LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Chuyên đề Thơ Đường": http://123doc.vn/document/572370-chuyen-de-tho-duong.htm
II. Khi dạy Thơ Đường luôn có ý thức đối chiếu
giữa nguyên tác chữ Hán phiên âm, và bản dịch
thơ ( Không phải chỉ thơ Đường mà ngay cả thơ
trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán cũng vậy)
Qua việc đối chiếu phần nguyên âm chữ Hán với phần
dịch thơ để cho học sinh thấy việc dịch thuật ( dịch thơ ) là một
quá trình lao tâm khổ tứ. Đây là dịp bồi dưỡng cho học sinh
năng lực tư duy so sánh ý thức tối thiểu: Làm khoa học phải
bám vào sự kiện, mà sự kiện đối với tác phẩm văn học nước
ngoài là nguyên tác. Dù một nhận xét nhỏ của học sinh khi so
sánh đối chiếu cũng đáng biểu dương. Hơn nữa, dịch thơ do
chịu áp lực thể loại, vần, nhịp … nên đôi khi chưa toát hết thần
thái của nguyên tác.
Ví dụ : Bài thơ “ Tĩnh dạ tứ” của Lí Bạch.
III. Khi phân tích thơ Đường, cần chú ý: cấu trúc và các “ Nhãn
tự” là chìa khoá để giải mã bài thơ:
1. Cấu trúc:
Cách mở bài và kết bài của thơ Đường rất hay đọng lại dư vị chung toàn
bài. Câu kết thường biểu hiện âm hưởng chủ đạo toàn bài.
Ví dụ: Bài “ Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương
“ Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”
Sau khi phân tích, giáo viên cần cho học sinh thấy sự khác nhau khi biểu hiện
tình cảm quê hương ở hai câu đầu và hai câu cuối:
- Giọng điệu âm hưởng hai câu thơ đầu: giọng tự sự khách quan bình
thản hơi man mác buồn. Thời gian xa quá nhiều thay đổi. Khi ra đi thời trẻ, lúc
trở về đã già, tuy giọng quê không đổi nhưng vì tuổi tác, mái đầu đổi tóc sương
pha nên không ai nhận ra nữa. Nhà thơ thay đổi nhưng quê hương cũng đổi
thay. Giờ đây lớp người già ra đi chỉ còn có nhi đồng ra đón.
- Giọng điệu câu kết: Bề ngoài có vẻ tươi vui nhưng bên trong tâm trạng
thi nhân thì lại là một nỗi buồn: nhi đồng ra đón, nơi chôn nhau cắt rốn mà coi
như khách, coi như người xa lạ.
=> Âm hưởng ngậm ngùi, giọng điệu bi hài ẩn sau lời tự sự khách quan.
2. Nhãn tự : đây chính là tiêu điểm cần khai thác.
- Trong bài thơ “Vọng Lư Sơn bộc bố” ( Lí Bạch ): các nhãn tự đều
là động từ:
Nhật chiếu Hương Lô
sinh
tử yên
( Mặt trời chiếu núi Hương Lô
sinh
làn khói tía. )
Dao khan bộc bố
quải
tiền xuyên
( Xa nhìn dòng nước
treo
trên dòng sông phía trước.)
( Lấy tĩnh tả động )
Bản dịch đã bỏ mất từ “treo” này. Thác nước cao trông xa như
treo trước dòng sông: Sông như một dải lụa bởi chỉ có giải lụa mới treo
được chứ làm sao treo được dòng thác đang chảy. => Ca ngợi thiên
nhiên hùng vĩ
Nghi
thị ngân hà lạc cửu thiên
(
Ngỡ
là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.)
- Trong bài “Tĩnh dạ tứ” các từ “cử”, “đê”:
Cử
đầu vọng minh nguyệt,
Đê
đầu tư cố hương
(
Ngẩng
đầu nhìn trăng sáng,
Cúi
đầu nhớ cố hương ).
Chỉ có thể phân tích sâu sắc những từ “chìa khoá”
ấy mới làm nổi bật được “thần” của bài thơ. Đây được
xem là “mã văn hoá”. Tuy nhiên, giải nghĩa của “nhãn
tự” luôn đòi hỏi phải đặt nó vào mạch cảm xúc của
toàn bài, không nên cắt nghĩa quá vụn vặt bởi lẽ điều
này sẽ trái với nguyên tắc thơ Đường:
Thi bất đạt hỗ ( Thơ không thể chẻ nhỏ )
Thi bất nhĩ tưởng dã ( Thơ không nên giải thích
rõ ràng minh bạch )
Dã bất khả tận dã ( Thơ không nên giải thích
cùng kiệt )
IV. Chú ý nguyên tắc thẩm mĩ của thơ Đường luật: (Ở đây
nói đến cả thơ Việt Nam làm theo luật lệ thơ Đường)
Thơ Đường luật chia làm hai thể: Thất ngôn bát
cú và thất ngôn tứ tuyệt.
A. Về thơ thất ngôn bát cú:
1. Cách gieo vần:
Thơ Đường luật có luật lệ nhất định của nó, cách gieo vần
như sau:
- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi.
Ví dụ: Vần “ôi” thì đi với vần “ôi”, vần “ta” thì đi với “ta”
hoặc “tà”.
- Trong bài thơ có năm tiếng vần được gieo ở cuối câu đầu
(câu số 1) và cuối các câu chẵn (câu 2,4,6,8). Đặc biệt, câu 1
và 2 thì cả hai chữ cuối phải đều là vần bằng nhưng phải là một
chữ bình thượng và một chữ bình hạ (còn gọi là bằng bổng và
bằng trầm) . Còn những vần bằng ở cuối các câu khác thì bình
thượng hay bình hạ đều được.
(Tuy nhiên, vẫn có một số bài thơ mà câu đầu hoặc câu
cuối khác vần với các câu còn lại.)
2. Luật bằng - trắc:
Luật bằng trắc là cách sắp đặt các tiếng bằng và trắc trong
bài thơ. Luật ấy được đặt ra nhất định, phải tuân theo luật ấy
thì bài thơ mới hay.
Luật thơ có hai cách:
Luật bằng: Luật thơ mà chữ thứ nhì câu 1 là vần bằng
Luật trắc: Luật thơ mà chữ thứ nhì câu 1 là trắc.
Luật: “ Nhất, tam, ngũ bất luận.
Nhị, tứ, lục phân minh.”
Bất luận
là không bàn tới. “ Nhất tam ngũ bất luận” : Chữ thứ
1,3,5 trong mỗi câu không kể luật B, T , làm dấu (o); nghĩa là
dùng bằng hay trắc đều được, miễn là đọc lên nghe êm tai thì
thôi.
Phân minh
là phân biệt rõ ràng. “Nhị tứ lục phân minh” : Chữ
thứ 2,4,6 thì phải theo luật B,T rõ ràng. Nếu đặt không đúng
luật thì gọi là
thất luật
( sai luật ).
( Viết tắt: Bằng: B; Trắc: T; Vần: V; Bất luận (o ) )
* Luật trắc vần bằng:
1 2 3 4 5 6 7
1 O T O B O T BV
2 O B O T O B BV
3 O B O T O B T
4 O T O B O T BV
5 O T O B O T T
6 O B O T O B BV
7 O B O T O B T
8 O T O B O T BV
* Luật bằng vần bằng:
1 2 3 4 5 6 7
1 O B O T O B BV
2 O T O B O T BV
3 O T O B O T T
4 O B O T O B BV
5 O B O T O B T
6 O T O B O T BV
7 O T O B O T T
8 O B O T O B BV
3. Niêm:
Niêm nghĩa là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong
bài thơ Đường luật. hai câu thơ niêm với nhau là khi các chữ trong
“ nhị tứ lục phân minh” giống nhau:
Ví dụ:
Bài thơ :
Luật bằng vần bằng:
Câu 1 niêm với câu 8:
1. B B T T T B
B( V )
Câu 2 niêm với câu 3:
2. T T B B T T
B ( V )
3. T T B B B T T
Câu 4 niêm với câu 5:
4. B B T T T B
B ( V )
5. B B T T B B T
Câu 6 niêm với câu 7:
6. T T B B T T
B ( V )
7. T T B B B T T
Câu 8 lại niêm với câu 1:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét