Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế

là “từ đầu đến chân đều vấy máu”, vì khi đó không có “Bàn tay hữu hình”, không
có sự điều tiết nên mọi “khuyết tật”của thị trường tha hồ mà hoành hành và gây tác
hại. Như vậy, nền kinh tế lúc đó không có sự kiểm soát và điều tiết cạnh tranh và
vì vậy chưa thể có pháp luật cạnh tranh.
* Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thái thi trường của các
nền kinh tế thị trường hiện đại. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đã
chứng kiến sự sụp đổ của hình thái thị trường cạnh tranh tự do và học thuyết “Bàn
tay vô hình” của Adam Smith. Trong giai đoạn này, cạnh tranh tự do đã bộc lộ
những mặt trái của nó: thất nghiệp, sự phá sản hàng loạt, sự lãng phí tài nguyên
Có thể nói, khuyết tật, mặt trái và thiếu định hướng tổng thể là căn bệnh cố hữu
của quy luật giá trị . Bởi vậy, bản thân cơ chế thi trường hiểu theo nghĩa văn minh
và nhân đạo, có nhu cầu được điều tiết. Trên tinh thâ f đó dã đến lúc Nhà nước
không thể đứng trên và đứng ngoài đời sốnga kinh tế – xã hội. Quyền lực Nhà
nước đã xuất hiện để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, để bảo vệ
tự do cạnh tranh - động lực phát triển kinh tế, để thực hện mục tiêu kinh tế của bản
thân Nhà nước và giai cấp thoóng trị. Điều cần nhấn mạnh là, tự do cạnh tranh
trong hình thái thị trường này được bảo vệ, nuôi dưỡng và giới hạn bởi các thể chế,
chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Căn cứ và cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh
vực kinh tế, người ta phân thị trường thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo và
cạnh tranh không hoàn hảo, độc quyền
* Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường, trong
đó cả người mua và người bán đều cho rằng các quyết định mua bán của họ không
ảnh hưởng gì đến giá cả thị trường. Như vậy, cạnh tranh hoàn hảo chỉ có thể diến
ra khi hội tụ đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất là, sản phẩm của mỗi doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh
hoàn hảo phải trùng hợp với sản phẩm của bất kỳ một doanh nghiệp nào khác đến
5
mức không thể phân biệt được. Nói cách khác, sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là
đồng nhất hay được têu chuẩn hoá hoàn hảo.
Thứ hai là, mỗi doanh nghiệpk trong ngành phải chiếm một thị phần rất
nhỏ. Điều đó có nghĩa là sự thay đổi sản lượng của một hãng hoàn toàn không có
ảnh hưởng gì đến giá thị trường. Tương tự, người mua cũng quá nhỏ để có thể đòi
hỏi người bán những điều như phải giảm giá khi mua nhiều hay bán chịu
Thứ ba là, mọi yếu tố đầu vào của sản xuất đều tự do dịch chuyển để phản
ứng nhanh chóng với những thay đổi để không có một đầu vào nào là sản phẩm
độc
quyền: về lâu dài, các sản phẩm, hàng hoá đều có thể gia nhập và đi khỏi thị trường
một cách dễ dàng.
Thứ tư là, người tiêu dùng và các doanh nghiệp có kiến thức hoàn hảo về
giá hiện tại, giá tương lai, chi phí và những cơ hội kinh tế. Bởi vậy, giá cả hàng
hoá trong thị trường này như đã được định trước.
6
* Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các
ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ
sức mạnh để chi phối giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Điều cần
nhấn mạnh là, cạnh tranh không hoàn hảo chứ không phải là hình thái
chính trong các ngành kinh tế của các quốc gia có nề kinh tế thị trường. Sở
dĩ có thực trạng này là vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận của các doanh
nghiệp trong điều kiện cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
tư bản, phân bố các doanh nghiệp diễn ra không đều ở các ngành và lĩnh
vực kinh tế khác nhau. Trước điều kiện về chi phí nhập nghành và yêu cầu
công nghệ cao đã làm cho sản phẩm một nghành chỉ do một số ít các doanh
nghiệp cung cấp. Trong cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền
nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền.
* Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một số ít các
nhà sản xuất, mỗi người nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc
vào năng suất của chính mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của các nhà cạnh
tranh quan trọng trong ngầnh đó.
Như vậy, tình trạng độc quyền nhóm chỉ xuất hiện ở một số ngành công
nghiệp mà công nghệ của nó đòi hỏi quy mô tối thiểu có hiệu quả lớn đến mức chỉ
có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp có thể tham gia đaàu tư. ở các nước tư bản
phát triển, hình thái này thường gặp ở các ngành: sản xuất ôtô, cao xu, xi măng,
thép. v.v
* Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người
bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi hãng chỉ có
khả năng hạn chế ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm của mình. So với hình thái
cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh mang tính độc quyền cũng có nhiều hãng mới đi
vào thị trường không hạn chế. Nhưng nó khác với cạnh tranh hoàn hảo ở chỗ sản
phẩm được phân hoá cao độ - mỗi hãng đều có một loại sản phẩm khác nhau về
7
hình dáng, kích thước, nhãn mác, chất lượng và danh tiếng, mỗi hãng là người duy
nhất sản xuất loại hàng hoá riêng của mình. Lượng thế lực độc quyền mà hãng có
phụ thuộc vào mức thành công của nó trong lĩnh vực phân hoá sản phẩm của mình
với sản phẩm của hãng khác. Hình thái thị trường này thường thấy ở các ngành
kinh tế như: Thuốc đánh răng, bột giặt, nước hoa
* Độc quyền: Là hình thái thị trường trong đó một doanh nghiệp duy nhất
bán một sản phẩm mà không có ssản phẩm thay thế gần giống với nó. Việc thâm
nhập vào ngành sản xuất sản phẩm này rất khó khăn hoặc không thể được.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt tất yếu dẫn đến tình trạng
độc quyề, mặt khác do mục đính tối đa hoá lợi nhuận cũng hinmhf thành nên các tổ
chức, thế lực độc quyền.Khi mới xuất hiện độc quyền cũng có những ý nghĩa tích
cực nhất định. Để dành được vị trí độc quyền, các doanh nghiệp phải cải tiến tổ
chức, quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuât, tập trung mọi nguồ lực, tạo sức
mạnh để dành vị trí độc quyền. Bởi vậy, độc quyền có những tác dụng tích cực
thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung các nguồn lực để pháat triển các ngành kinh
tế mũi nhọn, luôn đi đầu về mặt kỹ thuật và công nghệ. Sau khi đã giữ vững vị trí
thì các doanh nghiệp độc quyền lại tìm các duy trì địa vị độc tôn của mình bằng
cách thôn tính tiêu diệt các đối thủ, hoặc ngăn cản sự nhập cuộc của các doanh
nghiệp tiềm năng bằng các thủ pháp không chính đáng, mà không chú trọng cải
thiện các điều kiện cạnh tranh của chính mình như: giảm chi phí sản xuất, tận dụng
lao động, cải tiến kỹ thuật Mặc dù độc quyền gây nhiều hậu quả tiêu cực cho xã
hội, ở một số ngành đặc biệt (sản xuất hàng hoá và dịch vụ công cộng, ảnh hưởng
tới an ninh quốc gia) nhiều nước đã phải duy trì tình trạng độc quyền ở mức độ
nhất định để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng và chi phí sản xuất xã hội ở mức
hợp lý do tính kinh tế cuả quy mô sản xuất lớn.
Ngoài nguyên nhân cạnh tranh khốc liệt dẫn đến độc quyền có thể chỉ ra ba
nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng độc quyền: đó là đặc thù của công nghệ sản
8
xuất sản phẩm, sự thông đồng ngầm giữa các doanh nghiệp ở trong ngành và
những cản trở đối với việc nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng.
Độc quyền tự nhiên xuất hiện thoát ly ý thức chủ quan của nhà kinh doanh.
Tự nhiên ở đây nói lên rằng, cơ cấu độc quyền là do đặc điềm công nghệ và nhu
cầu đối với sản phẩm của ngành tạo ra chư không phải là yếu tố lịch sử hay ảnh
hưởng của cơ chế chính sách kinh tế. Hay nói cách khác, trong nhuiững điều kiện
về công nghệ và nhu cầu như vậy, sự tồn tại của độc quyền là khách quan và do đó
biện pháp duy nhất mà nhà nước có thể làm là điều tiết những độc quyền đó. Hình
thái độc quyền tự nhiên thường gặp trong các ngành công nghệ như: điện, khí đốt,
nước sạch, viễn thông .
Độc quyền còn xuất hiện với tính các là hậu quả của thủ pháp thông đồng
ngầm giữa các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng hoặc vùng tiêu thụ
nhằm tối đa hoá lợi nhận của mình. Điều đáng lưu ý là, các doanh nghiệp tham gia
Cartel ngầm nói chung là không bền vững, trừ phi mỗi doanh nghiệp đều có một kế
hoạch làm ăn lâu dài trên thị trường đó, coi trọng lợi nhuận thu được trong tương
lai và Cartel phải có một cơ chế trừng phạt thích hợp đối với việc thành viên bí
mật vi phạm thoả thuận ngầm. Bởi vậy, để chống lại những Cartel ngầm, một mặt
Chính phủ phải có những biện pháp phạt nặng nếu phát hiện ra sự tồn tại của
chúng mặt khác, phải tạo ra một cơ cấu ngành mềm dẻo với khả năng nhập cuộc
của các doanh nghiệp mới và khả năng bỏ cuộc của các doanh nghiệp đã có mặt
trên thị trường được dễ dàng. Cần nhấn mạnh là, việc phát hiện Cartel ngầm là rất
khó khăn, do đó biện pháp chủ yếu mà chính phủ có thể sử dụng để chống lại nó là
những biện pháp gián tiếp, đặc biệt là những biện pháp mang tính cơ cấu.
Độc quyền còn xuất hiện do sự tồn tại của những vật cản đối với khả năng
nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng. Đó là những vật cản mang tính pháp
lý, hành chính và những vật cản mang tính kinh tế. Những vật cản mang tính pháp
lý chính là những điều luật loại bỏ hoàn toàn sự nhập cuộc của các doanh nghiệp
tiềm năng vào một ngành kinh tế trong một giai đoạn nhất định. Một ví dụ phổ
9
biến nhất trong thực tế là lĩnh vực bảo hộ việc độc quyền khai thác các đối tượng
thuộc quyền
sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ. Việc làm này, một mặt khuyến khích
đầu tư cho khoa học kỹ thuật, mặt khác lại gây ra sự thiệt hại cho xã hội do có sự
độc quyền. Bởi vậy, pháp luật phải tìm được thời hạn tối ưu cho việc khai thác độc
quyền các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ.
* Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, người ta
phân nhóm các hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trường gồm hai loại: Cạnh
tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
* Cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh đẹp và trong sáng, cạnh
tranh bằng những tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp. Đó là những hoạt
động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợp với tập quán
thương mại và đạo đức kinh doanh truyền thốnga như: đăng ký nhãn hiệu thương
phẩm, hạ giá bán hàng hoá trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất,
chi phí lưu thông, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, liên tục đổi mới
phương thức giao tiếp với khách hàng
* Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thể
kinh doanh nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ
không phải trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh
tranh hay một đối thủ cụ thể.
Trong những năm gần đây một số nhà nghiên cứu Trung quốc đã cho rằng
trình độ bình đẳng trong cơ hội cạnh tranh là tiêu chí đánh giá mức độ chín muồi
của kinh tế thị trường. Trên nền tảng này, họ dã đưa ra khái niệm “thể chế cạnh
tranh bình đẳng” thể chế cạnh tranh bình đẳng với tiền đề thừa nhận có sự chênh
lệch ở khởi điểm cạnh tranh nhưng đòi hỏi bình đẳng trong hoạt động, công bằng
trong quy tắc, minh bạch trong quá trình, có hiệu quả trong cạnh tranh.
10
Tham gia trong cạnh tranh là quyền lợi của mỗi chủ thể vi mô. Quyền lợi
này có thể bị chủ thể từ bỏ xong trước hết chủ thể đó phải được hưởng quyền lợi
đó
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA HÀNG HOÁ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
Nói đến cạnh tranh là chúng ta có thể nghĩ tới: Chất lượng và giá cả của sản
phẩm. Một hàng hoá khi đem giao bán trên thị trường, muốn có chỗ đứng trên thị
trường, chiếm lĩnh thị trường đòi hỏi hàng hoá đó phải có chất lượng tốt, giá cả
hợp lý và được người tiêu dùng chấp nhận. Một doanh nghiệp khi sản xuất sản
phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Điều đầu tiên họ nghĩ tới là
chất lượng và giá cả, mong tìm cho mình một vị trí trên thương trường, thị trường
quyết định sự sống còn của hàng hoá. Một hàng hoá được sản xuất ra ngay từ đầu
đã phải đói phó với sự cạnh tranh của cùng loại hàng hoá đó nhưng do hãng khác
sản xuất. Muốn được thị trường người tiêu dùng chấp nhận nó phải cạnh tranh để
tìm cho mình một vị trí. Có thể nói sự cạnh tranh diễn ra là vô cùng khắc nghiệt
quyết định sự sống còn của sản phẩm. Chính vì vậy mà một sản phẩm chất lượng
tốt giá cả hợp lý, chắc chắn nó sẽ được người tiêu dùng chấp nhận từ đó, nó sẽ dễ
dàng có được sức mạnh thị trường, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm khác.
Vì vậy, để có khả năng cạnh tranh, từng doanh nghiệp sản xuất hàng hoá
phải tự vươn lên nhằm đạt lợi nhuận cao và nắm được thị phần trong nước, từng
bước đột phá, đặt chân vào thị trường thế giới cụ thể là doanh nghiệp Việt Nam
cần khai thác tốt những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế, có tính độc đáo, đặc sắc
và có chất lượng cao, phải tính toán sao cho giá thành hợp lý đủ sức cạnh tranh với
các sản phẩm cùng loại trên thương trường, phải có sự chuyên môn hoá cao để có
sự lựa chọn sản phẩm mà không cạnh tranh triệt tiêu nhau: Phải đầu tư đổi mới
nhanh thiết bị công nghệ đi đôi với xây dựng và thực hiện chiến lược nghiên cứu
triển khai để sản xuất sản phẩm đạt chất lượng cao phù hợp với thị hiếu của khách
11
hàng, phải coi đào tạo nguồn nhân lực sử dụng thành công mới như một yếu tố
quyết định để tăng sức cạnh tranh. Cuối cùng tập chung giải quyết khâu tiếp thị -
khâu yếu nhất hiện nay.
Về giá quản lý vĩ mô, điều cần thiết là cải thiện môi trường kinh doanh để ai
cũng có thể kinh doanh theo pháp luật một cách thuận lợi và được hưởng các dịch
vụ công rõ ràng. Đặc biệt, Nhà nước hỗ trợ tích cực doanh nghiệp về nghiên cứu
triển khai tiếp thị, xuất khẩu và đạo tạo nguồn lực con người.
Tóm lại, chỉ có phát huy sức mạnh tổng hợp từ 2 phía (Nhà nước và doanh
nghiệp) thì mới tăng được sức cạnh tranh của hàng Việt Nam. Đó là đòi hỏi của
cuộc sống để chủ động hội nhập kinh tế thắng lợi.
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
HÀNG HOÁ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
Hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới chịu sự ảnh hưởng hai chiều của
các yếu tố khi tham gia thị trường thế giới cũng như sự cạnh tranh của các loại
hàng hoá khác trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể kể ra rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến hàng hoá Việt Nam khi gia nhập thị trường quốc tế nhưng nhìn chung
lại, có 3 nhân tố chính tác động trực tiếp lên khả năng cạnh tranh của hàng hoá
Việt Nam trên thị trường thế giới: Đó là:
+ Môi trường kinh tế
+ Chính sách hỗ trợ của nhà nước
+ Khoa học công nghệ
Cả ba yếu tố trên đều tác động trực tiếp đến chất lượng, giá cả và khả năng
cũng như sự thuận lợi của hàng hoá Việt Nam khi gia nhập thị trường quốc tế, làm
tăng hay giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam. Một doanh nghiệp sản xuất
12
hàng hoá nếu biết trú trọng, tận dụng những thuận lợi của 3 yếu tố trên chắc chắn
sẽ thành tronng việc chiếm lĩnh thị trường, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá.
Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung
về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn về
thị trường và sức mua khác nhau đối với cc thị trường hàng hoá khác.
Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ
cấu chi tiêu của ngưòi tiêu dùng. Các nhà hoạt động thị trường đều quan tâm đến
sức mua và việc phân bổ thu nhập để mua sắm các loại hàng hoá và dịch vụ khác
nhau. Tổng số sức mua lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập hiện tại, giá
cả hàng hoá dịch vụ, các khoản tiết kiệm, tín dụng.
Khi nền kinh tế ở vào giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng như thuế
khoá tăng ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá và sức mua của người tiêu dùng. Tình
trạng trái ngược lại làm cho nhịp và chu kỳ kinh doanh trở nên phồn thịnh.
Nền kinh tế thế giới vẫn đã và đang diễn ra xu hướng vận động nhiều chiều,
sự phân hoá giầu nghèo giữa các quốc gia chậm phát triển và các quốc gai phát
triển theo hướng “Dịch vụ hậu công nghiệp ” xu thế toàn cầu hoá, những nổ lực
cạnh tranh và hợp tác đang làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế từng vùng, từng
khu vực.
Chính vì vậy, việc nắm bắt tình hình kinh tế thế giới sẽ gặp cho các nhà hoạt
động thị trường có nhiều cơ hội trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất hàng hoá, chiến
lược Marketing toàn cầu, đa quốc gia, xuyên quốc gia là một đòi hỏi tất yếu, một
thành thực đối với các nhà hoạt động thị trường nhằm mục đích tăng khả năng
cạnh tranh của hàng hoá khi gia nhập thị trường quốc tế và các nước trong khu
vực.
+ Những chính sách hỗ trợ của nhà nước
13
Ở góc độ Công ty, cơ sở sản xuất, chúng ta đều biết rằng vị thế cạnh tranh
tuỳ thuộc một phần vào quy mô sản xuất, một phần vào khả năng về vốn dồi dào
để vòng quay vốn liên tục. Trong quan hệ quốc tế cạnh tranh gay gắt đặt ra nhiều
vấn đề cạnh tranh quốc tế ở những khía cánhau hàng chục Công ty đa quốc gia
cạnh tranh với tất cả sứ mệnh của họ các ngành kinh tế mõi nhọn tham gia cạnh
tranh khai thác những thành tựu mới nhất về khoa học kỹ thuật để thắng trong cạnh
tranh các Ngân hàng quốc tế, thị trường, chứng khoán, thị trường quốc tế trong
hàng chục Mỹ Kim vào chiến tranh thương mại, chiến tranh lãi suất, chiến tranh
hồi suất (phá giá tiền lôii cuốn tiền tế khai phá giá theo) lập các khối thị trường
chung EU,
Nam Mỹ và ASEAN … các biện pháp bảo vệ mậu dịch, phân biệt đối xử, bảo vệ
xuất nhập khẩu.
Trong bối cảnh này các quốc gia cần huy động tối đa tài chính để nâng đỡ
Công ty, xí nghiệp của mình tập chung thúc đẩy sản xuất lập các khu chế xuất để
tạo ra sức mạnh, ký kết các hiệp ước về xuất nhập khẩu để giành chỗ đứng trên thị
trường cho các hàng hoá của nước mình.
Thị trường cho hàng hoá của Việt Nam trên thế giới cũng như nhiều nước
khác luôn khó khăn. Vấn đề thị trường không phải chỉ là vấn đề của một nước
riêng lẻ nào mà trở thành vấn đề trọng yếu của nền kinh tế thị trường. Vì vậy việc
hình thành một hệ thống các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá trở thành
một công cụ quan trọng nhất để chiếm lĩnh thị trường cũng như việc nhằm mục
đích nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá của nước mình so với hàng hoá
cùng loại của các nước khác. Nhà nước cần hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu, nâng
cao chất lượng hình thức, mẫu mã, bao bì với chi phí thấp, tạo điều kiện cho những
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá tự do cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét