định số 158/2005/Nđ-CP) vừa có sự
mở rộng, vừa thu hẹp một số loại việc hộ tịch. Cụ thể là:
- Đối với nhóm hành vi thứ nhất: phạm vi đăng ký hộ tịch đã
mở rộng thêm với các hành vi bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch;
xác định lại giới tính;
- Đối với nhóm hành vi thứ hai: đã giới hạn phạm vi các việc
ghi vào Sổ hộ tịch chỉ gồm 5 loại việc đã nêu ở trên. Các sự kiện như:
mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân
sự, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên không
còn thuộc phạm vi ghi vào Sổ hộ tịch nữa.
15
Phần I. Pháp luật về quản lý hộ tịch
ở chính quyền cấp xã
động về hộ tịch trong đời sống xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng
Quản lý hộ tịch có phạm vi, đối tượng quản lý rất rộng, phức
tạp, đồng thời cũng là hoạt động quản lý tác động trực tiếp đến
từng người dân.
Trên cơ sở phân cấp rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước về
hộ tịch, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đồng thời cũng quy định rõ
trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan quản lý hộ tịch, trước
hết là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp. Khoản 3 Điều 77, khoản
3 Điều 78, khoản 3 Điều 79 thể hiện rõ tinh thần: Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về tình hình đăng ký và quản
lý hộ tịch của địa phương. Trong trường hợp do buông lỏng quản
lý mà dẫn đến những sai phạm, tiêu cực của cán bộ, công chức
trong đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương thuộc thẩm quyền
quản lý của mình, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải chịu
trách nhiệm.
Đối với Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp phải chịu trách
nhiệm nếu buông lỏng quản lý để xảy ra sai phạm, tiêu cực của cán
bộ, công chức thuộc Sở Tư pháp trong đăng ký và quản lý hộ tịch.
1.4. Một số thuật ngữ liên quan
- Thay đổi hộ tịch: Là việc cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm
quyền công nhận việc cho phép cá nhân được thay đổi họ, tên, chữ
đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy
khai sinh theo yêu cầu của cá nhân đó khi có lý do chính đáng được
quy định tại Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Cải chính hộ tịch: Là việc cơ quan đăng ký hộ tịch sửa chữa
những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và
16
Kiến thức pháp luật
Tập 5: Thủ tục hành chính - tư pháp
bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót khi đăng ký hộ tịch.
Bản chất của việc cải chính hộ tịch là hành vi sửa chữa thông tin
sai thành thông tin đúng và chỉ thực hiện đối với các nội dung
đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy
khai sinh chứ không thực hiện đối với các giấy tờ hộ tịch và Sổ
hộ tịch khác.
- Điều chỉnh hộ tịch: Là việc cơ quan đăng ký hộ tịch căn cứ
vào bản chính Giấy khai sinh để điều chỉnh các nội dung đã được
đăng ký trong Sổ hộ tịch và các giấy tờ hộ tịch khác (không phải là
Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh) cho phù hợp với các nội
dung tương ứng trong bản chính Giấy khai sinh.
Trong trường hợp yêu cầu điều chỉnh nội dung của Sổ hộ tịch
và giấy tờ hộ tịch không liên quan đến nội dung trong Giấy khai
sinh thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải căn cứ vào những giấy tờ
liên quan do đương sự xuất trình để thực hiện việc điều chỉnh hộ
tịch (Ví dụ: thông tin về ngày, giờ chết trong Giấy chứng tử là
nội dung không có trong Giấy khai sinh, do đó, trong trường hợp
Giấy chứng tử ghi sai thời điểm chết của một người mà thân
nhân của người đó có yêu cầu điều chỉnh cho đúng thì cơ quan
đăng ký hộ tịch phải căn cứ vào Giấy báo tử để điều chỉnh Giấy
chứng tử cho đúng).
Lưu ý:
* Phân biệt hành vi cải chính hộ tịch với hành vi điều
chỉnh hộ tịch:
Cải chính hộ tịch và điều chỉnh hộ tịch đều là hành vi đăng ký
hộ tịch có tính chất chung là sửa chữa thông tin trên giấy tờ hộ tịch
cho đúng. Để vận dụng đúng vào thực tiễn, cần nắm vững các điểm
phân biệt cơ bản giữa hai loại việc này:
17
Phần I. Pháp luật về quản lý hộ tịch
ở chính quyền cấp xã

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét