Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Cũng trên tinh thần của Hiệp định TRIPS, tại Điều 785 Mục I Chương
II Phần VI của Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 đã ghi rõ: “Nhãn hi
ệ
u hàng
hoá là nh
ữ
ng d
ấ
u hi
ệ
u dùng
để
phân bi
ệ
t hàng hoá d
ị
ch v
ụ
cùng lo
ạ
i c
ủ
a các
c
ơ
s
ở
s
ả
n xu
ấ
t kinh doanh khác nhau. Nhãn hi
ệ
u hàng hoá có th
ể
là t
ừ
ng
ữ
,
hình
ả
nh ho
ặ
c s
ự
k
ế
t h
ợ
p các y
ế
u t
ố
đ
ó
đượ
c th
ể
hi
ệ
n b
ằ
ng m
ộ
t ho
ặ
c nhi
ề
u
màu s
ắ
c”.
Theo Luật Lanham Act (Mỹ) thì nhãn hi
ệ
u hàng hoá bao g
ồ
m t
ừ
ng
ữ
,
tên, bi
ể
u t
ượ
ng, hình v
ẽ
ho
ặ
c s
ự
k
ế
t h
ợ
p c
ủ
a các y
ế
u t
ố
đ
ó nh
ằ
m phân bi
ệ
t
hàng hoá c
ủ
a m
ộ
t ng
ườ
i cung c
ấ
p v
ớ
i hàng hoá c
ủ
a nh
ữ
ng ng
ườ
i cung c
ấ
p
khác. Nhãn hi
ệ
u hàng hoá có th
ể
đượ
c áp d
ụ
ng cho hàng hoá, d
ị
ch v
ụ
và
nh
ữ
ng nhãn hi
ệ
u xác nh
ậ
n ngu
ồ
n g
ố
c, ch
ấ
t l
ượ
ng,
độ
nguyên ch
ấ
t n
ế
u chúng
tho
ả
mãn các yêu c
ầ
u c
ủ
a m
ộ
t nhãn hi
ệ
u (certification marks).
Như vậy, luật của các nước đều thống nhất rằng nhãn hiệu hàng hoá
bao gồm cả tên nhãn hiệu (brand name) và dấu hiệu của nhãn hiệu (brand
mark)
1
. Tên nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được như:
“Dove”, “Tiger” Còn dấu hiệu của nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà
ta có thể nhận biết được, những không thể đọc được, ví dụ như biểu tượng,
hình vẽ, màu sắc, hay kiểu chữ đặc thù. Ví dụ như hình ảnh con chim bồ
câu là biểu tượng cho sản phẩm Dove, con hổ vàng là biểu tượng cho bia
Tiger hay hình ảnh ba hình thoi chụm vào nhau là biểu tượng cho ô tô của
hãng Mitsubishi
Việc gắn tên nhãn hiệu hiện nay đã phổ biến rộng rãi đến mức hầu
như bất kỳ hàng hoá nào cũng đều có nhãn hiệu. Ngoài ra, các nước còn có
xu hướng mở rộng việc bảo hộ đối với các yếu tố cấu thành nhãn hiệu
nhằm nâng cao tính khác biệt của sản phẩm đến mức tối đa có thể. Bất kỳ
1
Theo: “Marketing c
ă
n b
ả
n - Marketing essentials” , Philip Kotler. Nhà xuất bản Thống kê, 2002.
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
5
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
một đặc trưng nào của sản phẩm tác động vào giác quan của người tiêu
dùng cũng có thể được coi là một phần của nhãn hiệu, miễn là chúng có tính
phân biệt. Do đó, ngoài tên nhãn hiệu, dấu hiệu nhãn hiệu thì tiếng động,
mùi vị riêng biệt của sản phẩm cũng có thể được đăng ký bản quyền. Tuy
nhiên, vấn đề này sẽ gây nhiều khó khăn cho việc lưu trữ, đối chiếu, kiểm
tra khi xảy ra tranh chấp.
1.2 Phân biệt nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu thương mại và thương hiệu
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế (International Trademark
Association) thì: “Nhãn hi
ệ
u th
ươ
ng m
ạ
i (trademark) bao g
ồ
m nh
ữ
ng t
ừ
ng
ữ
,
tên g
ọ
i, bi
ể
u t
ượ
ng hay b
ấ
t k
ỳ
s
ự
k
ế
t h
ợ
p nào gi
ữ
a nh
ữ
ng y
ế
u t
ố
trên
đượ
c
dùng trong th
ươ
ng m
ạ
i
để
xác
đị
nh và phân bi
ệ
t hàng hoá c
ủ
a các nhà s
ả
n
xu
ấ
t ho
ặ
c c
ủ
a ng
ườ
i bán v
ớ
i nhau và
để
xác
đị
nh ngu
ồ
n c
ủ
a hàng hoá
đ
ó”.
Như vậy, khi hàng hoá được lưu thông trên thị trường thì nhãn hiệu
hàng hoá trở thành nhãn hiệu thương mại. Nếu nhãn hiệu thương mại được
đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thì người chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại
đó dưới sự bảo hộ của luật pháp. Điều đó có nghĩa là người chủ sở hữu có
thể sử dụng, chuyển nhượng, hoặc bán nhãn hiệu thương mại, hay nói cách
khác thì chủ sở hữu có thể định giá đối với nhãn hiệu thương mại của mình.
Với ý nghĩa đó, khái niệm thương hiệu của hàng hoá ra đời và được hiểu
là nhãn hiệu hàng hoá sau khi đã được thương mại hoá, được mua bán trên
thị trường. Khi đó, nhãn hiệu sẽ được gắn thêm biểu tượng đ (registered
trademark - nhãn hiệu thương mại đã được đăng ký).
Ngoài khía cạnh thương mại, thương hiệu của một sản phẩm còn bao
hàm nhiều giá trị khác bởi thương hiệu là cảm nhận tổng thể về chất lượng,
uy tín và giá trị đằng sau một cái tên, một cái logo của doanh nghiệp. Do
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
6
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
vậy, thương hiệu có thể là bất cứ cái gì được gắn liền với sản phẩm hoặc
dịch vụ nhằm làm cho chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt hoá với
các sản phẩm cùng loại.
Thông thường, người ta dùng từ trademark để gọi chung cho nhãn hiệu
thương mại hàng hoá (trademark -
TM
) và nhãn hiệu thương mại dịch vụ
(servicemark -
SM
).
2. Một số loại nhãn hiệu hàng hoá
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra một bảng phân
loại nhãn hiệu hàng hoá một cách đầy đủ với ranh giới xác định rõ ràng.
Tuy nhiên, có thể kể ra đây một số loại nhãn hiệu hàng hoá điển hình nhất:
2.1 Nhãn hiệu liên kết
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 2 Nghị định 06/2001/NĐ-CP sửa đổi
bổ sung một số điều của Nghị định 63/1996/NĐ-CP quy định chi tiết về sở
hữu công nghiệp thì nhãn hiệu liên kết được hiểu là “các nhãn hiệu hàng
hoá tương tự nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm,
dịch vụ cùng loại, tương tự nhau hay có liên quan đến nhau, và các nhãn
hiệu hàng hoá trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản
phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”.
2.2 Nhãn hiệu tập thể
Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định như sau: “Nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu hàng hoá được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể
khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo
quy chế do tập thể đó quy định.”
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng nêu lên rằng nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của một tổ chức, một nhóm, ví dụ
như Saigon Times Group hay Coop Mart,
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
7
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
2.3 Nhãn hiệu nổi tiếng
“Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho
những sản phẩm, dịch vụ có uy tín làm cho nhãn hiệu đó được biết đến
rộng rãi”. (Khoản 10 Điều 2 Nghị định 06/2001/NĐ-CP).
Định nghĩa nêu trên không quy định rõ ràng căn cứ xác định “biết đến
rộng rãi”. Luật pháp quốc tế và Luật của các nước trên thế giới cũng không
có các tiêu chuẩn mang tính “công thức” để xác định nhãn hiệu nổi tiếng.
Trên thực tế, để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, phải xem
xét từng trường hợp cụ thể dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như thời điểm
nhãn hiệu được đăng ký, giá trị thương mại của nhãn hiệu, thị phần của
nhãn hiệu,
Khoản 6 Điều 6 trong Hiệp định thương mại Việt- Mỹ cũng đã đề cập
đến vấn đề này như sau: “Để xác định một nhãn hiệu hàng hoá có phải là
nổi tiếng hay không phải xem xét đến sự hiểu biết về nhãn hiệu hàng hoá
đó trong bộ phận công chúng có liên quan, gồm cả sự hiểu biết đạt được
trong lãnh thổ của Bên liên quan do kết quả của hoạt động khuếch trương
nhãn hiệu hàng hoá này. Không Bên nào được yêu cầu rằng sự nổi tiếng của
nhãn hiệu hàng hoá phải vượt ra ngoài bộ phận công chúng thường tiếp xúc
với hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan hoặc yêu cầu rằng nhãn hiệu hàng hoá
đó phải được đăng ký”. Tuy vậy, khái niệm “bộ phận công chúng có liên
quan” lại chưa được nêu rõ trong Hiệp định này.
2.4 Nhãn hiệu chứng nhận
Hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã xuất
hiện một loại nhãn hiệu mới là nhãn hiệu chứng nhận. Khái niệm nhãn hiệu
chứng nhận đã được công nhận là nhãn hiệu do người chủ sở hữu cho phép
người khác dùng, chẳng hạn như nhãn hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
8
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
cao”.
3. Điều kiện đối với các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu của một hàng hoá, dịch vụ là tên gọi tượng trưng của hàng
hóa dịch vụ đó. Cách thiết kế nhãn hiệu cho một loại hàng hoá dịch vụ rất
phong phú. Không thể kể hết được các loại hình của các loại nhãn hiệu,
song điều đó không có nghĩa là cấu tạo của nhãn hiệu có thể tùy tiện.
3.1 Các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ
Phù hợp với tập quán thương mại quốc tế, trong Khoản 1 Điều 6 Nghị
định 63/1996/NĐ-CP đã quy định rõ các dấu hiệu được công nhận dùng làm
nhãn hiệu hàng hoá nếu đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết
hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể độc đáo, dễ nhận biết;
b) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam (kể cả các
nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam tham gia);
c) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá nêu trong đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá đã nộp cho Cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả các
đơn về nhãn hiệu hàng hoá được nộp theo các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam tham gia);
d) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá của người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo
hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa
quá 5 năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì nhãn hiệu hàng hoá không
được sử dụng theo quy định tại điểm c)
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
9
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
e) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá của người khác được coi là nổi tiếng (theo điều 6 bis Công
ước Pari) hoặc với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được sử dụng và
đã được thừa nhận một cách rộng rãi;
f) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên
thương mại được bảo hộ với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ;
g) không trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc đã được
nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn;
h) không trùng với một hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả
của người khác trừ trường hợp được người đó cho phép.
3.2 Các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá không được bảo hộ
Khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định những dấu
hiệu sau không được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu hàng hoá:
a) dấu hiệu không có khả năng phân biệt, như các hình và hình hình
học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như
một từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc ngôn ngữ không thông dụng trừ trường
hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách
rộng rãi;
b) dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường
của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường
xuyên, nhiều người biết đến;
c) dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,
số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang tính mô
tả hàng hoá, dịch vụ và xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ;
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
10
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
d) dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đảo
người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của
hàng hoá hoặc dịch vụ;
e) dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu
bảo hành của Việt Nam, nước ngoài cũng như của các tổ chức quốc tế;
g) dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ,
biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ,
quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của
Việt Nam cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan, người có
thẩm quyền tương ứng cho phép.
4. Chức năng, vai trò của nhãn hiệu hàng hoá
4.1 Đối với người tiêu dùng
Mục tiêu của việc xây dựng nhãn hiệu là nhằm tạo dựng lòng tin và sự
chung thủy của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty. Vậy nhãn
hiệu hàng hoá có vai trò như thế nào đối với người tiêu dùng?
Với người tiêu dùng, nhãn hiệu hàng hoá xác định nguồn gốc của sản
phẩm hoặc nhà sản xuất của một sản phẩm và giúp khách hàng xác định nhà
sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối nào phải chịu trách nhiệm
2
. Nhãn hiệu
hàng hoá có ý nghĩa đặc biệt đối với khách hàng. Nhờ những kinh nghiệm
đối với một sản phẩm và chương trình tiếp thị của sản phẩm đó qua nhiều
năm, khách hàng biết đến các nhãn hiệu. Họ tìm ra được nhãn hiệu nào
2
Theo: “T
ạ
o d
ự
ng và qu
ả
n tr
ị
th
ươ
ng hi
ệ
u. Danh ti
ế
ng -L
ợ
i nhu
ậ
n” - Viện nghiên cứu và đào tạo về quản
lý, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2003
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
11
Hình 1: Chu trình ra quy
ế
t
đị
nh mua s
ắ
m c
ủ
a khách hàng
Đánh giá
các lựa chọn
Quyết định
mua
Hành vi sau
khi mua
Nhận thức
vấn đề
Tìm kiếm
thông tin
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
thoả mãn được nhu cầu của mình còn nhãn hiệu nào thì không. Kết quả là,
các nhãn hiệu là một công cụ nhanh chóng hoặc là cách đơn giản hoá đối
với quyết định mua sản phẩm của khách hàng (xem Hình 1). Đây chính là
điều quan trọng nhất mà một thương hiệu cũng như công ty được gắn với
thương hiệu đó cần vươn tới.
Nếu khách hàng nhận ra một nhãn hiệu và có một vài kiến thức về nhãn
hiệu đó, họ không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm, xử lý nhiều thông tin
để đưa ra quyết định về tiêu dùng sản phẩm. Như vậy, từ khía cạnh kinh tế,
thương hiệu cho phép khách hàng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản phẩm. Dựa
vào những gì họ đã biết về nhãn hiệu - chất lượng, đặc tính của sản phẩm
- khách hàng hình thành những giả định và kỳ vọng có cơ sở về những gì mà
họ còn chưa biết về nhãn hiệu.
Mối quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng có thể được xem như
một kiểu cam kết hay giao kèo. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành
của mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng bằng cách nào đó, thương
hiệu sẽ đáp lại và mang lại lợi ích cho họ thông qua tính năng hợp lý của
sản phẩm, giá cả phù hợp, các chương trình tiếp thị, khuyến mại và các hỗ
trợ khác. Nếu khách hàng nhận thấy những ưu điểm và lợi ích từ việc mua
thương hiệu cũng như họ cảm thấy thoả mãn khi tiêu thụ sản phẩm thì
khách hàng có thể tiếp tục mua sản phẩm thương hiệu đó.
Thực chất, các lợi ích này được khách hàng cảm nhận một cách rất đa
dạng và phong phú. Các thương hiệu có thể xem như một biểu tượng mà
khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân. Một số thương hiệu gắn liền với
một con người hoặc một mẫu người nào đó để phản ánh những giá trị khác
nhau hoặc những nét khác nhau. Do vậy tiêu thụ sản phẩm được gắn với
những thương hiệu này là một cách để khách hàng có thể giao tiếp với
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
12
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
những người khác, thậm chí với chính bản thân họ - tuýp người mà họ đang
hoặc muốn trở thành. Chẳng hạn, các khách hàng trẻ tuổi trở nên sành điệu,
hợp mốt hơn trong các sản phẩm của Nike, với một số người khác lại mong
muốn hình ảnh một thương nhân năng động và thành đạt với chiếc xe
Mercedes đời mới,
Thương hiệu còn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc báo
hiệu những đặc điểm và thuộc tính của sản phẩm tới người tiêu dùng. Các
nhà nghiên cứu đã phân loại các sản phẩm và các thuộc tính hoặc các lợi ích
kết hợp của chúng thành ba loại chính: hàng hoá tìm kiếm, hàng hoá kinh
nghiệm và hàng hoá tin tưởng.
Với hàng hoá tìm ki
ế
m, các thuộc tính của sản phẩm có thể được đánh
giá qua sự kiểm tra bằng mắt (Ví dụ: sự cứng cáp, kích cỡ, màu sắc, kiểu
dáng, trọng lượng, và thành phần cấu tạo của một sản phẩm )
Với hàng hoá kinh nghi
ệ
m, các thuộc tính của sản phẩm không thể dễ
dàng đánh giá bằng việc kiểm tra, mà việc thử sản phẩm thật và kinh
nghiệm là cần thiết (Ví dụ: độ bền, chất lượng dịch vụ, độ an toàn, dễ dàng
xử lý hoặc sử dụng )
Với hàng hoá tin t
ưở
ng, các thuộc tính của sản phẩm rất khó có thể biết
được (Ví dụ: chi trả bảo hiểm ) Do việc đánh giá, giải thích các thuộc tính
và lợi ích của sản phẩm là hàng hoá kinh nghi
ệ
m và hàng hoá tin t
ưở
ng rất
khó nên các thương hiệu có thể là dấu hiệu đặc biệt quan trọng về chất
lượng và các đặc điểm khác để người tiêu dùng nhận biết rõ ràng hơn.
Thương hiệu có thể làm giảm các loại rủi ro khi quyết định mua và tiêu
dùng một sản phẩm như:
R
ủ
i ro ch
ứ
c n
ă
ng: Sản phẩm không được như mong muốn.
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
13
Đăng ký b
ả
o h
ộ
nhãn hi
ệ
u hàng hoá t
ạ
i th
ị
tr
ườ
ng Hoa Kỳ
R
ủ
i ro v
ậ
t ch
ấ
t: Sản phẩm đe dọa sức khỏe hoặc thể lực của người
sử dụng hoặc những người khác.
R
ủ
i ro tài chính: Sản phẩm không tương xứng với giá đã trả.
R
ủ
i ro xã h
ộ
i: Sản phẩm không phù hợp với văn hóa, tín ngưỡng,
hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội.
R
ủ
i ro tâm lý: Sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của
người sử dụng.
R
ủ
i ro th
ờ
i gian: Sản phẩm không như mong muốn dẫn đến mất chi
phí cơ hội để tìm sản phẩm khác.
Mặc dù khách hàng có những cách khác nhau để xử lý những rủi ro
này, nhưng chắc chắn có một cách mà họ sẽ chọn, đó là chỉ mua những
thương hiệu nổi tiếng, nhất là những thương hiệu mà họ đã có những kinh
nghiệm tốt trong quá khứ. Vì vậy, thương hiệu có thể là một công cụ xử lý
rủi ro rất quan trọng (xem thêm H
ộ
p 1).
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét