LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đường lối cmvn, bài 1": http://123doc.vn/document/573834-duong-loi-cmvn-bai-1.htm
KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
a) Sự xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang
giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa). Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì
tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân
dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho
đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân
tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
b)Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lê nin
- Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát
triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư
cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa tư bản. Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lê nin
phát triển và trở thành chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Chủ nghĩa Mác - Lê nin chỉ rõ giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng
được mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác
trong xã hội. Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ
mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời
đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân chống áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848) xác
định: những người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong
trào; là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu
rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản.
Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lê nin được truyền bá vào Việt Nam, phong
trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng
cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
c) Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước
1
Xô viết dựa trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng
Bônsêvich Nga ra đời. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa
Mác - Lê nin từ lý luận đã trở thành hiện thực, đồng thời mở đầu một thời đại
mới "thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"2. Cuộc
Cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân,
nhân dân các nước, và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều
đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sản Hunggari (năm 1918),
Đảng Cộng sản Mỹ (năm 1919), Đảng Cộng sản Anh, Đảng Cộng sản Pháp
(năm 1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Mông Cổ (năm
1921), Đảng Cộng sản Nhật Bản (năm 1922)
Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương
sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng
định: "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì
phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan phải
hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê
nin"l.
Tháng 3-1919, Quốc tê Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Sự ra đời
của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc
tế cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân
tộc thuộc địa trên lập trường cách mạng vô sản, mở ra con đường giải phóng các
dân tộc bị áp bức.
Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối
với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này
đối với cách mạng Việt Nam "An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải
nhờ Đệ tam quốc tế.
2. Hoàn cảnh trong nước
a) Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp
- Chính sách cai trị của thực dân Pháp.
Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta,
thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam.
Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
2
quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia
Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ
một chế độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân
Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị
đối với nhân dân Việt Nam.
Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền,
đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng hệ
thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp. Kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp và bị kìm hãm
trong vòng lạc hậu.
Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá, giáo dục thực
dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu , như Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ:
"chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành
hạ và đầu độc một cách thê thảm bằng thuốc phiện, bằng rượu Chúng tôi
phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học
tập"l.
- Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo
dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp, tăng cường bóc lột, áp bức
nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá.
Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia
đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị
thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng
của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và
phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh
giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất của thực dân Pháp, tập trung nhiều ở các thành phố và vùng mỏ như: Hà
Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh. Đa số công nhân Việt
Nam, xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng
đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan
hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân. Ra đời gắn với chính sách khai
thác thuộc địa của tư bản Pháp, nên giai cấp công nhân Việt Nam có trước giai
3
cấp tư sản dân tộc Việt Nam. Đồng thời, với sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
vào Việt Nam, nên vừa lớn lên giai cấp công nhân đã nhanh chóng trở thành một
lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung Nam "l.
Giai cấp tư sản việt Nam bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương
nghiệp, Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ. Ngay từ khi ra
đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh,
chèn ép, do đó, thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt. Vì vậy, giai
cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc,
dân chủ đi đến thành công.
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và
những người làm nghề tự do , trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận
quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản. Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh
và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng
yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân và chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến
bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao.
"Họ tỏ ra thức thời và rất nhạy cảm với thời cuộc. Được phong trào cách mạng
rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày
càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân
dân, nhất là ở thành thị"l.
Như vậy, từ chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ
đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm
xuất hiện hai giai cấp mới là công nhân và tư sản. Các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước, và ở những mức
độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Trong xã hội Việt Nam,
ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ
phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay
gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam
với thực dân Pháp xâm lược. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đặt ra hai yêu cầu: một
là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho
nhân dân; hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân,
chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc
là nhiệm vụ hàng đầu.
b) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong hiến và tư sản cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc theo khuynh hướng phong kiến diễn ra mạnh mẽ. Phong trào Cần
4
Vương (1885-1896) phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và
Nam Kỳ, tiếp tục đến năm 1896 thì thất bại. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc
Giang) diễn ra từ năm 1884, gây cho thực dân Pháp nhiều khó khăn, thiệt hại,
đến năm 1913 thì bị dập tắt. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-
1918), các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn
tiếp diễn, nhưng đều không thành công. Thất bại của các phong trào trên đã
chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để
lãnh đạo phong trào yêu nước, giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt
Nam.
- Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ
phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt
phương pháp, phong trào có sự phân hoá thành hai xu hướng: bằng biện pháp
bạo động và bằng biện pháp cải cách để khôi phục độc lập.
Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu, với chủ trương dùng
biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền độc lập cho dân
tộc. Đại biểu cho xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận
động cải cách văn hoá, xã hội; động viên lòng yêu nước trong nhân dân; đả kích
bọn vua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện
khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu
tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài.
Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt Nam còn có nhiều phong trào đấu tranh
khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907); Phong trào "tẩy chay
Khách trứ”(1919); Phong trào chống độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn
(1923); đấu tranh trong các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố. . . đòi cải
cách tự do dân chủ. . . .
Từ trong phong trào đấu tranh, một số tổ chức chính trị theo lập trường
quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc và dân chủ. Đảng Lập hiến (năm 1923); Đảng Thanh niên
(tháng 3-1926); Đảng Thanh niên cao vọng (năm 1926); Việt Nam nghĩa đoàn
(năm 1925), sau nhiều lần đổi tên, tháng 7-1928 lấy tên là Tân Việt cách mạng
Đảng; Việt Nam quốc dân Đảng (tháng 12-1927). Các đảng phái chính tư tư sản
và tiểu tư sản trên đây đã góp Phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp,
đặc biệt là Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng.
Các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường
lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực
lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản (công
5
nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các
phong trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình
cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử
dân tộc Việt Nam đặt ra.
Phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền
thống yêu nước, kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam đã
tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lê nin, quan điểm
cách mạng Hồ Chí Minh. Phong trào yêu nước trở thành một trong ba nhân tố
(nguồn gốc) dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong
kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng
khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra
là phải tìm một con đường cách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại
biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh
đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
c) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
- Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) ra đi tìm đường cứu
nước. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách
mạng điển hình trên thế giới. Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác
ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu, như Cách mạng
Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789) nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế
của các cuộc cách mạng tư sản. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường
cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân
các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười
Nga năm 1917. Người rút ra kết luận: "Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh
Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng
cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật"l.
Vào tháng 7-1920, Nguyễn ÁQuốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đăng trên báo
Nhân đạo. Người tìm thấy trong Luận cương của V.I. Lênin lời giải đáp về con
6
đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; về vấn đề thuộc địa trong mối quan
hệ với phong trào cách mạng thế giới Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa
Mác - Lê nin.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ
phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng
Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động
cách mạng của Người - từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy
con đường cứu nước đúng đắn: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản
quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin, vạch
phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin vào Việt Nam thông qua
những bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và
xuất bản một số tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
(năm 1925). Tác phẩm này đã vạch rõ âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế
quốc che giấu tội ác dưới cái vỏ bọc "khai hóa văn minh", từ đó khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân
Pháp xâm lược.
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên. Chương trình và Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích là: làm cách mạng
dân tộc và cách mạng thế giới. Sau khi cách mạng thành công, Hội chủ trương
thành lập Chính phủ nhân dân; mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân; tiến lên xây
dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa; thực hiện đoàn kết với giai cấp vô sản các
nước, với phong trào cách mạng thế giới.
Từ năm 1925 đến năm 1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở
các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Hội đã xây dựng
được nhiều cơ sở ở các trung tâm kinh tế, chính trị trong nước. Năm 1928, Hội
thực hiện chủ trương "vô sản hoá", đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền
để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp công nhân; để truyền bá chủ nghĩa
Mác – Lê nin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của
phong trào cách mạng Việt Nam.
Ngoài việc trực tiếp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên, Nguyễn Ái Quốc còn lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi
đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng
7
Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin vào Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc
đã tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong.
Quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh và giác ngộ quần
chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo con
đường cách mạng vô sản.
Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất
bản tác phẩm Đường cách mệnh (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở
lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên).
Tác phẩm Đường cách mệnh đã đề cập những vấn đề cơ bản của một
cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối
với cách mạng Việt Nam.
- Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản.
-Phong trào công nhân Việt Nam chống lại sự áp bức bóc lột của tư sản
thực dân cũng diễn ra từ rất sớm.
Trong những năm 1919-1925, phong trào công nhân diễn ra dưới các hình
thức đình công, bãi công, tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân Ba Son
(Sài Gòn) do Tôn Đức Thắng tổ chức (1925) và cuộc bãi công của công nhân
nhà máy sợi Nam Định ngày 30-4-1925, đòi chủ tư bản phải tăng lương, phải bỏ
đánh đập, giãn đuổi thợ… Trong những năm 1926-1929, phong trào công nhân
đã có sự lãnh đạo của các tổ chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên,
Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời từ năm 1929. Các cuộc đấu tranh
của công nhân Việt Nam trong những năm 1926-1929 mang tính chất chính trị
rõ rệt; đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các ngành và các địa phương. Phong
trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô
sản.
- Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc
biệt là phong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước chống đế quốc và
địa chủ. Năm 1927, nông dân các tỉnh Rạch Giá, Hà Nam, Nam Định, Ninh
Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh…đấu tranh chống bọn địa chủ cướp đất, đòi
chia ruộng công. . . Phong trào nông dân và phong trào công nhân đã hỗ trợ lẫn
nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến. "Điều đặc biệt và quan
trọng nhất trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần
chúng công nông có lánh chất độc lập rất rõ rệt, chớ không phải là chịu ảnh
8
hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa"2.
- Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Cuối tháng 3-1929, ở Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh
niên ở Bắc Kỳ đã lập ra Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, do đồng chí Trần
Văn Cung làm Bí thư Chi bộ.
Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (tháng
5-1929) đã xẩy ra bất đồng giữa các đoàn đại biểu về vấn đề thành lập đảng
cộng sản, mà thực chất là sự khác nhau giữa những đại biểu muốn thành lập
ngay một đảng cộng sản, giải thể tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên,
với những đại biểu cũng muốn thành lập đảng cộng sản, nhưng "không muốn tổ
chức đảng ở giữa Đại hội; không muốn phá Thanh niên trước khi lập được
đảng"l. Trong bối cảnh đó các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời.
Đông Dương Cộng sản Đảng: Ngày 17-6-1929, tại Hà Nội, đại biểu các
tổ chức cộng sản ở miền Bắc họp Đại hội quyết định thành lập Đông Dương
Cộng sản Đảng. Tuyên ngôn của Đảng nêu rõ: Đảng Cộng sản Đông Dương tổ
chức đại đa số và thực hành công nông liên hiệp mục đích để đánh đổ đế quốc
chủ nghĩa; đánh đổ tư bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến; giải phóng
công nông; thực hiện xã hội bình đẳng, tự do, bác ái, tức là xã hội cộng sản.
An Nam Cộng sản Đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương Cộng sản
Đảng và để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, mùa thu năm 1929, các
đồng chí trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên hoạt động ở Trung Quốc và
Nam Kỳ đã thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Điều lệ của đảng viết: "Ai tin
theo chương trình của Quốc tế Cộng sản, hăng hái phấn đấu trong một bộ phận
đảng, phục tùng mệnh lệnh đảng và góp nguyệt phí, có thể cho vào đảng được"l.
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Việc ra đời của Đông Dương Cộng sản
Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã làm cho nội bộ Đảng Tân Việt phân hoá
mạnh mẽ, những đảng viên tiên tiến của Tân Việt đã thành lập Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn. Tuyên đạt của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 9-
1929), nêu rõ: "Đông Dương Cộng sản Liên đoàn lấy chủ nghĩa cộng sản làm
nền móng, lấy công, nông, binh liên hiệp làm đối tượng vận động cách mệnh để
thực hành vận động cách mệnh cộng sản trong xứ Đông Dương, làm cho xứ sở
của chúng ta hoàn toàn độc lập, xoá bỏ nạn người bóc lột áp bức người, xây
dựng chế độ công nông chuyên chính tiến lên cộng sản chủ nghĩa trong toàn xứ
Đông Dương”2.
Mặ dù đều giương cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ
9
nghĩa cộng sản ở Việt Nam, nhưng ba tổ chức cộng sản trên đây hoạt động phân
tán, chia rẽ đã ảnh hưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này.
Việc khắc phục sự chia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu khẩn
thiết của cách mạng nước ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những
người cộng sản Việt Nam.
II. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ
ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
1. Hội nghị thành lập Đảng
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ
chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một
đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt
Nam. Đồng thời, ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng
sản Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương,
yêu cầu những người cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ
giữa các nhóm cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương,
Nguyễn ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất
Đảng, tại Hương Cảng, Trung Quốc. Trong Báo cáo gửi Quốc tên Cộng sản
(ngày 18-2-1930), Nguyễn ái Quốc viết: "Chúng tôi họp vào ngày 6-1 Các đại
biểu trở về An Nam ngày 8-2"l. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
III Đảng Lao Động Việt Nam (ngày l0-9-1960) quyết nghị lấy ngày 3-2 dương
lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng 2.
- Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2
đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng3.
- Hội nghị thảo luận và mhất trí với đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm 5
điểm lớn, với nội dung:
"l. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các
nhóm cộng sản ở Đông Dương; 2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;
3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng; 4. Định kế hoạch thực hiện
việc thống nhất trong nước 5. Cử một Ban Trung ương tạm thời gồm chín
người, trong đó có hai đại biểu chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương”4.
Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách
lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắt tắt của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Hội nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng
10
sản trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban
Chấp hành Trung ương Lâm thời họp và ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, đến ngày 24-
2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản
ở Việt Nam.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thể hiện bước phát triển biện
chứng quá trình vận động của cách mạng Việt Nam - sự phát triển về chất từ Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên đến ba tổ chức cộng sản, đến Đảng Cộng sản
Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm cách mạng Nguyễn
Ái Quốc.
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam như: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương
trình tóm tắt của Đảng hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là:
"tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản"l.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng.
Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm
cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ
chức quân đội công nông.
Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn
(như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp
để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của
bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho
dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8
giờ.
Về văn hoá - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình
quyền,v.v; phổ thông giáo dục theo công nông hoá.
Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân
cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn
đại địa chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày
11
(công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc
gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân
Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông, trung, tiểu địa
chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nhất
là làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như
Đảng lập hiến v.v.) thì phải đánh đổ.
Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được
đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân
chúng; trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào
nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thoả hiệp.
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành
liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô
sản Pháp.
Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng đã chứng minh rõ tính khoa học, cách mạng, tính đúng đắn và tiến bộ
của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
3. Ỷ nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương
lĩnh chính trị dầu tiên của Đảng
- Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã quy tụ ba tổ
chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam -
theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính
trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh
dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công
nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác - Lê nin đối với cách mạng Việt Nam. Sự
kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là "một bước ngoặt vô cùng quan trọng
trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã
trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng'l.
Về quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khái quát: "Chủ nghĩa Mác – Lê nin kết hợp với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào
đầu năm 1930"2.
12
Thực tế lịch sử cho thấy, trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và
tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh không chỉ vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác -
Lê nin về đảng cộng sản. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm
1991) chỉ rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân
Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó,
là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc
lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội"l.
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn
con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô
sản, là cơ sở để Đảng vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt
Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai
cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương
hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam.
Chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách
mạng thế giới của Đảng đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế
giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng
lợi vẻ vang. Đồng thời, cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự
nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
III. CÁC KỲ ĐẠI HỘI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1. Đại hội lần thứ nhất (28 đến 31-3-1935)
Trên cơ sở phong trào cách mạng đã được phục hồi và sự chuẩn bị trước
đó, từ ngày 28 đến 31-3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại
một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13
đại biểu. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang công tác ở Quốc tế Cộng sản, đồng
chí Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội Quốc tế Cộng
sản lần thứ VII, nên không tham dự Đại hội.
Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trước mắt
là củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh
đế quốc.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 uỷ viên (9 uỷ
viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết). Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu
13
làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái
Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai (11 đến 19-02-1951)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được triệu tập nhằm đáp
ứng những đòi hỏi sau 16 năm kể từ Đại hội lần thứ I của Đảng và 5 năm kháng
chiến chống thực dân Pháp. Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá,
tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951. Về dự Đại hội có 158 đại
biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên đang
sinh hoạt trong Đảng bộ toàn Đông Dương. Đến dự Đại hội còn có đại biểu của
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan).
Sau diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên
cứu và thảo luận kỹ các báo cáo trình trước Đại hội: Báo cáo Chính trị của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Tổng Bí thư
Trường Chinh, Báo cáo về Tổ chức và Điều lệ Đảng của Đồng chí Lê Văn
Lương, cùng nhiều báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, Chính
quyền dân chủ nhân dân, Quân đội nhân dân, Kinh tế tài chính và về Văn hoá,
văn nghệ… và những tham luận khác.
Bản Báo cáo cũng nêu lên mấy nhiệm vụ chính trong nhiệm vụ mới của
cách mạng Việt Nam là:
1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam.
Đại hội đã thảo luận thông qua 12 chính sách của Đảng trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân; Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội
bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên
dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có bảy uỷ viên
chính thức và một uỷ viên dự khuyết; bầu đồng chí Hồ Chí Minh là Chủ tịch
Đảng; đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư.
3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba (05 đến 10-9-1960)
Đại hội được tiến hành ở Thủ đô Hà Nội. Có 525 đại biểu chính thức và
51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về
dự Đại hội. Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế, đại biểu của Đảng Xã hội, Đảng Dân
chủ và các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới dự Đại hội.
Đồng chí Hồ Chí Minh - Chủ tịch Đảng đọc lời khai mạc Đại hội, khẳng
định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét