Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Vai trò của tổng công ty nhà nước và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước

Kết cấu luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn chia thành 3 chơng
Chơng I
Một số nhận thức lý luận làm cơ sở xây dựng
các tổng công ty nhà nớc ở nớc ta
I- Lý luận của chủ nghĩa mác-lê nin và vận dụng vào thực
tiễn Việt Nam trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội
Vận dụng nguyên lý chủ nghĩa Mác- Lê nin vào thực tế Cách mạng ở nớc
ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: sau khi
hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân
chủ nhân dân, nớc ta chuyển sang thực hiện nhiệm vụ của thời kì quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển T bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ cơ
bản của thời kỳ qúa độ là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã
hội; xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chủ yếu
là sản xuất nhỏ, mang nặng tính tự cung, tự cấp của nớc ta, đòi hỏi khách quan
phải xây dựng nền sản xuất lớn dựa trên cơ sở nền công nghệ hiện đại, trải qua
quá trình phát triển nhiều chặng đờng. Xuất phát từ kết quả của những năm đổi
mới, từ những tiền đề đã đợc tạo ra, Đảng ta đã nhận định: Nớc ta đã chuyển
sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, đến năm
2020 cơ bản thành nớc công nghiệp.
Đứng trớc những thời cơ, thuận lợi, nguy cơ và những thách thức mới ,
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng ta đã xác định
Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá (1),
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát
triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.(2). Đến đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta nhận định: Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là con đờng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa so với các nớc xung quanh,
giữ vững đợc ổn định chính trị,xã hội, bảo vệ đợc độc lập chủ quyền và định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. (3).
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay đợc tiến hành theo
nhận thức mới, Nghị quyết VII của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII
cho rằng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xẵ hội, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao và Mục tiêu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất (4).
Các văn kiện đại hội Đảng ta đã khẳng định trong thời kỳ quá độ đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế bao gồm: Kinh
tế Nhà nớc; kinh tế hợp tác; kinh tế T bản Nhà nớc; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
kinh tế t bản t nhân và tại Đại hội Đảng lần thứ IX, từ quan điểm mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, ở nớc ta có thêm: thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài. Đảng ta luôn khẳng định t tởng nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành
phần và coi đó là đờng lối chiến lợc lâu dài ở nớc ta. Trong thời kỳ quá độ, có
nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp,
tầng lớp xã hội khác nhau nhng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã
hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh
trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc dới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân gắn liền
với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, dân giầu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay Đảng ta xác định
trong nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nớc nghèo, kém phát triển; Thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những t tởng và
hành động tiêu cực, sai trái. Động lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn
kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí
thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,
phát huy tiềm năng và tiềm lực của các thành phần kinh tế , của toàn xã hội.
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng, có
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Chế độ
sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu từng bớc đợc xác lập và sẽ chiếm u
thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về cơ bản. Đảng ta cũng
đã chỉ đạo đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế,
chính sách và thủ tục hành chính để tạo sức bật mới cho sự phát triển mạnh mẽ
các thành phần kinh tế. Mọi thành phần kinh tế, mọi công dân đợc đầu t kinh
doanh theo các hình thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh
tế theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến
khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, là bộ phận của nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế Nhà nớc là một trong những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc,
có nhiệm vụ đảm bảo những cân đối chủ yếu của nền kinh tế và là cơ sở thực
hiện định hớng xã hôị chủ nghĩa của nền kinh tế. Bởi vậy kinh tế Nhà nớc phải
nắm vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa nh Đại hội IX đã chỉ ra. Vai
trò đó thể hiện ở chỗ: mở đờng và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát
triển; thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ
có sức mạnh vật chất để Nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị trờng
theo định hớng Xã hội chủ nghĩa; là nền tảng của xã hội mới.
Đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Kinh tế nhà nớc tập trung đầu t cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội;
Nắm vững vị trí then chốt trong nền kinh tế; nâng cao năng suất, chất lợng và
hiệu quả để thực hiện vai trò chủ đạo. Doanh nghiệp nhà nớc đi đầu trong việc
thực hiện phát triển những ngành sản xuất t liệu sản xuất quan trọng và công
nghiệp công nghệ cao .
Kinh tế Nhà nớc phải vận động theo hớng ngày càng đợc nâng cao vai
trò, vị trí của mình, với mức độ, phạm vi phù hợp, ngày càng giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thờì với việc xác định chủ trơng phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần là việc tạo lập đồng bộ các loại thị trờng, đổi mới
quản lý nhà nớc. Hình thành đồng bộ các loại thị trờng đi đôi với xây dựng
khuôn khổ pháp lý cần thiết để thị trờng hoạt động năng động, có hiệu quả, có
kỷ cơng trong cạnh tranh lành mạnh, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh
doanh. Có biện pháp chống gian lận thơng mại. Nhà nớc tôn trọng nguyên tắc
và cơ chế hoạt động khách quan của thị trờng, tạo điều kiện để phát huy mặt
tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng. Nhà n-
ớc tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lợc, quy hoạch và kế hoạch
định hớng phát triển, thực hiện những dự án phát triển bằng nguồn lực tập
trung; đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trờng đầu t, kinh doanh; điều tiết
thu nhập hợp lý; kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật; giảm mạnh sự can
thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đơn giản hoá các thủ tục hành chính, công khai hoá và thực hiện đúng trách
nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nớc trong quan hệ với doanh
nghiệp.Tập trung vào xoá bỏ những quy định và thủ tục mang tính hành chính
quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất .
Đặc trng của cơ chế thị trờng là có khả năng tự động điều tiết nền sản
xuất xã hội. Cơ chế thị trờng kích thích sự phát triển sản xuất cả chiều rộng và
chiều sâu, tăng cờng chuyên môn hoá sản xuất vào các ngành, các lĩnh vực,
nhất làm tăng năng suất lao động xã hội. Song cơ chế thị trờng dễ phá vỡ những
cân đối tổng thể của nền kinh tế xã hội, thờng nảy sinh ra những khuyết tật, gây
tác hại cho nền kinh tế và cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi
doanh nghiệp kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phơng đều có lợi ích riêng của
mình và đều tìm mọi cách để tối u những lợi ích đó, do đó có thể xảy ra hiện t-
ợng lợi ích của doanh nghiệp, địa phơng này tăng lên, làm thiệt hại đến lợi ích
của doanh nghiệp khác, địa phơng khác. Nhà nớc với t cách điều hành nền kinh
tế phải thực hiện sự định hớng; tạo lập các cân đối vĩ mô, ngăn ngừa các đột
biến xấu, điều hành các quan hệ kinh tế bằng các công cụ và chính sách, hớng
dẫn và tạo môi trờng và điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Việc khai thác những u điểm, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trờng
không thể thiếu vai trò của nhà nớc, với t cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, trong đó các doanh nghiệp nhà nớc loại lớn là một công cụ hữu
hiệu.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tất yếu khách quan,
hợp quy luật và là nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở nớc ta.
Đồng thời đó cũng là một quá trình khó khăn phức tạp vì phải đổi mới cả một
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý. Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng
cũng nh khi cơ chế thị trờng đã đợc xây dựng đồng bộ, vai trò quản lý của nhà
nớc càng tăng lên nhng không có nghĩa là nhà nớc nắm tất cả, can thiệp vào tất
cả các hoạt động của doanh nghiệp. Quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng đòi hỏi nhà nớc phải có
trình độ, năng lực và chất lợng cao trong quản lý kinh tế. Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: Vận dụng cơ chế thị trờng đòi hỏi phải nâng
cao năng lực quản lý vĩ mô nhà nớc, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của
các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi
với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trờng. Trong
quá trình đổi mới Đảng ta chủ trơng phát triển kinh tế nhiều thành phần để góp
phần phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là chính sách nhất quán, lâu dài trong cả thời kỳ đi
lên chủ nghĩa xã hội .
Để thực hiện có hiệu quả chính sách đó Đảng chỉ đạo tiếp tục đổi mới,
sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc là đểđảm
bảo cho kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đó là
vấn đề rất lớn trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần .
Việc sắp xếp, đổi mới , nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc là việc
mà Đảng ta quan tâm và đợc triển khai ngay từ thời kỳ đổi mới và nhất là trong
10 năm qua (1991 - 2001).
Nghị quyết lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX về việc:
Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà n-
ớc đã xác định quan điểm chỉ đạo: Kinh tế Nhà nớc có vai trò quyết định trong
việc giữ vững định hớng Xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính
trị xã hội của đất nớc. Doanh nghiệp Nhà nớc phải không ngừng đợc đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vững vị trí then chốt nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô, làm lực lợng
nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nớc thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Nhà
nớc phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Điều chỉnh để
doanh nghiệp Nhà nớc có cơ cấu hợp lý , tập trung vào những ngành , lĩnh vực
then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với những sản phẩm
và dịch vụ chủ yếu. Tiếp tục đổi mới quản lý để doanh nghiệp Nhà nớc kinh
doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và kinh doanh bình đẳng với doanh
nghiệp thuộc các thành pnần kinh tế khác theo luật pháp. Thực hiện độc quyền
nhà nớc trong lĩnh vực cần thiết nhng không biến độc quyền Nhà nớc thành độc
quyền doanh nghiệp. Mục tiêu là sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nớc .
Trong những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi
xớng và lãnh đạo, cùng với việc từng bớc xoá bỏ tập trung bao cấp, thực hiện
nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế Nhà nớc đã có
nhiều biến đổi quan trọng, Nhà nớc đã giảm mạnh bao cấp đối với doanh nghiệp
Nhà nớc, chuyển các doanh nghiệp này sang chế độ hạch toán kinh tế, nâng
cao quyền tự chủ của doanh nghiệp, đáp ứng xu hớng vận động mang tính phổ
biến chủ đạo của các hình thức tổ chức kinh tế đó là tập trung hoá và liên hiệp
hoá, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá. Tập trung hoá là quá trình lớn lên của
doanh nghiệp xét về quy mô, bằng cách các doanh nghiệp sáp nhập lại với nhau,
hợp nhất với nhau, hoặc các doanh nghiệp tự mở rộng quy mô của chính mình,
quá trình đó làm cho số doanh nghiệp giảm đi, tơng ứng thì quy mô doanh
nghiệp tăng lên.
Tập trung hoá và liên hiệp hoá là xu hớng chủ đạo của hình thức tổ chức
kinh tế; xu hớng chuyên môn hoá và hiệp tác hoá là nội dung chủ yếu, là hai
mặt hữu cơ của phân công lao động xă hội, đó là quan hệ hữu cơ thúc đẩy nhau,
tạo hiệu quả kinh doanh.
Do tác động của khoa học công nghệ cũng nh nhu cầu mở rộng kinh
doanh, nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận, ở các nớc phát triển buộc
phải đi vào tổ chức các tập đoàn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mạnh,
mặc dù các nớc này vẫn tồn tại khá nhiều các doanh nghiệp nhỏ trụ vững đợc
trong cạnh tranh, song xu hớng chủ đạo vẫn là phải hình thành và phát triển
những tập đoàn kinh tế lớn. Các tập đoàn này chiếm vị trí hết sức trọng yếu
trong nền kinh tế quốc dân.
ở nớc ta với mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, việc
hình thành tập đoàn kinh tế mạnh, hình thành các tổng công ty một cách khoa
học, khách quan, cần thiết là một đòi hỏi bức xúc hiện nay.
II - quá trình hình thành các Tổng công ty Nhà nớc ở Việt Nam
và quan niệm về hiệu quả của chúng
1. Sự ra đời các tổng công ty ở Việt Nam
Trên cơ sở sắp xếp và làm thủ tục thành lập và đăng ký lại doanh
nghiêp Nhà nớc theo quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nớc
ban hành theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội
đồng Bộ trởng ( nay là Chính phủ ) đã đợc các Bộ, địa phơng và các doanh
nghiệp Nhà nớc triển khai thực hiện đã đạt đợc một bớc quan trọng, Chính phủ
đã có Quyết định số 90/TTg và Quýêt định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm
1994, tiếp tục thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nớc, tiến hành kiểm tra, rà
soát, phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nớc, chấn
chỉnh tổ chức quản lý , tiếp tục sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nớc để nâng cao
hiệu quả kinh doanh và từng bớc tổ chức lại một cách hợp lý các doanh nghiệp
Nhà nớc đang hoạt động cùng ngành nghề trên cùng một điạ bàn theo hớng
không phân biệt doanh nghiệp Nhà nớc do Trung ơng hay địa phơng quản lý .
Sắp xếp, thành lập và đăng ký lại các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty. Những
Tổng công ty đợc xem xét thành lập và đăng ký lại khi có ít nhất 5 đơn vị thành
viên quan hệ với nhau về công nghệ, tài chính, chơng trình đầu t phát triển, dịch
vụ về cung ứng, vận chuyển, tiêu thụ, thông tin, đào tạo; toàn Tổng công ty có
vốn pháp định trên 500 tỷ đồng, đối với một số Tổng công ty trong những
ngành đặc thù thì vốn pháp định có thể thấp hơn nhng không đợc ít hơn 100 tỷ
đồng. Tổng công ty thực hiện hạch toán kinh tế theo một trong hai hình thức:
Hạch toán toàn Tổng công ty, các đơn vị thành viên hạch toán báo sổ và Hạch
toán tổng hợp có phân cấp cho các đơn vị thành viên; có luận chứng kinh tế - kỹ
thuật về việc thành lập Tổng công ty và đề án kinh doanh của Tổng công ty và
văn bản giám định các luận chứng đó. có phơng án bố trí cán bộ lãnh đạo và
quản lý đúng tiêu chuẩn, đủ năng lực điều hành toàn bộ hoạt động của Tổng
công ty, có vốn điều lệ, tổ chức và hoạt động đã đợc cơ quan chủ quản phê
duyệt và đợc tuân thủ trong thực tế.
Tổng công ty nhà nớc là doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô lớn, bao gồm
các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính,
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một số
chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do nhà nớc thành lập nhằm tăng cờng
tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để thực
hiện nhiệm vụ nhà nớc giao; nâng cao hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành
viên và của toàn Tổng công ty nhà nớc, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Tổng
công ty đặc biệt quan trọng do Thủ tớng Chính phủ quyết định thành lập; các
Tổng công ty nhà nớc khác do Bộ trởng quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, thủ tr-
ởng các cơ quan ngang Bộ,Thủ trởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng quyết định thành lập
theo uỷ quyền của Thủ tóng Chính phủ.Tổng công ty nhà nớc chịu sự quản lý
Nhà nớc của cấp ra quyết định thành lập với t cách là cơ quan quản lý nhà nớc
đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với t cách là cơ quan thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nớc theo quy định của luật
doanh nghiệp nhà nớc và các quy định khác của pháp luật.
Tổng công ty nhà nớc có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên
và các nguồn lực khác của nhà nớc giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đ-
ợc nhà nớc giao; có quyền giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý, sử dụng
các nguồn lực mà Tổng công ty nhà nớc đã nhận của nhà nớc , điều chỉnh
những nguồn lực đã giao cho các đơn vị thành viên trong trờng hợp cần thiết
phù hợp với kế hoạch phát triển chung của Tổng công ty nhà nớc; có quyền đầu
t, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của
một doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật; có quyền chuyển nhợng,
thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của mình trừ
những danh mục tàI sản nhà nớc không cho phép; có quyền tổ chức quản lý, tổ
chức sản xuất kinh doanh .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét