Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

vấn đề tổ chức thực tiễn của cán bộ cấp huyện ở điện biên hiện nay


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vấn đề tổ chức thực tiễn của cán bộ cấp huyện ở điện biên hiện nay": http://123doc.vn/document/1055534-van-de-to-chuc-thuc-tien-cua-can-bo-cap-huyen-o-dien-bien-hien-nay.htm


4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; t tởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đờng
lối, chính sách, nghị quyết của Đảng về vấn đề cán bộ và vai trò tổ chức
thực tiễn của ngời cán bộ nói chung, ngời cán bộ cấp huyện nói riêng. Đồng
thời luận văn kế thừa, vận dụng có chọn lọc những kết quả của các tác giả
đi trớc về vấn đề này.
- Luận văn sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau nh: Phơng pháp
lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Luận văn bớc đầu góp phần nhỏ bé vào việc làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn của vấn đề tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Điện
Biên trong giai đoạn hiện nay. Luận văn tập trung vào phân tích kết cấu, vai
trò và tầm quan trọng của tổ chức thực tiễn đối với cán bộ cấp huyện trong
việc tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội ở địa
phơng. Đồng thời thông qua đó, luận văn đã từng bớc làm rõ đợc thực trạng
tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Điện Biên. Trên cơ sở đó
luận văn bớc đầu mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở tỉnh Điện Biên.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Qua kết quả nghiên cứu của tác giả, luận văn có thể phần nào dùng
làm cứ liệu tham khảo trong việc xây dựng, hoạch định chính sách, chiến l-
ợc và quy hoạch cán bộ cấp huyện, cấp cơ sở của Điện Biên.
- Kết quả đạt đợc của luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở Trờng Chính trị
tỉnh Điện Biên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn đợc chia làm 2 chơng, 4 tiết.
5
Chơng 1
Tổ chức thực tiễn và vai trò của nó
trong công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ
cấp huyện ở điện biên
1.1. Thực chất của tổ chức thực tiễn và những nhân tố
ảnh hởng đến tổ chức thực tiễn
1.1.1. Thực chất của tổ chức thực tiễn
Thực tiễn bắt nguồn từ tiếng Hy lạp (Pratica) có nghĩa là hoạt động
tích cực, chủ động. Trớc khi triết học Mác ra đời đã có nhiều quan điểm
khác nhau về thực tiễn. Phoi-ơ-bắc coi thực tiễn là những hoạt động có tính
chất con buôn, tầm thờng. Điđơrô là nhà triết học có t tởng khá tiến bộ về
thực tiễn cũng chỉ dừng lại ở chỗ cho thực tiễn là những hoạt động thực
nghiệm khoa học C.Mác đã chỉ rõ, nhợc điểm căn bản của chủ nghĩa duy
vật cũ đó là chủ nghĩa duy vật trực quan.
Các nhà triết học duy tâm đã thấy vai trò tích cực, sáng tạo của con
ngời nhng chỉ giới hạn tính tích cực, sáng tạo đó trong lĩnh vực hoạt động
tinh thần. Theo Hêghen, nhà duy tâm khách quan thì thực tiễn là hoạt động
có ý chí của t tởng.
Những nhà duy tâm chủ quan lại cho rằng, hoạt động thực tiễn bị
chế định bởi ý chí, bản năng hoặc những nhân tố tiềm thức. Chẳng hạn, nhà
triết học ngời Mỹ W. James coi kinh nghiệm tôn giáo là thực tiễn tức là
những hoạt động tinh thần thuần túy. Nh vậy, hạn chế lớn nhất của chủ
nghĩa duy tâm về thực tiễn là ở chỗ, nó tuyệt đối hóa những hoạt động tinh
thần, t tởng, hiểu thực tiễn nh là hoạt động tinh thần thuần túy. Nh vậy, về
thực chất họ đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn.
6
Theo C.Mác quan hệ khởi nguyên, đầu tiên của con ngời đối với
giới tự nhiên là quan hệ thực tiễn. Ông viết: "Con ngời hoàn toàn không bắt
đầu từ chỗ ở trong quan hệ lý luận đối với những vật của thế giới bên
ngoài mà tích cực hoạt động" [21, tr. 538]. Nh vậy, C.Mác đã khẳng định
rằng, con ngời không ngừng tác động vào thế giới xung quanh, mọi hoạt
động của con ngời, xét đến cùng đều dựa trên cơ sở trao đổi chất và trao đổi
năng lợng với thế giới xung quanh. Sự khác biệt căn bản giữa con ngời với
các thực thể tự nhiên là ở chỗ, con ngời có khả năng nhận thức các quá trình
của thế giới khách quan và không ngừng tác động vào thế giới đó để biến
đổi, cải tạo nó theo nhu cầu của mình. Sự tác động vào thế giới bên ngoài
đòi hỏi phải có sự nhận thức, tức là sự phản ánh tích cực và sáng tạo thế giới
đó. Bởi vì, nhận thức là một hoạt động đặc trng của con ngời nhng sự xuất
hiện và bản chất của nó chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn trong mối quan
hệ của nó với thực tiễn. Hay nói cách khác, nhận thức nảy sinh, tác động và
phát triển từ thực tiễn và vì thực tiễn của con ngời. Theo V.I.Lênin, quan
điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý
luận về nhận thức. Theo triết học Mác thì thực tiễn là một phạm trù triết
học dùng để chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích,
mang tính lịch sử - xã hội của con ngời nhằm cải tạo thế giới tự nhiên và xã
hội phục vụ con ngời.
Trong những năm gần đây ở trong nớc và nớc ngoài đã có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu và đề cập tới vấn đề tổ chức thực tiễn và
năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ [1], [7], [12], [32], [34], [35].
Có tác giả xem xét nó trong mối quan hệ với tri thức hay trong môi quan hệ
giữa cái khách quan và cái chủ quan Dù xem xét ở góc độ nào, khía cạnh
nào thì cũng có thể hiểu rằng tổ chức thực tiễn là một dạng hoạt động của
con ngời nhằm thực hiện một nhiệm vụ nào đó của mình theo mục đích
nhất định. Đây là một quá trình hết sức phức tạp, đan xen nhiều dạng hoạt
7
động cụ thể cảm tính khác nhau nhằm đặt ra các mục tiêu cụ thể của con
ngời để thỏa mãn nhu cầu và mục đích của mình. Có thể nói, tổ chức thực
tiễn là một qui trình bao gồm các khâu nhận thức về những vấn đề nảy sinh
từ thực tiễn, quá trình cụ thể hóa đờng lối, nghị quyết thành các quyết định
để tổ chức thực hiện; các quá trình huy động, tập hợp lực lợng để thực hiện
các quyết định; quá trình kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.
Khi bàn về tổ chức thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến
cho rằng:
Tổ chức thực tiễn là quá trình bao gồm sự liên kết, phối
hợp các nhân tố khách quan và chủ quan, các yếu tố vật chất và
tinh thần, tri thức và tình cảm, truyền thống và thời đại, trong n-
ớc và quốc tế thành một hệ thống, một chỉnh thể hoạt động
nhịp nhàng, cân đối có hiệu quả nhằm đạt đợc mục tiêu đã xác
định [7, tr. 6].
ý kiến khác lại cho rằng:
Tổ chức thực tiễn là quá trình bao gồm sự liên kết, phối
hợp các nhân tố khách quan và chủ quan, các yếu tố vật chất và
tinh thần; truyền thống và thời đại; con ngời; xã hội và tự
nhiên; sức lao động, t liệu lao động, hoàn cảnh, điều kiện trong
nớc và quốc tế thành một hệ thống, một chỉnh thể hoạt động nhịp
nhàng cân đối, có hiệu quả nhằm đạt đợc mục tiêu xác định
[27, tr. 64].
Nhìn chung các quan điểm trên có những nhân tố hợp lý nhất định ở
chỗ đã đề cập đợc những nội dung cơ bản của tổ chức thực tiễn. Dựa trên
những nhân tố hợp lý đó, cũng nh mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng
tôi cho rằng: Tổ chức thực tiễn là quá trình liên kết, phối hợp giữa các nhân
tố chủ quan và điều kiện khách quan, các yếu tố vật chất và tinh thần,
8
thành một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội
theo mục tiêu đã xác định.
Nh vậy, tổ chức thực tiễn là phạm trù rộng, song trong khuôn khổ
của luận văn, tác giả mạnh rạn tập trung đi vào nghiên cứu vấn đề tổ chức
thực tiễn với tính chất là một hệ thống khép kín của các khâu, các quá trình
của việc ra quyết định, việc tổ chức thực hiện quyết định, việc kiểm tra thực
hiện quyết định và việc tổng kết thực hiện quyết định. Đây là quá trình lôi
cuốn hàng triệu ngời lao động tham gia một cách tự giác và tuân theo
những mục tiêu đã định. Tổ chức thực tiễn không chỉ đơn thuần là tổ chức
một quá trình kinh tế, chính trị, xã hội mà là cả một quá trình tổ chức thực
hiện tổng thể các chơng trình, mục tiêu đã định. Do đó, tổ chức thực tiễn là
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khoa học quản lý và nghệ thuật lãnh đạo để
phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo và những khả năng tiềm ẩn của
đông đảo quần chúng nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đặt ra.
Đây cũng là nét đặc thù của tổ chức thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo,
quản lý. Quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của chủ thể tổ chức
thực tiễn, vào năng lực và phẩm chất của họ.
Vì vậy, muốn tổ chức thực tiễn có hiệu quả, chủ thể tổ chức thực
tiễn phải biết sử dụng, phát huy tối u các điều kiện vật chất, phơng tiện,
công cụ, các lực lợng xã hội Vận hành một cách đồng bộ trong quá trình
tổ chức thực hiện. Do đó, tổ chức thực tiễn là: "Một qui trình kể từ khi đề ra
chủ trơng, xác định kế hoạch tiến hành; chuẩn bị điều kiện các mặt; đặc
biệt là việc xây dựng bộ máy, lựa chọn cán bộ điều hành; xây dựng cơ chế
hoạt động và lề lối làm việc cho đến bớc kiểm tra cuối cùng" [27, tr. 65].
Tổ chức thực tiễn có vai trò to lớn là đa chủ trơng, đờng lối, nghị
quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nớc vào cuộc sống. Nói cách
khác, thông qua tổ chức thực tiễn những chủ trơng, đờng lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nớc đợc hiện thực hóa trong cuộc sống. Bởi
9
vì, đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc có hay đến đâu, đúng đến mấy
chỉ có thể phản ánh đợc cái bản chất, cái tổng quát của đời sống xã hội và
đang dừng lại ở trên văn bản, giấy tờ. Chỉ có thông qua tổ chức thực tiễn thì
những chủ trơng, đờng lối, chính sách ấy mới đợc hiện thực hóa trên thực
tế. Đúng nh cố tổng bí th Lê Duẩn đã nói: "Sau khi đã có đờng lối thì công
tác quản lý và tổ chức thực hiện có vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định
bản thân vận mệnh của đờng lối" [2, tr. 480].
Vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX nớc
ta đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội khá trầm trọng, mọi mặt
của đời sống xã hội hết sức khó khăn, sản xuất thì đình đốn, lạm phát tăng
nhanh, đất nớc bị bao vây cấm vận kinh tế lòng tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nớc bị giảm sút, đất nớc đặt
trong tình thế lâm nguy. Tình hình đó có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan khác nhau. Một trong những nguyên nhân đó là chúng ta cha tổ
chức thực hiện tốt những chủ trơng, đờng lối, chính sách đúng đắn trên thực
tế. Cha tổng kết đợc những thành công và thất bại trong tổ chức thực hiện để
bổ sung, hoàn thiện chủ trơng, đờng lối, chính sách. Nhng cũng từ những
yếu kém ấy, Đảng và Nhà nớc ta đã tăng cờng tổng kết thực tiễn phát triển
kinh tế - xã hội của cả nớc. Xuất phát từ thực tiễn cũng nh thông qua tổ
chức thực tiễn, Đảng và Nhà nớc ta đã nắm bắt những sáng tạo của quần
chúng nhân dân. Trên cơ sở đó từng bớc đổi mới t duy lý luận và đã đề ra đợc
những chính sách phù hợp với thực tế của nớc ta. Qua đó từng bớc hình
thành t tởng và đờng lối đổi mới đúng đắn ở nớc ta nh: Chỉ thị 10-CT/BCT
của Bộ Chính trị, chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí th Trung ơng khóa IV về
khoán sản phẩm đến ngời lao động trong nông nghiệp đã thực sự trở thành
đòn bẩy khuyến khích ngời nông dân tham gia sản xuất, nó đợc ví nh là
luồng gió mới thổi vào sản xuất nông nghiệp của nớc ta.
10
Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nớc ta dới sự lãnh đạo của Đảng,
diễn ra trong điều kiện mới có rất nhiều thuận lợi và khó khăn. Khi mà cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, trong xu thế hội
nhập quốc tế, khu vực hóa, toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc
đến từng quốc gia, dân tộc. Bên cạnh đó, những diễn biến về kinh tế, chính
trị trên thế giới vẫn hết sức phức tạp, khó lờng. Đất nớc ta lại đang trong
quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Đứng
trớc những thời cơ và thách thức đó, chúng ta không thể tránh khỏi phải đối
mặt với những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình hội nhập Nhiều vấn đề
về mặt lý luận và thực tiễn bức xúc đang đặt ra và đòi hỏi phải có câu trả
lời. Do đó, các cấp, các ngành từ Trung ơng đến địa phơng phải chủ động,
sáng tạo trong nghiên cứu tổng kết thực tiễn để có câu trả lời nhằm từng b-
ớc bổ sung về mặt lý luận mà những vấn đề mới của thực tiễn đã và đang
đặt ra.
Nh vậy, tổ chức thực tiễn là một quá trình rộng lớn, phức tạp, gồm
nhiều mặt và tuân theo một qui trình chặt chẽ. Thông qua quá trình tổ chức
thực tiễn giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất cách mạng
và khoa học của chủ trơng, đờng lối, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp
luật của Nhà nớc. Từ đó, mới có thể cụ thể hóa đờng lối, chủ trơng đó một
cách đúng đắn và sáng tạo. Qua đó chúng ta mới tìm đợc những hình thức
mới, phơng pháp mới phù hợp với điều kiện và môi trờng cụ thể ở địa phơng
trong quá trình tổ chức thực hiện. Chính trong quá trình tổ chức thực tiễn
chúng ra mới có thể kiểm tra đợc tính khoa học, chính xác của chủ trơng, đ-
ờng lối, đồng thời giúp cho ta khắc phục những khuyết điểm, sai lầm, thiếu
sót làm cho chủ trơng, đờng lối đó ngày càng hoàn thiện hơn và phù hợp
hơn với cuộc sống của đông đảo nhân dân lao động.
Nh đã phân tích ở trên, chúng ta thấy tổ chức thực tiễn có vai trò to
lớn trong việc hiện thực hóa lý luận, chủ trơng, đờng lối, chính sách. Tổ
11
chức thực tiễn vừa mang tính lãnh đạo về t tởng, vừa mang tính điều hành
cụ thể; vừa chỉ đạo phong trào, vừa lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia,
quản lý là hoạt động tổ chức thực tiễn của ngời lãnh đạo, quản lý. Do đó,
hiệu quả của tổ chức thực tiễn là thớc đo năng lực lãnh đạo, quản lý, của
ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để hiểu rõ vai trò to lớn của tổ chức thực
tiễn với công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ cấp huyện thì ta phải tập
trung làm rõ quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ này.
Bất kỳ một quá trình tổ chức thực tiễn nào của ngời cán bộ lãnh đạo,
quản lý cũng bao hàm các khâu, các quá trình ra quyết định; tổ chức thực
hiện quyết định; kiểm tra việc thực hiện quyết định; tổng kết việc thực hiện
quyết định.
1.1.2. Quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện trong công tác lãnh đạo, quản lý
Muốn hiểu đợc quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp huyện, thì trớc hết phải hiểu đợc thực chất hoạt động lãnh đạo,
quản lý của ngời cán bộ cấp huyện là gì. Để làm rõ vấn đề này chúng ta cần
phải hiểu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện. Khi bàn về khái niệm cán bộ
lãnh đạo, quản lý có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng:
"Ngời cán bộ lãnh đạo trớc hết phải là ngời tiêu biểu cho lý tởng cách
mạng, cho lẽ sống; là ngời có tri thức toàn diện uyên thâm của thời đại
mình" [39, tr. 13]. Hay "cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những ngời cán bộ
lãnh đạo nhng lãnh đạo toàn diện, có trọng trách nặng nề nhất, có quyền
thay mặt tập thể lãnh đạo giải quyết các vấn đề và chịu trách nhiệm trớc tập
thể" [39, tr. 139]. Hai quan điểm trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
nhất của ngời lãnh đạo nhng cha thật đầy đủ cha chỉ ra đợc những tiêu chí
cụ thể.
Một số quan điểm khác lại cho rằng:
12
Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những ngời đứng đầu quan
trọng nhất, có chức vụ quan trọng nhất trong một tập thể, có quyền
ra những quyết định việc chủ trơng, có trách nhiệm và quyền điều
hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức thực hiện những nhiệm
vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt
toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định [44, tr. 35].
Quan điểm này đã đề cập đợc đầy đủ và toàn diện hơn về ngời cán
bộ lãnh đạo chủ chốt, đã xác định rõ vị trí, vai trò cũng nh quyền hạn và
trách nhiệm của ngời cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
Nh vậy, ngời cán bộ lãnh đạo chủ chốt là bộ phận quan trọng nhất
trong một tổ chức nhất định, họ là ngời làm công tác lãnh đạo toàn diện,
ảnh hởng đến toàn bộ hoạt động của một tổ chức hay của cả hệ thống chính
trị, nên trách nhiệm của họ rất lớn. Việc xác định cán bộ chủ chốt hay
không phải cán bộ chủ chốt phải căn cứ vào chức trách của ngời cán bộ và
đặt nó vào trong mối quan hệ với tổ chức, trong hệ thống chính trị. Bởi vì,
ngời cán bộ ở vị trí này, trong tổ chức này là chủ chốt, nhng ở cơng vị khác,
mối quan hệ khác có thể không phải là chủ chốt.
Trong cấu trúc của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nớc của nớc ta đợc
phân chia thành 4 cấp: Trung ơng; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng;
quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và xã, phờng, thị trấn. Theo hiến
pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã đợc sửa đổi
bổ sung năm 2001) thì cấp huyện là đơn vị hành chính sự nghiệp, là cấp
trung gian tạo nên mối liên hệ giữa cấp tỉnh và các đơn vị ở cơ sở (xã, ph-
ờng, thị trấn). Trong mối quan hệ đó, các đơn vị hành chính cấp huyện đóng
vai trò quan trọng. Cấp huyện là cầu nối trong việc cụ thể hóa các chủ tr-
ơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc thờng mang tính định hớng, ở tầm vĩ
mô. Nên cấp cơ sở (xã, phờng, thị trấn) là cấp cuối cùng tổ chức thực hiện.
Nh vậy, tổ chức thực tiễn thờng và chủ yếu đợc thực hiện ở cấp cơ sở chứ
13
không phải là ở cấp huyện. Song, trên thực tế thì đôi khi cấp huyện cũng là
cấp trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức thực tiễn - khi mà cấp cơ sở còn
yếu kém, nhất là ở các tỉnh miền núi của nớc ta. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện ở Điện Biên càng phải thực hiện chức năng tổ chức thực
tiễn.
Vậy cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện là ai? Tại sao họ lại có vai
trò to lớn nh vậy. Để trả lời cho vấn đề này trớc hết ta phải hiểu cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp huyện là những ngời có chức vụ quan trọng trong cấp ủy,
chính quyền và các cơ quan chuyên trách ở cấp huyện (Bao gồm các chức
danh Bí th, Phó bí th, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân; Trởng, Phó phòng ban, ngành, đoàn thể và tơng đơng của cấp
huyện). Ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện đóng vai trò là khâu trung
gian, là cầu nối trong quá trình lãnh đạo, quản lý từ cấp tỉnh xuống cấp cơ
sở. Với vị trí, vai trò nh vậy hoạt động lãnh đạo, quản lý của ngời cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp huyện vừa mang tính chất định hớng chung ở địa bàn
cấp huyện vừa mang tính thực tiễn cụ thể ở địa bàn cấp xã, phờng, thị trấn
thuộc huyện.
Chúng ta đều rõ sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nớc đợc
thể hiện qua chủ trơng đờng lối, chính sách, pháp luật và các biện pháp lớn.
Những chủ trơng, đờng lối, chính sách ấy tác động đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Những chủ trơng, đờng lối, chính sách đó chỉ trở thành
hiện thực khi gắn nó với phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân ở
cơ sở. Để hiểu rõ bản chất của đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc và
ý thức thực hiện của các địa phơng ở cơ sở thì không thể thiếu đợc vai trò
của cấp tỉnh. Không giống nh cấp huyện, cấp tỉnh là khâu trung gian giữa
cấp Trung ơng và cấp huyện nên hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp tỉnh chủ yếu manh tính chất định hớng trên địa bàn tỉnh. Cấp huyện nh
chúng ta đã rõ là cấp trên trực tiếp của cấp cơ sở. Vì thế, cấp huyện là cấp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét