LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghiên cứu hoạt động marketing tại công ty bia việt hà -hà nội": http://123doc.vn/document/1047062-nghien-cuu-hoat-dong-marketing-tai-cong-ty-bia-viet-ha-ha-noi.htm
Nguyễn Gia Đức
của mình. Marketing không phải là ngoại lệ. Về cơ bản, hoạt động Marketing
chỉ rõ cho doanh nghiệp những nội dung chính sau:
- Khách hàng của doanh nghiệp là ai ? Họ có những đặc điểm nổi bật
nào về tuổi tác, giới tính, trình độ, khả năng tài chính, nơi sinh sống hay các
đặc điểm về tâm lý, giá trị ? Trong t ơng lai họ sẽ thay đổi nh thế nào ?
- Khách hàng của công ty cần những loại sản phẩm, dịch vụ nào để
thoả mãn nhu cầu của mình ? Chất lợng, mẫu mã của loại sản phẩm, dịch vụ
đó? Tại sao họ lại chọn sản phẩm, dịch vụ của công ty mà không phải là loại
sản phẩm dịch vụ nào khác ? Mức độ có thể bị thay thế của sản phẩm dịch vụ
công ty cung cấp là nh thế nào ? So với đối thủ cạnh tranh, sản phẩm dịch vụ
của công ty có điểm mạnh ,điểm yếu nào ?
- Mức giá công ty đa ra cho khách hàng là bao nhiêu? Nó có thích hợp
không và có thể thay đổi trong tơng lai nh thế nào ? Khi nào thì xảy ra sự
thay đổi đó ? ở đâu và cho đối tợng khách hàng nào ?
- Doanh nghiệp nên tự tổ chức lực lợng bán hàng hay dựa vào lực lợng
bên ngoài ? Nếu là lực lợng bên ngoài thì là ai ? Số lợng là bao nhiêu ? Khi
nào thì đa sản phẩm ra thị trờng ? Số lợng là bao nhiêu ? Quản lý đối với lực
lợng bán hàng này nh thế nào ?
- Làm thế nào để khách hàng biết đến công ty và các sản phẩm của
công ty ? Bằng phơng tiện và nghệ thuật nào? Tại sao công ty lại dùng chúng?
Làm thế nào để thông qua chúng và những cách thức sáng tạo khác công ty có
thể tăng doanh số bán của mình?
Một loạt những vấn đề nêu trên, ngoài Marketing không một bộ phận nào có
thể giải quyết đợc.
Nh vậy, Marketing vừa có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận chức
năng khác trong doanh nghiệp, lại có tính độc lập của mình. Giữa chúng có
mối liên hệ với nhau, nhng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau. Trong khi
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
5
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
Marketing mới chỉ đợc hiểu thấu ở các nớc t bản cách đây không phải là quá
lâu, thì việc sử dụng Marketing ở Việt Nam có thể nói là cha rộng rãi. Điều đó
đa đến những hiểu biết hời hợt về Marketing. Do vậy, rất cần thiết có sự phân
biệt, xác định mối quan hệ giữa Marketing và các bộ phận chức năng khác.
Không ít các doanh nghiệp của nớc ta hiện nay vẫn còn nhầm lẫn trong nhiệm
vụ của Marketing và các phòng ban khác. Chẳng hạn nh bộ phận kinh doanh
làm giá chứ không phải là bộ phận Marketing. Điều đó dẫn đến sự kém hiệu
quả và hiểu sai bản chất của Marketing trong doanh nghiệp.
2.1.2. Sức ép của cơ chế thị trờng đầy khắc nghiệt
Nớc ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trờng cách đây không lâu. Tuy
vậy nền kinh tế đã có mức độ cạnh tranh ngày càng tăng. Tính chất khắc
nghiệt của cơ chế thị trờng ngày càng bộc lộ rõ nét.
Một công ty tiếp tục cách suy nghĩ thành công của ngày hôm qua có thể
sụp đổ trong nay mai. Đó là một thực tế của nền kinh tế có tính cạnh tranh
ngày càng gay gắt, toàn cầu hoá trở nên rộng rãi và không thể đảo ngợc. Quá
trình này, cùng với mức độ cạnh tranh trên qui mô và phạm vi lớn giữa các
công ty có tiềm lực vô cùng mạnh là một trong những tác nhân chính làm cho
môi trờng kinh doanh biến đổi nhanh chóng. Khoa học công nghệ phát triển
nh vũ bão, công nghệ thông tin, đang từng ngày xâm lấn cuộc sống nói chung,
kinh doanh nói riêng, có thể gây ra những đột biến bất ngờ. Tất cả những vấn
đề trên không một doanh nghiệp nào đợc phép bỏ qua. Marketing, với t tởng
năng động, bám chắc nhu cầu khách hàng (cả trong hiện tại và tơng lai) là một
chức năng quan trọng giúp công ty có thể phản ứng chủ động với những thay
đổi đó.
Trong nền kinh tế hiện đại, doanh nghiệp nhất thiết phải đánh giá các
yếu tố thuộc môi trờng bên ngoài, từ đó lợi dụng cơ hội và tránh hoặc giảm
thiểu tác động của các mối đe dọa.Trên thực tế, những công ty không có nỗ
lực để theo dõi, lờng trớc các diễn biến của môi trờng bên ngoài thờng bị động
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
6
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
trong kinh doanh. Do đó, thất bại là không có gì đáng ngạc nhiên. Trong hoàn
cảnh nh vậy, hoạt động Marketing càng thể hiện giá trị của mình. Trớc hết,
với t tởng nắm bắt nhanh chóng và chính xác nhu cầu khách hàng để phục vụ
họ tốt nhất, chức năng Marketing phải có sự giám sát đối với môi trờng bên
ngoài. Hoạt động Marketing góp phần đắc lực cho việc xem xét, đánh giá các
yếu tố bên ngoài công ty nh kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp, công nghệ và
cả đối thủ cạnh tranh. Những nhân tố trên có ảnh hởng lớn tới khách hàng,
đồng thời cũng là mục tiêu của quá trình đánh giá môi trờng bên ngoài. Tất
nhiên một doanh nghiệp dùng nhiều kênh để thu thập thông tin bên ngoài nh-
ng Marketing với nhiệm vụ chính là tiếp xúc với môi trờng ngoài doanh
nghiệp, là một nguồn quan trọng.
Sức ép cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải tính đến các yếu tố tác động
đến công việc kinh doanh của mình. Nhà cung ứng là một trong các yếu tố đó.
Đây là một yếu tố nằm trong môi trờng Marketing, có tác động quan trọng tới
công tác này cũng nh hoạt động của doanh nghiệp. Lợi dụng hay kiểm soát đ-
ợc nhà cung ứng là rất có ý nghĩa. Nó giúp công ty chủ động trong kinh
doanh, giảm chi phí đầu vào .Tầm quan trọng của nhà cung ứng là rất rõ
ràng. Không phải ngẫu nhiên, công ty sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng nhất toàn
cầu Coca- Cola lại chọn chiến lợc kiểm soát nhà cung ứng trong chiến lợc
kinh doanh của mình.
Nếu không có sự cạnh tranh gay gắt, các công ty chắc chắn sẽ dễ dàng
hơn trong kinh doanh. Trong bối cảnh ngày nay, cuộc chiến giành giật, duy trì
khách hàng rất khó khăn và tốn kém, bởi vì đó là yếu tố quyết định thành bại
của các công ty. Trong khi nhu cầu khách hàng biến đổi rất nhanh, các đối thủ
lại không ngừng đa ra các sản phẩm dịch vụ, các biện pháp lôi kéo khách, thì
những nỗ lực các công ty bỏ ra để có và giữ đợc khách hàng là rất lớn. Chẳng
hạn Coca-Cola bỏ ra khoảng 7,7 tỷ USD trong năm 2002- gần bằng 1/4 GDP
nớc ta-cho hoạt động Marketing trong nỗ lực tranh khách với Pepsi(*)
1
. Điều
1
Báo doanh nghiệp Việt Nam Nguyệt san doanh nghiệp số 1+2 /2003
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
7
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
đó nói lên tầm quan trọng của hoạt động Marketing trong quản trị doanh
nghiệp. Các nỗ lực Marketing sẽ giúp công ty hiểu và đáp ứng tốt nhu cầu
ngày càng đa dạng của khách hàng, qua đó giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Một điều chắc chắn là các công ty không thể xem xét hết các nhân tố
tác động đến nó. Ngày nay, rất nhiều nhà quản trị nhấn mạnh tới vấn đề phát
hiện ra điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp mình, qua đó tạo ra lợi thế
cạnh tranh. Marketing, trong nỗ lực tập hợp tất cả các lực lợng trong doanh
nghiệp cho một mục tiêu, sẽ tạo ra một môi trờng tổ chức tốt cho doanh
nghiệp. Marketing cùng với các bộ phận khác tạo ra sự phối hợp chặt chẽ và
một cơ chế thông tin thông suốt trong doanh nghiệp, qua đó doanh nghiệp
tăng sức cạnh tranh của mình.
2.1.3. Các khái niệm cơ bản trong Marketing
Một thực tế tồn tại là ngày nay ngời tiêu dùng đứng trớc tình trạng mọi
chủng loại sản phẩm đều có rất nhiều nhãn hiệu. Ngời tiêu dùng lại có những
yêu cầu khác nhau đối với sản phẩm, dịch vụ và giá cả. Họ có những đòi hỏi
cao và ngày càng cao về chất lợng và dịch vụ. Đứng trớc sự lựa chọn vô cùng
phong phú nh vậy khách hàng sẽ bị hấp dẫn bởi những thứ hàng hoá nào đáp
ứng nhu cầu và mong đợi cá nhân của họ. Họ sẽ mua hàng căn cứ vào nhận
thức về giá trị của mình.
Đây thực sự là một thách thức đối với mọi công ty nếu họ muốn tồn tại
và phát triển. Những công ty chiến thắng là những công ty làm thoả mãn đầy
đủ nhất và thực sự làm vui lòng khách hàng mục tiêu của mình, phải gắn việc
kinh doanh của mình với thị trờng. Những công ty này xem Marketing là một
triết lý của toàn công ty, là toàn bộ công việc kinh doanh dới góc độ cuối cùng
là dới góc độ khách hàng, chứ không phải là một chức năng riêng biệt. Vậy
Marketing là gì ?
Quan điểm kinh doanh theo cách thức Marketing hiện đại xuất hiện vào
những năm 1950. Nhng nó chỉ phổ biến vào những thập kỷ sau đó, bởi vì vẫn
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
8
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
còn tồn tại những quan điểm có từ trớc. Đó là quan điểm tập trung sản xuất,
quan điểm hoàn thiện sản phẩm và quan điểm tập trung vào bán hàng.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo lập thị trờng là vấn đề
quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của từng doanh
nghiệp. Nhng để tạo lập thị trờng thì Marketing là những hoạt động có tính
chất nghiệp vụ và kỹ thuật không thể thiếu đợc.
Đối với đơn vị kinh tế nói chung, Marketing đợc hiểu là quá trình hoạt
động nhằm đạt đợc các mục tiêu của tổ chức, thông qua việc nghiên cứu và dự
đoán nhu cầu thị trờng, lựa chọn và tìm ra các nghiệp vụ kỹ thuật thích hợp để
điều khiển các dòng hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các nhu cầu từ ngời sản
xuất tới khách hàng và ngời tiêu thụ.
Đối với đơn vị sản xuất, Marketing đợc hiểu là sự thực hiện mọi hoạt
động của xí nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm, nhằm xúc tiến phân phối các
sản phẩm đó, bán ra trên thị trờng sao cho đáp ứng đợc nhu cầu đơng thời
hoặc nhu cầu tiềm tàng của khách hàng và phù hợp với khả năng sản xuất của
doanh nghiệp.
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thơng nghiệp, Marketing bao
gồm hệ thống các hoạt động tiếp cận thị trờng, thực hiện chức năng cầu nối
giữa sản xuất với tiêu dùng nhằm kích thích, duy trì và thoả mãn nhất nhu cầu
tiêu thụ trên thị trờng đối với sản phẩm từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp
sản xuất phát triển.
Từ những đặc trng của Marketing truyền thống và Marketing hiện đại
có thể đa ra các khái niệm về Marketing nh sau:
- Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý
toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của ngời
tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đa hàng
hoá đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu hút đợc
nhiều lợi nhuận dự kiến
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
9
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
- Marketing là những hoạt động kinh tế trong đó hàng hoá đợc đa từ
ngời sản xuất đến ngời tiêu dùng
- Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội. Nhờ đó mà các
doanh nghiệp, các tập thể có đợc những gì họ cần và mong muốn thông qua
việc tạo ra, chào hàng những sản phẩm có giá trị với ngời khác
- Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan
trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ ngời sản xuất đến ngời
tiêu dùng
- Quản trị Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hoá dịch vụ và ý tởng để tạo ra sự
tác động đối với các nhóm mục tiêu của khách hàng và tổ chức
Tuy có nhiều các định nghĩa nh vậy và mỗi định nghĩa đều muốn nhấn
mạnh ý tởng Marketing theo cảm nhận và theo từng lĩnh vực. Song hội tụ tất
cả các định nghĩa đó là ba t tởng cơ bản của Marketing bao gồm:
* Nhu cầu của khách hàng dẫn đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
* Mọi nỗ lực của doanh nghiệp cần đợc liên kết lại :
Doanh nghiệp muốn chiến thắng trên thơng trờng phải tạo ra sức mạnh
tổng hợp, khai thác hết tiềm năng khách hàng, tận dụng hết lợi thế cạnh tranh
của sản phẩm cụ thể, sản phẩm bổ sung.
* Lợi nhuận không chỉ là do bán hàng mà là mục tiêu chiến lợc cần tìm
kiếm : Không phải bất kỳ một thơng vụ nào cũng đặt mục tiêu lợi nhuận lên vị
trí hàng đầu mà phải xem xét mục tiêu cụ thể của từng doanh nghiệp trong
từng giai đoạn cụ thể, xác định mục tiêu quan trọng nhất của khâu cụ thể.
Tóm lại, nội dung cơ bản của Marketing là:
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
10
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
+ Giúp doanh nghiệp xác đinh t tởng kinh doanh để có cách ứng xử phù
hợp.
+ Giúp doanh nghiệp đầu t đúng hớng, Marketing phải:
Đa ra lý thuyết cần thiết để ngời ta nghiên cứu thị trờng (đa cách tiếp
cận thị trờng, xử lý thông tin) để đa ra những quyết định đúng trên cơ sở tìm
rõ những bản chất của thông tin đa ra, tìm thông tin chuẩn, tính thực chất của
thông tin, xác định vấn đề nào, lựa chọn thông tin nào cần nghiên cứu.
Giúp các doanh nghiệp tìm kiếm, xác định cơ hội kinh doanh và thời
cơ hấp dẫn trong kinh doanh, làm giảm rủi ro cho các hoạt động của doanh
nghiệp.
Nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng.
Nghiên cứu các hoạt động giúp cho doanh nghiệp vợt qua thời cơ. Cụ
thể là: Nghiên cứu môi trờng kinh doanh và sự vận động của nó, nghiên cứu
hành vi mua sắm của khách hàng, tổ chức các hoạt động Marketing chức năng
để chinh phục khách hàng (chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách
phân phối, chính sách xúc tiến ).
Từ những phân tích trên có thể kết luận vai trò của Marketing trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh sau: Marketing có một vai trò rất
quan trọng trong kinh doanh nó hớng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhờ các hoạt động Marketing các
quyết định đề ra trong sản xuất kinh doanh có cơ sở khoa học vững chắc hơn,
doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ hơn thoả mãn mọi yêu cầu của
khách hàng. Marketing xác định rõ phải sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu,
sản phẩm có đặc điểm nh thế nào, cần sử dụng tốt hoạt động Marketing thì có
thể họ rất tốn tiền của vào việc sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ mà trên thực
tế ngời tiêu dùng không mong đợi. Trong khi đó nhiều loại sản phẩm và dịch
vụ họ rất cần và muốn đợc thoả mãn thì nhà sản xuất lại không phát hiện ra.
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
11
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
Bên cạnh đó hoạt động Marketing làm cho sản phẩm thích ứng với nhu cầu thị
trờng, nó kích thích sự nghiên cứu và cải tiến làm cho hoạt động của doanh
nghiệp đạt đợc những mục tiêu đề ra. Marketing có ảnh hởng to lớn, ảnh hởng
quyết định đến doanh số, chi phí, lợi nhuận và qua đó đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh, đồng thời nó là công cụ quản lý kinh tế và công cụ của kế hoạch
hoá.
Qua đó ta thấy Marketing có một vai trò quan trọng trong việc góp phần
vào thắng lợi của nhiều doanh nghiệp cho nên Marketing đợc coi là chiếc
chìa khoá vàng, là bí quyết tạo thắng lợi trong kinh doanh.
2.1.4. Nhiệm vụ-Chức năng của Marketing
2.1.4.1. Nhiệm vụ
Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào sản xuất kinh
doanh lại không muốn gắn kinh doanh của mình với thị trờng chỉ có nh
vậy doanh nghiệp mới hy vọng tồn tại và phát triển đợc. Từ đó nhiệm vụ
thứ nhất của Marketing đối với các doanh nghiệp là làm cho sản xuất thích
ứng với nhu cầu của thị trờng.
Một doanh nghiệp tồn tại thì dứt khoát phải có những hoạt động, chức
năng nh: Sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực, Mặt khác không một doanh
nghiệp nào có đủ nguồn lực để đáp ứng hết các nhu cầu của thị trờng (nguồn
lực là có hạn ).Vì vậy, nhiệm vụ thứ hai của Marketing là giúp doanh nghiệp
dồn tiềm lực vào khâu xung yếu để phát triển tính hiệu quả trên thị trờng.
2.1.4.2. Chức năng
Marketing là cầu nối giữa ngời sản xuất và ngời tiêu dùng nên nó có rất
nhiều chức năng khác nhau:
* Chức năng trao đổi: Bao gồm các hoạt động liên quan đến quyền sở
hữu trong hệ thống Marketing. Gồm hai hoạt động cơ bản là mua và bán
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
12
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
+mua: Là những hoạt động có từ phía ngời tiêu dùng thể hiện tổng cầu
hoặc cơ cấu cầu của một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm hàng hoá nào đó
+Bán: Là hoạt động có từ phía ngời cung ứng thể hiện tổng cung hay cơ
cấu cung của một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm nào đó
* Chức năng phân phối: Bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm tổ chức
sự vận động của sản phẩm hàng hoá từ khi sản xuất ra đến khi nó đợc phân
phối đến các cơ sở đại lý, ngời bán buôn, bán lẻ và đến tận tay ngời tiêu dùng.
Cụ thể là:
+ tìm hiểu ngời tiêu thụ, chọn ngời tiêu thụ có khả năng thanh toán
nhanh nhất.
+ Hớng dẫn khách hàng các thủ tục hợp đồng và các thủ tục khác để khi
giao hàng đợc thuận lợi nhất.
+ Tổ chức các phơng tiện vận chuyển và hớng dẫn khách hàng thực
hiện các phơng tiện vận chuyển nhằm đạt đợc những chi phí thấp nhất.
Phát hiện ra những ách tắc trong quá trình phân phối để có thể duy trì
hoặc cắt đứt một kênh phân phối nào đó nhằm duy trì sự ổn định.
* Chức năng yểm trợ: Bao gồm các hoạt động xúc tiến bán hàng, đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm (Quảng cáo, chiêu hàng, chào hàng, dịch vụ sau bán
hàng, )
2.1.5. Nội dung cơ bản của hoạt động Marketing trong doanh nghiệp
Triết lý Marketing lấy việc thoả mãn nhu cầu khách hàng, qua đó thu
lợi nhuận, là nguyên tắc đặt ra đối với doanh nghiệp. Hoạt động Marketing
phải bắt đầu từ thị trờng, lấy đó làm điểm xuất phát để hiểu biết nhu cầu
khách hàng, sử dụng các biện pháp Marketing-Mix để thoả mãn nhu cầu
khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh, thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
13
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Gia Đức
Để hiểu khách hàng và các đối thủ cạnh tranh Các công ty phải tiến
hành nghiên cứu Marketing. Sau đó công ty phải lựa chọn cho mình một thị tr-
ờng mục tiêu phù hợp vì không có một công ty nào có thể thoả mãn tốt và
hiệu quả mọi nhu cầu của khách hàng. Khi đã có thị trờng mục tiêu, các công
ty phải thiết kế ra các biện pháp Marketing-Mix để thoả mãn nhu cầu khách
hàng trong thị trờng mục tiêu một cách tốt nhất. Cuối cùng, tất cả các nội
dung trên phải đợc đặt trong việc kế hoạch hoá hoạt động Marketing, phù hợp
với chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những nội dung cơ bản của
công tác Marketing mà những ngời phụ trách lĩnh vực này trong doanh nghiệp
phải tiến hành liên tục và sáng tạo.
2.1.5.1. Nghiên cứu Marketing phục vụ kinh doanh
Nghiên cứu Marketing nhằm đa lại cho ngời quản lý Marketing những
thông tin hữu ích cho hoạt động của bộ phận mình cũng nh doanh nghiệp.
Nghiên cứu Marketing trong các công ty đòi hỏi phải hình thành một hệ thống
thu thập thông tin trên phạm vi rộng lớn, với chất lợng thông tin phải tốt. Đó
là vì:
- Các công ty mở rộng địa bàn kinh doanh trên toàn quốc, thậm chí là
toàn cầu. Họ không có điều kiện trực tiếp biết khách hàng, do đó cần có
những biện pháp khác nhau để thu thập thông tin.
- Khách hàng với thu nhập và trình độ tiêu dùng ngày càng cao, trở
nên ngày càng khó phán đoán.
- Cạnh tranh ngày càng gay gắt, chủ yếu là cạnh tranh phi giá cả. Khi
các công ty đa ra những biện pháp, công cụ cạnh tranh khác nhau thì họ cũng
cần biết phản ứng của khách hàng đối với chúng nh thế nào để điều chỉnh.
* Hệ thống thông tin nghiên cứu Marketing
Hệ thống thông tin nghiên cứu Marketing là hệ thống hoạt động thờng
xuyên của sự tơng tác giữa con ngời, thiết bị và những phơng tiện tính toán,
Trờng ĐHNNI_HN Chuyên ngành KTNN
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét