Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Hoàn thiện các loại hình dịch vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
Phạm vi của bài khoá luận này chỉ nhằm tập trung nghiên cứu và đa ra những
giải pháp để nâng cao chất lợng hoạt động của các dịch vụ ngân hàng thơng mại
thông qua việc hoàn thiện các dịch vụ, qua đó góp phần làm cho hoạt động của
các ngân hàng thơng mại Việt Nam có tính cạnh tranh cao hơn, phù hợp hơn với
môi trờng kinh tế quốc tế ngày nay.
Về mặt kết cấu, bài luận văn gồm có 3 chơng:
Chơng I: Các loại hình dịch vụ của ngân hàng thơng mại
Chơng II: Hoàn thiện các dịch vụ của ngân hàng thơng mại Việt Nam.
Chơng III: Những kiến nghị nhằm nâng cao chất lợng hoạt động của các
ngân hàng thơng mại Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện bài viết, tuy đã rất nỗ lực nghiên cứu và su tầm
tài liệu, song do nhiều hạn chế về mặt chủ quan và khách quan nên bài khoá
luận vẫn có nhiều chỗ thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn chỉ bảo
của thạc sỹ Bùi Ngọc Sơn và các thầy cô giáo của khoa Kinh Tế Ngoại Thơng
trờng Đại học Ngoại Thơng Hà nội, cũng nh các cán bộ nhân viên của ngân
hàng IndoVina, chi nhánh Hà nội đã giúp em hoàn thành bài khoá luận này /.
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

82

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
Chơng I
Các loại hình dịch vụ của ngân
hàng thơng mại
I. Khái niệm về ngân hàng thơng mại:
1. Khái niệm:
Ngân hàng thơng mại thuộc các tổ chức trung gian tài chính - hệ thống
ngân hàng cấp II, có mối quan hệ trực tiếp với mọi thành phần kinh tế của xã
hội. Ngân hàng thơng mại chiếm số đông trong hệ thống ngân hàng ở các n-
ớc trên thế giới. Khái niệm về ngân hàng thơng mại ở các nớc không giống
nhau nhng có một điểm chung là các ngân hàng thơng mại không có quyền
phát hành giấy bạc nh ngân hàng trung ơng.
Riêng ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng đã đợc nớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kì họp thứ 2 thông qua ngày 12
tháng 12 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1998 thì các ngân
hàng thơng mại đợc gọi là các tổ chức tín dụng. Theo Điều 12 của luật nói
trên, Tổ chức tín dụng là " doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán."
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

83

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
Nh vậy, ngân hàng thơng mại giống các tổ chức kinh doanh khác là
hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận. Ngân hàng thơng mại trớc hết là một
doanh nghiệp, vì ngân hàng thơng mại hoạt động giống nh các doanh nghiệp
khác: có vốn riêng, mua vào, bán ra, có chi phí và thu nhập, có nghĩa vụ nộp
thuế cho nhà nớc, có thể lãi hoặc lỗ, giàu lên hoặc phá sản. Tuy nhiên, ngân
hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tợng kinh doanh
của ngân hàng là tiền tệ, phạm vi kinh doanh của ngân hàng là các dịch vụ
phát sinh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Ngân hàng không tham gia vào
quá trình sản xuất mà nằm ngoài quá trình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình sản xuất, lu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách
cung ứng vốn, cung ứng dịch vụ, góp phần làm tăng tốc độ phát triển nền
kinh tế. Ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách cung ứng các dịch vụ trung gian
trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, thông qua đó khách hàng trả cho ngân hàng
các khoản lệ phí, dịch vụ phí. Đặc điểm lao động trong ngành ngân hàng
cũng khác với các ngành sản xuất vật chất và cung ứng dịch vụ khác. Đặc
điểm này lại đợc biểu hiện trong sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Do vậy, dịch
vụ ngân hàng, ngoài đặc điểm của dịch vụ nói chung (vô hình, không có sản
phẩm tồn kho), còn đợc hình thành từ 1 trong 2 lĩnh vực hoạt động ngân
hàng:
-Bỏ vốn đầu t trực tiếp để thu lợi nhuận.
-Sử dụng nhân lực, thiết bị, thời gian thực hiện các hợp đồng khách hàng
để thu lệ phí gọi là dịch vụ ngân hàng.
2. Các chức năng của ngân hàng thơng mại:
Ngân hàng thơng mại hoạt động dựa trên 3 nghiệp vụ cơ bản, đó là
nghiệp vụ tài sản nợ (là nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng, chủ yếu thông
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

84

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
qua các khoản tiền gửi của dân chúng và các doanh nghiệp đang có vốn nhàn
rỗi), nghiệp vụ tài sản có (còn gọi là hoạt động tín dụng, là nghiệp vụ cho vay
dựa trên các khoản thế chấp, cầm cố hoặc uy tín, mối quan hệ của khách hàng
vay), nghiệp vụ trung gian hay còn gọi là dịch vụ ngân hàng (là nghiệp vụ tổ
chức thanh toán trong nền kinh tế). Dựa vào các nghiệp vụ này, ngân hàng th-
ơng mại thực hiện các chức năng sau đây:
a. Chức năng trung gian tín dụng:
Trong thực tế của quá trình tái sản xuất xã hội, có một lợng vốn nhàn rỗi
nằm trong tay những chủ thể không kinh doanh hoặc cha cần đến vốn, trong khi
đó lại có một số chủ thể đang rất cần vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Chính các ngân hàng thơng mại sẽ giải quyết mâu thuẫn này
với t cách là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng. Bằng cách huy động mọi nguồn vốn cha sử dụng tới của các chủ thể kinh
tế trong xã hội để hình thành quỹ cho vay tập trung, sau đó cho các chủ thể
đang cần vốn thuộc các thành phần kinh tế vay lại, ngân hàng thơng mại đóng
vai trò là ngời trung gian môi giới giữa ngời đi vay và ngời cho vay. Hoạt động
trung gian tín dụng này của ngân hàng thơng mại quyết định sự phát triển lớn
mạnh của chính bản thân ngân hàng.
b. Chức năng trung gian thanh toán:
Cùng với hoạt động của ngân hàng thơng mại trong quá trình làm trung
gian tín dụng đã thu hút các nhà doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi thanh toán
tại ngân hàng. Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng thơng mại
thực hiện các khoản thanh toán chi trả cho khách hàng theo các hợp đồng mua
bán, giao dịch. Với vai trò là trung gian thanh toán, ngân hàng làm theo lệnh
của chủ tài khoản nh tính tiền trên tài khoản của ngời mua để chuyển sang tài
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

85

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
khoản của ngời bán hoặc phục vụ thanh toán về hàng hoá, dịch vụ cho các
khách hàng. Với chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là thủ quỹ cho doanh
nghiệp, chỉ thực hiện việc thanh toán thông qua hệ thống tài khoản tiền gửi tại
ngân hàng. Thông qua chức năng này, ngân hàng đã góp phần làm tăng tốc độ
luân chuyển vốn, đẩy nhanh thanh toán, giảm lợng tiền mặt trong lu thông, dẫn
đến tiết kiệm chi phí lu thông tiền mặt nh in ấn, đếm nhận và bảo quản.
c. Chức năng "tạo tiền" của ngân hàng thơng mại:
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán mà
các ngân hàng thơng mại có khả năng "tạo tiền". Từ một khoản tiền gửi ban đầu
vào một ngân hàng, ngân hàng phải để lại một khoản dự trữ bắt buộc theo một tỉ
lệ % nào đó do ngân hàng trung ơng quy định để đảm bảo khả năng ổn định cho
việc chi trả thờng xuyên của ngân hàng thơng mại và yêu cầu quản lý tiền tệ
của ngân hàng trung ơng. Một khoản tiền gửi mới đợc đa vào hệ thống ngân
hàng sẽ tạo thêm một khoản dự trữ mới và cho phép tạo ra một lợng tối đa
khoản cho vay mới. Những khoản cho vay mới đợc đa trở lại hệ thống ngân
hàng và lại trở thành những khoản tiền gửi mới. Nh vậy, thông qua cho vay
bằng chuyển khoản, các ngân hàng đã nhân số tiền đó lên nhiều lần. Số tiền đợc
nhân lên nhiều hay ít phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi, mà hệ số mở rộng
tiền gửi của ngân hàng thơng mại lại chịu sự tác động của 3 yếu tố: tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng và tỷ lệ dự trữ d thừa. Do vậy, giả sử
trong thực tế có một khách hàng nào đó vay bằng tiền mặt để thanh toán thì quá
trình tạo tiền sẽ chấm dứt.
II. Quá trình phát triển của dịch vụ ngân hàng:
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

86

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
1. Tổng quan dịch vụ ngân hàng trong các mốc lịch sử:
Nguồn gốc ra đời của ngân hàng là từ những ngời thợ vàng London ở
Anh thế kỷ 17. Với lợi thế công việc chế tác vàng, những ngời thợ vàng có
điều kiện tốt hơn ai hết về cất giữ vàng. Vì vậy, họ là những ngời đầu tiên
nhận ký gửi vàng và giao cho ngời gửi vàng giấy biên nhận. Do việc rút vàng
chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với số vàng họ gửi đã làm cho những ngời thợ
vàng này nghĩ ra cách kiếm lời bằng việc cho vay vàng còn lại của khách
hàng cha rút. Từ đó, các nghiệp vụ khác cũng dần phát triển theo tiến trình
lịch sử phát triển của kinh tế. Các dịch vụ ngân hàng ngày càng trở nên đa
dạng, phong phú, mang màu sắc hiện đại.
Khởi đầu, hoạt động dịch vụ ngân hàng có tính đơn giản nh làm dịch
vụ thanh toán cho t nhân và tín dụng Nhà nớc. Sau đó, các dịch vụ này dần
chuyển trọng tâm sang đầu t cho nền kinh tế, nỗ lực khai thác vốn cho công
nghiệp hoá. Từ đó, xuất hiện mô hình "ngân hàng tổng hợp", ngân hàng t
nhân và ngân hàng chuyên doanh.
Thế kỷ 20 đánh dấu sự biến đổi mạnh mẽ hoạt động ngân hàng cùng
với sự bùng nổ về khách hàng. Các ngân hàng thơng mại ngày càng đợc xã
hội hoá cao hơn. Tới thập niên 90, cùng với sự phát triển nhảy vọt của công
nghệ thông tin, hoạt động ngân hàng đã biến đổi sâu sắc cả về lợng lẫn về
chất. Các ngân hàng có xu thế mở rộng ảnh hởng vợt ra khỏi biên giới quốc
gia, hội nhập toàn cầu hoá, quốc tế hoá hoạt động ngân hàng với sự ra đời của
các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế và liên doanh cung ứng dịch vụ ngân
hàng toàn cầu SWIFT, các công ty phát hành thẻ thanh toán liên quốc gia
và phạm vi toàn cầu.
2. Cuộc cách mạng dịch vụ ngân hàng thập niên 90:
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

87

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
Cuộc cách mạng dịch vụ ngân hàng thập niên 90 đã làm thay đổi căn
bản phạm vi, khối lợng và chất lợng dịch vụ ngân hàng một cách toàn diện;
tạo lập và cung ứng dịch vụ ngân hàng theo t duy mới, ứng dụng công nghệ
mới; dịch vụ ngân hàng đã đạt tới tính đa dạng, hiện đại, mở rộng tới hàng
chục triệu khách hàng thuộc các tầng lớp dân c. Đây chính là chiến lợc phát
triển ngân hàng hiện đại, từ đó có thể đánh giá, chọn lọc kinh nghiệm và vận
dung đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Chiến lợc kinh doanh hớng vào khách hàng t nhân đã tạo ra khởi điểm
khả quan cho giới kinh doanh ngân hàng đạt hiệu quả cao trong thập niên 90. ý
tởng của chiến lợc tạo môi trờng kinh doanh thông thoáng qua các hộ cá thể đối
với các nhà quản lý ngân hàng năng động là hiển nhiên, cung cấp cho dân
chúng hệ thống dịch vụ tiền tệ ngày càng phong phú, đa dạng, có giá trị cao
hơn, đợc khách hàng chấp nhận và tiêu thụ rộng rãi.
Ngời ta hớng tới những chất lợng mới xác lập trên nền tảng mật độ
mạng lới và mối quan hệ tin cậy với khách hàng, những gì thúc đẩy gia tăng
đầu t mang lại giá trị thặng d lớn trong công việc kinh doanh. Hoạt động
ngân hàng bắt đầu từ khách hàng và lớn lên từ mối quan hệ hai chiều giữa
nhu cầu khách hàng và năng lực đáp ứng của ngân hàng.
Logic kinh doanh mới tạo ra sự phát triển ổn định và lâu dài của mối
quan hệ ngân hàng - khách hàng có thể xem là hạt nhân của chiến lợc khách
hàng, tạo cơ sở bền vững xây dựng và củng cố các mối quan hệ bạn hàng
bình đẳng, cung ứng và sử dụng các dịch vụ mới đa lại lợi ích cho cả hai
phía.
Thập niên 90 cũng chính là thời gian mà các nhà cải cách ngân hàng
bắt tay vào lựa chọn công nghệ mới để có thể cân đối đợc lợi ích của cả ngân
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

88

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
hàng và khách hàng. Các thiết bị máy tính đầu cuối đã đợc thay thế bằng một
mạng lới các máy tính cá nhân, máy rút tiền tự động thế hệ mới có tính năng
đa dạng, tiên tiến ( gửi tiền, rút tiền, thông báo tài khoản, thanh toán tự động
liên ngân hàng ). Các công nghệ mới đều nhằm hớng tới giải pháp tối u cho
3 vấn đề:
-Tạo ra hệ thống tiêu thụ đơn giản và thuận tiện cho các dịch vụ tiền mặt
và các dịch vụ trung gian khác.
-Giảm chi phí đi đôi với nâng cao chất lợng dịch vụ.
-Tạo lập một hệ thống trong đó việc thu hút tiền gửi sẽ dẫn đến các
nghiệp vụ ngân hàng gắn liền với đời sống thờng nhật và đợc sử dụng tạo
ra giá trị thặng d.
3. Vai trò của dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại:
Nh đã biết, cung ứng dịch vụ thanh toán hay còn gọi là dịch vụ ngân
hàng là một trong 3 chức năng cơ bản của ngân hàng thơng mại. Hoạt động
này dựa trên nghiệp vụ trung gian thanh toán. Ngân hàng thơng mại căn cứ
theo yêu cầu của khách hàng, thay mặt khách hàng làm công việc thanh toán,
thực hiện các uỷ thác khác để thu thủ tục phí, hoa hồng. Ngày nay, các dịch
vụ của ngân hàng thơng mại ngày càng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đối
với bản thân ngân hàng mà còn đối với sự phát triển chung của nền kinh tế.
Thứ nhất, đối với sự phát triển của ngân hàng:
Trớc hết, phải thấy rõ sự liên hệ, hỗ trợ cho nhau giữa các hoạt động
của ngân hàng. Các loại hoạt động của ngân hàng là một thể thống nhất có
quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau để có thể khai thác, sử dụng
mọi nguồn vốn của ngân hàng một cách có hiệu quả nhất. Hoạt động tín
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

89

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
dụng phát triển sẽ làm tăng lợng khách thờng xuyên của ngân hàng. Các
khách hàng thờng đến yêu cầu ngân hàng phục vụ tín dụng cho mình làm
luôn trung gian trong các nghiệp vụ nh thanh toán quốc tế, chu chuyển tiền
tệ, bảo quản và xuất nhập tiền mặt v.v. tức là làm cho hoạt động trung gian
của ngân hàng phát triển theo. Ngợc lại, khi yêu cầu ngân hàng làm ngời
trung gian, khách hàng thờng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng chi
trả hộ. Nhờ vậy, ngân hàng ngoài việc thu thủ tục phí, còn có thể sử dụng
vốn của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, cùng
với việc cung ứng dịch vụ chất lợng, nhanh chóng, thuận lợi, ngân hàng th-
ơng mại sẽ tạo đợc uy tín cho mình trên thị trờng, thu hút một lợng lớn khách
hàng đến sử dụng dịch vụ thanh toán. Cùng lúc đó, những khách hàng sử
dụng dịch vụ thanh toán này sẽ có nhu cầu gửi tiền tại ngân hàng để phục vụ
cho việc thanh toán của chính mình. Nhờ đó, ngân hàng sẽ mở rộng đợc thị
phần, nâng cao lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh, nhất là trong nền kinh tế
hiện đại ngày nay, tốc độ và chất lợng dịch vụ thanh toán có vai trò ngày
càng quan trọng.
Thứ hai, đối với sự phát triển chung của nền kinh tế:
Việc thực hiện thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng có tác dụng
làm giảm lợng tiền mặt trong lu thông, tiết kiệm chi phí lu thông tiền giấy,
đồng thời hiện đại hoá việc thanh toán trong nền kinh tế quốc dân. Sở dĩ có
thể thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng là vì các ngân hàng
đều thiết lập quan hệ đại lý với nhau, dựa vào đó để chỉ thị cho các ngân
hàng đại lý thanh toán cho khách hàng của mình. Khi đó, các ngân hàng sẽ
mở tại các ngân hàng có quan hệ đại lý với mình những tài khoản để ghi
chép các khoản tiền di chuyển giữa ngân hàng mình và ngân hàng đại lý.
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

90

Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện các loại hình dịch vụ NHTM
Thay vì phải chuyển giao tiền một cách thực sự giữa các ngân hàng, họ chỉ
việc ghi có và nợ vào các tài khoản mà mình mở ở ngân hàng kia và tài
khoản ngân hàng kia mở tại ngân hàng mình. Điều đó làm tăng nhanh tốc độ
thanh toán. Chính vì vậy, hoạt động thanh toán qua ngân hàng rất đợc a
chuộng do tính nhanh gọn và an toàn của nó.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng phát triển làm thay đổi thói quen
cất trữ tiền mặt của các cá nhân, thu hút một lợng lớn vốn nhàn rỗi vào ngân
hàng, phục vụ cho nhu cầu vốn để phát triển sản xuất. Không những thế, thói
quen sử dụng dịch vụ thanh toán hiện đại trong dân chúng là tiền đề cần thiết
để phát triển các hình thức thơng mại hiện đại của những nền kinh tế tiên
tiến, chẳng hạn nh thơng mại điện tử, góp phần vào quá trình hiện đại hoá
nền kinh tế.
Phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn có ý nghĩa quan trọng
trong xu hớng chung của nền kinh tế thế giới. Toàn cầu hoá và khu vực hoá
đã thể hiện rõ vai trò thống trị của mình, kéo theo đó là sự xâm nhập, bành
trớng vào thị trờng của nhau ngày càng quyết liệt, không chỉ đối với luồng
hàng hoá hiện vật, mà cả đối với luồng vốn tiền tệ. Nh vậy, để theo kịp và
phát triển đợc trong xu hớng đó, mỗi một nền kinh tế cần có một hệ thống
thanh toán nhanh nhạy, chất lợng và hiện đại để phục vụ cho sản xuất kinh
doanh và lu thông vốn từ trong nớc ra ngoài biên giới quốc gia và ngợc lại.
Dịch vụ thanh toán hiện đại, loại hình dịch vụ đa dạng chính là đòn tựa cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu t trong nớc phát triển, hội nhập và
cạnh tranh.
Nguyễn Thị Minh Trang - K37 KTNT

91

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét