nghìn học viên, tăng gấp 13 lần năm học sau giải phóng. Tính bình quân cứ 3
người Hà Nội có một người đang đi học. Nhiều học sinh Hà Nội đạt giải cao
trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Hà Nội còn là địa phương đầu tiên trong
cả nước được công nhận phổ cập xong cấp trung học cơ sở, có một số trường
đặc biệt dạy trẻ em khuyết tật.
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế
Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000
là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng
từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam. Theo số
liệu năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% của cả quốc gia và khoảng
41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng.
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có
những thay đổi về cơ cấu kinh tế. Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành
công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thuỷ sản từ
9% giảm xuống còn 3,8%. Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng
thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2%. Ngành công nghiệp của Hà Nội
vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công
nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và
công nghiệp vật liệu. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát
Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát
triển.
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng,
trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu. Hà Nội là một trong những địa
phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu
USD và 290 dự án. Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện
nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
5
Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang
khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường. Bên cạnh những
công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế Hà Nội. Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh
nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp cùa thành phố.
Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động.
Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội,
hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của
Hà Nội. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có
3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu
lao động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào
tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế. Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn
khác. Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn
môi trường đầu tư của thành phố còn thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm
chủ lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà
Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong
dân cư.
Thành phố Hà Nội có số dân khoảng 6,1 triệu ngưới.Dân cư Hà Nội phân
bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái. Mật độ
dân số trung bình của Hà Nội là 2881 người/km
2
(mật độ trung bình ở nội
thành 19163 người/km
2
, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km
2
, ở ngoại
thành 1721 người/km
2
). Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình
của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là
thành phố có mật độ cao nhất cả nước.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
6
Việc dân số tăng quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa không được quy
hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở thành một thành phố chật chội, ô nhiễm và giao
thông nội ô thường xuyên ùn tắc. Nhiều di sản kiến trúc của thành phố đang
dần biến mất, thay thế bởi những ngôi nhà ống nằm lộn xộn trên khắp các con
phố. Hà Nội còn là một thành phố phát triển không đồng đều với nhiều khu
vực ngoại thành lạc hậu, nơi người dân vẫn chưa có được những điều kiện
sinh hoạt thiết yếu.
Hà Nội là trung tâm chính trị,kinh tế văn hóa giáo dục của cả nước.Bên
cạnh đó còn nhiều bất cập như mật độ dân số tăng nhanh cộng với quy hoạch
kiến trúc đô thị còn lộn xộn vì vậy nhất thiết phải tăng cường thu hút vốn cho
đầu tư phát triển để xây dựng Hà Nội thành một thành phố bền vững trong
tương lai.Bên cạnh việc huy động vốn từ ngân sách,từ các nguồn vốn nước
ngoài thì nguồn vốn trong dân cư về dài hạn là vô cùng quan trọng.Thực tế
phát triển thế giới cho thấy,bất kỳ nước nào cũng đều sử dụng nguồn lực nội
bộ là chính.Nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài,dù là viện trợ,cho vay hay đầu tư
từ nước ngoài cũng không thể thay thế nguồn vốn trong nước.Hơn nữa các
nguồn vốn nước ngoài không phải là vốn cho không mà đều có điều kiện và
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Về lâu dài vốn vay phải trả cả gốc lẫn lãi,còn
FDI phải dành một phần cho chuyển lãi và vốn gốc về chính quốc.
Xét dưới góc độ tổng quát,nguồn vốn trong dân cư có vai trò:
-Lăm tăng vốn đầu tư toàn xã hội,trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư
trong nước.
-Đáp ứng sự linh hoạt phương thức,qui mô,lĩnh vực đầu tư,từ đó góp
phần làm tăng hiệu quả đầu tư của xã hội.
Với GDP bình quân đầu người vào mức cao của cả nước thì việc huy
động tối đa các nguồn vốn dân cư cho đầu tư phát triển kinh tế là cần thiết
hơn bao giờ hết.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
7
1.2.Thực trạng huy động nguồn vốn dân cư cho đầu tư phát triển.
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thì cần phải có
một nguồn vốn lớn.Chính sách huy động và sử dụng vốn là một bộ phqqnj
quan trọng trong chính sách tài chính -tiền tệ quốc gia,nó liên quan đến chính
sách phân phối thu nhập trong phạm vi toàn xã hội,tác động trực tiếp đến các
mối quan hệ tích lũy,tiêu dùng và các chính sách tiền tệ tín dụng.
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại
hoá trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, Việt Nam phải hoàn tất củng cố hệ thống
cơ sở hạ tầng. Điều này yêu cầu một nguồn vốn khổng lồ, bao gồm quỹ Nhà
nước và vốn từ các cá nhân cả trong nước và nước ngoài, cũng như sự hợp tác
chặt chẽ giữa Nhà nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng quốc gia nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
Theo báo cáo Phát triển Việt Nam 2007 của ngân hàng Thế giới, đầu tư
hàng năm của Việt Nam vào cơ sở hạ tầng chiếm từ 9-10% GDP (tỉ lệ cao
nhất so với tiêu chuẩn quốc tế). Tuy nhiên, cả Ngân hàng Thế giới và Ngân
hàng Phát triển Châu Á đều cho rằng, để duy trì tỉ lệ hiện tại, Việt Nam nên
tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng đến 11-12% trong tổng GDP.
Theo Thứ trưởng Sở Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Bích Đạt, đầu tư vào phát
triển cơ sở hạ tầng phải gấp 2 lần tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, nếu không, mọi thứ
sẽ phải được bố trí lại.
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm
2020, Việt Nam phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và toàn diện.
Giai đoạn 2007-2008, đất nước cần khoản 30 tỉ USD/năm để phát triển cơ sở
hạ tầng. Hiện tại, gần 40% trong tổng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là
được cung cấp từ nguồn vốn quốc tế, trong khi đó, chỉ 15% là từ tư nhân.
Đối với nhu cầu đầu tư vốn để nâng cao hệ thống giao thông cho đến
năm 2020, mỗi năm Việt Nam cần 117.744 tỉ VND (gần 7,4 tỉ USD), trong
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
8
khi hiện tại, khả năng đáp ứng nhu cầu trên chỉ ở mức 2-3 tỉ USD, chủ yếu từ
ngân sách Nhà nước, ODA và trái phiếu Chính phủ. Theo Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV), con số này chỉ đáp ứng 20-30% tổng nhu
cầu.
Hà Nội là trung tâm tài chính-tiền tệ lớn nhất Miền Bắc và đứng thứ hai
đất nước sau thành phố Hồ Chí Minh.Trong những năm qua,Hà Nội đã thu
hút được khá nhiều nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Phương hướng và nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đã được khẳng
định và thể chế hóa qua nghị quyết của Bộ chính trị về phương hướng,nhiệm
vụ phát triển thủ đô trong thời kỳ 2001-1010 và Pháp lệnh Thủ đô,theo đó
mục tiêu đề ra là đến năm 2010,tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm
của Hà Nội đạt khoảng 9%,GDP bình quân đầu người đạt 2100-
2200USD/người,cơ cấu kinh tế là:dịch vụ 56%.công nghiệp 42%,nông nghiệp
2%.
Để thực hiện được các mục tiêu nói trên,việc huy động tối đa các nguồn
lực tài chính cho đầu tư phát triển thủ đô đóng vai trò quyết định.Theo ước
tính,trong thời kỳ 2001-2010,nhu cầu về vốn đầu tư phát triển trên địa bàn
thành phố Hà Nội 329.000 tỷ đồng,bình quân hàng năm nhu cầu về vốn là
32.900 tỷ đồng.
1.3.Kết quả huy động nguồn vốn trong dân cư cho đầu tư phát triển
kinh tế qua các kênh chính thức chủ yếu.
1.3.1.Huy động nguồn vốn dân cư cho NSNN theo kênh phát hành
trái phiếu chính phủ thông qua kho bạc nhà nước.
Việt Nam bắt đầu tiến hành huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
thí điểm từ 1991 và tính đến 2005, Bộ Tài chính đã huy động được 200 ngàn
tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2000-2005 là huy động nhiều nhất. Hiện nay,
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
9
trái phiếu Chính phủ đang là lượng hàng hoá lớn nhất trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Chính phủ đã phát hành khoảng gần 60.000
tỉ đồng trái phiếu; trong đó 50.000 tỉ đồng phát hành qua Kho bạc Nhà nước,
8.000 tỉ đồng phát hành qua đấu giá trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.Toàn bộ số vốn phát hành trái phiếu
Chính phủ nói trên được Bộ Tài chính để Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy
Việt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu.
Bảng 1: Các đợt huy động vốn của kho bạc Hà Nội.
Năm 1995 6.681.015
Đợt 1 6 tháng 1,7 2.060.901
Đợt 2 12 tháng 21 4.620.114
Năm 1996 734.482
Đợt 1 12 tháng 16 260.302
Đợt 2 12 tháng 12 474.180
Năm 1997 1.218.956
Đợt 1 24 tháng 12 925.087
Đợt 2 24 tháng 14 293.869
Năm 1998 638.570
Đợt 1 24 tháng 12 29.341
Đợt 2 24 tháng 12 149.616
Đợt 3 24 tháng 13 412.874
Đợt 4 24 tháng 14 46.739
Năm 1999 3.814.207
Đợt 1 24 tháng 13 893.837
Đợt 2 60 tháng 10 2.920.370
Năm 2000 1.024.000
Đợt 1 24 tháng 7 591.000
Đợt 2 60 tháng 6.4 433.000
Năm 2001 759.528
Đợt 1 24 tháng 6.8 637.749
Đợt 2 24 tháng 7.0 80.426
Đợt 3 60 tháng 7.2 41.353
Năm 2002 759.528
Đợt 1 24 tháng 7.1 167.796
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
10
Đợt 2 24 tháng 7.4 277.446
Đợt 3 24 tháng 7.8 273.545
Năm 2003 2.513.876
Đợt 1 24 tháng 8.2 293.824
Đợt 2 60 tháng 8.0 1.490.747
Đợt 3 24 tháng 8.4 140.818
Đợt 4 24 tháng 8.2 147.761
Đợt 5 60 tháng 8.5 44.726
Năm 2004 1.323.071
Đợt 1 24 tháng 8.2 788.962
Đợt 2 60 tháng 8.5 534.109
Năm 2005 2.459.648
Đợt 1 24 tháng 8.4 381.903
Đợt 2 60 tháng 8.2 2.077.745
Đợt 3 60 tháng 8.6 120.198
Nguồn:Kho bạc Hà Nội
Để chủ động hơn trong việc sử dụng vốn từ năm 1996.KBNN đã ngừng
phát hành trái phiếu loại 1 năm để phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm.Thời
hạn phát hành trái phiếu thường là 2 năm.Lãi suất trái phiếu cũng được điều
chỉnh giảm dần từ 16% năm 1996 xuống còn khoảng trên dưới 8% cho đến
hiện nay.
Về huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP), tính đến
hết ngày 24/12/2008, Kho bạc Nhà nước đã huy động được trên 39.627 tỷ
đồng, bằng 63,6% kế hoạch được giao. Trong năm 2008, đã có 70 thành viên
thị trường tham gia vào thị trường đấu thầu TPCP, 40 thành viên bảo lãnh
phát hành.
Trong 2 năm 2005 và 2006,Hà Nội đã phát hành TPCQĐP qua KBNN
thành phố thu được 1500 tỷ đồng dùng để đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị(cầu
Nhật Tân và đường 5 kéo dài).Thời hạn huy động chủ yếu là 5 năm với lãi
suất gần 8%.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
11
Ngày 1/4/2009, UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt kế hoạch đầu tư 400 tỷ
đồng đợt 1 năm 2009 theo cơ chế cấp phát các dự án xây dựng hạ tầng kỹ
thuật, và nhà ở xã hội trên địa bàn Thủ đô.
Cụ thể, ngân sách TP sẽ tạm ứng 200 tỉ đồng thực hiện các dự án đầu tư
theo cơ chế cấp phát thuộc kế hoạch năm 2008 nhưng mất cân đối nguồn do
hụt thu nguồn tiền sử dụng đất, tiền bán nhà phục vụ tái định cư thuộc kế
hoạch thu năm ngoái, chuyển tiếp sang kế hoạch đầu tư năm 2009.
Một số dự án thuộc kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản điều chỉnh năm
2008 giao Kho bạc Nhà nước thành phố thanh toán như: Nhà NƠ1 đô thị mới
Định Công; Nhà N1A, N1B, N5A, N5BC, N5D đô thị mới Trung Hòa - Nhân
Chính; cụm nhà ở cao tầng trên ô đất N2A, N2B, N2C, N2D, N2E, N2F cũng
thuộc khu Trung Hòa - Nhân Chính
1.3.2.Huy động vốn dân cư qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín
dụng.
Với mục đích huy động nguồn vốn lớn trong dân cư,hệ thống ngân hàng
đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường hóa và hiện đại hóa nhằm
tăng cường khả năng huy động vốn và tăng cường lòng tin của công chúng
trong hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó,ngân hàng cũng đưa ra quy chế mới về tiết kiệm của cá
nhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách gồm:
-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đang
sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
-Cho phép các TCTD được tự quy định các điều kiện và điều khoản đối
với hoạt động gửi tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách bao
gồm:
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
12
-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đang
sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
-Cho phép các tổ chức tín dụng được tự quy định các điều kiện và các
điều khoản đối với hoạt động gửi tiết kiệm như thời hạn,các hình thức huy
động…
-Cho phép tổ chức tín dụng tổ chức việc nhận và chi trả tiền gửi tiết
kiệm tại các địa điểm giao dịch khác nhau trong cùng hệ thống.
-Cho phép tổ chức tín dụng áp dụng chức năng thanh toán đối với tài
khoản riền gửi tiết kiệm của người gửi tiền trong một số trường hợp.
Đánh giá việc huy động vốn của thành phố Hà Nội trong thời gian qua:
Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động bình quân của các TCTD
của thành phố Hà Nội giai đoạn 2001-2005 đạt trên 23% /năm(dự kiến năm
2006 vốn huy động tăng hơn 30% so với năm 2005).thấp hơn mức tăng
trưởng bình quan của toàn ngành ngân hàng(24%/năm).Tiền gửi của dân cư
và các doanh nghiệp ,đặc biệt là nguồn vốn có thời hạn trên 1 năm tăng khá
trong những năm gần đây đã tạo được thế chủ động trong cho vay và đầu tư
trung và dài hạn.Đây là yếu tố quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển
kinh tế-xã hội và phát triển các ngân hàng trên địa bàn.
Bảng 2:Nguồn huy động vốn của các tổ chức dân cư thông qua hệ
thống ngân hàng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đơn vị:tỷ đồng
2000 2001 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng
nguồ
n vốn
huy
động
74.47
7
92.50
0
147.17
5
172.16
0
175.22
7
231.77
9
397.85
2
483.972
Trong
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
13
đó
Tổ
chưc
kinh
tế
41.21
4
51.27
0
90.917 107.41
0
96.559 128.27
1
292.41
7
320.659
Dân
cư
33.26
3
41.23
0
56.228 64.750 78.668 13.508 105.43
5
163.313
Nguồn:Tổng cục thống kê Hà Nội.
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đã tìm mọi biện pháp
đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế thông qua phát triển
mạng lưới các chi nhánh trực thuộc,các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm,mở
rộng phạm vi và nâng cao chất lượng thanh toán.Các phương thức huy động
vốn và công cụ lãi suất đã được đáp ứng một cánh linh hoạt đa dạng.
Đặc biệt các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng còn quan tâm
và chú trọng hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống,phát
triển dịch vụ ngân hàng hiện đại đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng,đáp
ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn của khách hàng và đáp ứng nhu cầu của phát
triển kinh tế,bao gồm:dịch vụ thanh toán,dịch vụ ngân quỹ.dịch vụ thu đổi
ngoại tệ,nhận và chi trả kiều hối.dịch vụ tư vấn , thanh toán liên ngân hàng
qua mạng máy vi tính,chuyển tiền điện tử.dịch vụ rút tiền tự động(qua máy
ATM),ngân hàng điện tử…Kết quả thu nhập từ hoạt động dịch vụ của cá ngân
hàng và tổ chức tín dụng không ngừng được nâng lên.
Các dịch vụ ngân hàng hiện đại được ứng dụng với những tiện ích do
công nghệ mới hiện đại mang lại đã có ý nghĩa kinh tế xã hội,khuyến khích
dân cư mở rộng giao dịch với ngân hàng,giảm lượng tiền mặt trong lưu
thông,góp phần phát triển thương mại điện tử.Hiện nay ngân hàng nhà nước
Việt Nam và tất cả các ngân hàng thương mại đã xây dựng website để giới
thiệu về hoạt động của mình,thông tin các dịch vụ ngân hàng.trên 80% nghiệp
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét