Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Tài liệu học C# tiếng việt

Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Lựa chọn thể hiện phương thức giao diện 200
Ẩn thành viên 200
Câu hỏi & bài tập 207
9. Mảng, chỉ mục, và tập hợp 211
Mảng 212
Khai báo mảng 213
Giá trị mặc định 214
Truy cập các thành phần trong mảng 214
Khởi tạo thành phần trong mảng 216
Sử dụng từ khóa params 216
Câu lệnh foreach 218
Mảng đa chiều 220
Mảng đa chiều cùng kích thước 220
Mảng đa chiều có kích thước khác nhau 224
Chuyển đổi mảng 227
Bộ chỉ mục 232
Bộ chỉ mục và phép gán 236
Sử dụng kiểu chỉ số khác 237
Giao diện tập hợp 241
Giao diện IEnumerable 242
Giao diện ICollection 246
Danh sách mảng 247
Thực thi IComparable 251
Thực thi IComparer 254
Hàng đợi 259
Ngăn xếp 262
Kiểu từ điển 265
Hastables 266
Giao diện IDictionary 267
Tập khóa và tập giá trị 269
Giao diện IDictionaryEnumerator 270
Câu hỏi & bài tập 271
10. Xử lý chuỗi 275
Lớp đối tượng string 276
Tạo một chuỗi 276
Tạo một chuỗi dùng phương thức ToString 277
Thao tác trên chuỗi 278
Tìm một chuỗi con 285
5
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Chia chuỗi 286
Thao tác trên chuỗi dùng StringBuilder 288
Các biểu thức quy tắc 290
Sử dụng biểu thức quy tắc qua lớp Regex 291
Sử dụng Regex để tìm tập hợp 294
Sử dụng Regex để gom nhóm 295
Sử dụng CaptureCollection 298
Câu hỏi & bài tập 301
11. Cơ chế ủy quyền và sự kiện 303
Ủy quyền 304
Sử dụng ủy quyền xác nhận phương thức lúc thực thi 304
Ủy quyền tĩnh 314
Dùng ủy quyền như thuộc tính 315
Thiết lập thứ tự thi hành với mảng ủy quyền 316
Multicasting 320
Sự kiện 324
Cơ chế publishing- subscribing 324
Sự kiện và ủy quyền 325
Câu hỏi & bài tập 333
12. Các lớp cơ sở .NET 335
Lớp đối tượng trong .NET Framework 335
Lớp Timer 337
Lớp về thư mục và hệ thống 340
Lớp Math 342
Lớp thao tác tập tin 345
Làm việc với tập tin dữ liệu 351
Câu hỏi & bài tập 362
13. Xử lý ngoại lệ 364
Phát sinh và bắt giữ ngoại lệ 365
Câu lệnh throw 365
Câu lệnh catch 367
Câu lệnh finally 373
Những đối tượng ngoại lệ 375
Tạo riêng các ngoại lệ 378
Phát sinh lại ngoại lệ 381
Câu hỏi & bài tập 385
6
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Tham Khảo
Giáo trình “Ngôn ngữ Lập trình C#” được biên dịch và tổng hợp từ:
Programming C#, Jesse Liberty, O’Reilly.
C# in 21 Days, Bradley L.Jones, SAMS.
Windows Forms Programming with C#, Erik Brown, Manning.
MSDN Library – April 2002.

Quy ước
Giáo trình sử dụng một số quy ước như sau:
 Các thuật ngữ được giới thiệu lần đầu tiên sẽ in nghiêng.
 Mã nguồn của chương trình minh họa dùng font Verdana -10.
 Các từ khóa của C# dùng font Verdana-10, đậm hoặc Verdana-10, bình thường.
 Tên namspace, lớp, đối tượng, phương thức, thuộc tính, sự kiện dùng font Verdana-
10.
 Kết quả của chương trình xuất ra màn hình console dùng font Courier New-10.
7
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Chương 1
MICROSOFT .NET
 Tình hình trước khi MS.NET ra đời
 Nguồn gốc của .NET
 Microsoft .NET
 Tổng quan
 Kiến trúc .NET Framework
 Common Language Runtime
(CLR)
 Thư viện .NET Framework
 Phát triển ứng dụng client
 Biên dịch và MSIL
 Ngôn ngữ C#
Tình hình trước khi MS.NET ra đời
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin của thế giới ngày nay, với sự phát triển liên tục và đa
dạng nhất là phần mềm, các hệ điều hành, các môi trường phát triển, các ứng dụng liên tục ra
đời. Tuy nhiên, đôi khi việc phát triển không đồng nhất và nhất là do lợi ích khác nhau của
các công ty phần mềm lớn làm ảnh hưởng đến những người xây dựng phần mềm.
Cách đây vài năm Java được Sun viết ra, đã có sức mạnh đáng kể, nó hướng tới việc chạy
trên nhiều hệ điều hành khác nhau, độc lập với bộ xử lý (Intel, Risc,…). Đặc biệt là Java rất
thích hợp cho việc viết các ứng dụng trên Internet. Tuy nhiên, Java lại có hạn chế về mặt tốc
độ và trên thực tế vẫn chưa thịnh hành. Mặc dù Sun Corporation và IBM có đẩy mạnh Java,
nhưng Microsoft đã dùng ASP để làm giảm khả năng ảnh hưởng của Java.
Để lập trình trên Web, lâu nay người ta vẫn dùng CGI-Perl và gần đây nhất là PHP, một
ngôn ngữ giống như Perl nhưng tốc độ chạy nhanh hơn. Ta có thể triển khai Perl trên
Unix/Linux hay MS Windows. Tuy nhiên có nhiều người không thích dùng do bản thân ngôn
ngữ hay các qui ước khác thường và Perl không được phát triển thống nhất, các công cụ được
xây dựng cho Perl tuy rất mạnh nhưng do nhiều nhóm phát triển và người ta không đảm bảo
rằng tương lai của nó ngày càng tốt đẹp hơn.
Microsoft .NET
8
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Trong giới phát triển ứng dụng trên Windows ta có thể viết ứng dụng bằng Visual C++,
Delphi hay Visual Basic, đây là một số công cụ phổ biến và mạnh. Trong đó Visual C++ là
một ngôn ngữ rất mạnh và cũng rất khó sử dụng. Visual Basic thì đơn giản dễ học, dễ dùng
nhất nên rất thông dụng. Lý do chính là Visual Basic giúp chúng ta có thể viết chương trình
trên Windows dễ dàng mà không cần thiết phải biết nhiều về cách thức MS Windows hoạt
động, ta chỉ cần biết một số kiến thức căn bản tối thiểu về MS Windows là có thể lập trình
được. Do đó theo quan điểm của Visual Basic nên nó liên kết với Windows là điều tự nhiên
và dễ hiểu, nhưng hạn chế là Visual Basic không phải ngôn ngữ hướng đối tượng (Object
Oriented).
Delphi là hậu duệ của Turbo Pascal của Borland. Nó cũng giống và tương đối dễ dùng
như Visual Basic. Delphi là một ngôn ngữ hướng đối tượng. Các điều khiển dùng trên Form
của Delphi đều được tự động khởi tạo mã nguồn. Tuy nhiên, chức năng khởi động mã nguồn
này của Delphi đôi khi gặp rắc rối khi có sự can thiệp của người dùng vào. Sau này khi công
ty Borland bị bán và các chuyên gia xây dựng nên Delphi đã chạy qua bên Microsoft, và
Delphi không còn được phát triển tốt nữa, người ta không dám đầu tư triển khai phần mềm
vào Delphi. Công ty sau này đã phát triển dòng sản phẩm Jbuilder (dùng Java) không còn
quan tâm đến Delphi.
Tuy Visual Basic bền hơn do không cần phải khởi tạo mã nguồn trong Form khi thiết kế
nhưng Visual Basic cũng có nhiều khuyết điểm :
 Không hỗ trợ thiết kế hướng đối tượng, nhất là khả năng thừa kế (inheritance).
 Giới hạn về việc chạy nhiều tiểu trình trong một ứng dụng, ví dụ ta không thể dùng
Visual Basic để viết một Service kiểu NT.
 Khả năng xử lý lỗi rất yếu, không thích hợp trong môi trường Multi- tier
 Khó dùng chung với ngôn ngữ khác như C++.
 Không có User Interface thích hợp cho Internet.
Do Visual Basic không thích hợp cho viết các ứng Web Server nên Microsoft tạo ra ASP
(Active Server Page). Các trang ASP này vừa có tag HTML vừa chứa các đoạn script
(VBScript, JavaScript) nằm lẫn lộn nhau. Khi xử lý một trang ASP, nếu là tag HTML thì sẽ
được gởi thẳng qua Browser, còn các script thì sẽ được chuyển thành các dòng HTML rồi gởi
đi, ngoại trừ các function hay các sub trong ASP thì vị trí các script khác rất quan trọng.
Khi một số chức năng nào được viết tốt người ta dịch thành ActiveX và đưa nó vào Web
Server. Tuy nhiên vì lý do bảo mật nên các ISP (Internet Service Provider) làm máy chủ cho
Web site thường rất dè đặt khi cài ActiveX lạ trên máy của họ. Ngoài ra việc tháo gỡ các
phiên bản của ActiveX này là công việc rất khó, thường xuyên làm cho Administrator nhức
đầu. Những người đã từng quản lý các version của DLL trên Windows điều than phiền tại sao
phải đăng ký các DLL và nhất là chỉ có thể đăng ký một phiên bản của DLL mà thôi. Và từ
“DLL Hell” xuất hiện tức là địa ngục DLL…
Microsoft .NET
9
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Sau này để giúp cho việc lập trình ASP nhanh hơn thì công cụ Visual InterDev, một IDE
(Integrated Development Environment) ra đời. Visual InterDev tạo ra các Design Time
Controls cho việc thiết kế các điều khiển trên web,… Tiếc thay Visual InterDev không bền
vững lắm nên sau một thời gian thì các nhà phát triển đã rời bỏ nó.
Tóm lại bản thân của ASP hãy còn một số khuyết điểm quan trọng, nhất là khi chạy trên
Internet Information Server với Windows NT 4, ASP không đáng tin cậy lắm.
Tóm lại trong giới lập trình theo Microsoft thì việc lập trình trên desktop cho đến lập trình
hệ phân tán hay trên web là không được nhịp nhàng cho lắm. Để chuyển được từ lập trình
client hay desktop đến lập trình web là một chặng đường dài.
Nguồn gốc .NET
Đầu năm 1998, sau khi hoàn tất phiên bản Version 4 của Internet Information Server
(IIS), các đội ngũ lập trình ở Microsoft nhận thấy họ còn rất nhiều sáng kiến để kiện toàn IIS.
Họ bắt đầu xây dựng một kiến trúc mới trên nền tảng ý tưởng đó và đặt tên là Next
Generation Windows Services (NGWS).
Sau khi Visual Basic được trình làng vào cuối 1998, dự án kế tiếp mang tên Visual Studio
7 được xác nhập vào NGWS. Đội ngũ COM+/MTS góp vào một universal runtime cho tất cả
ngôn ngữ lập trình chung trong Visual Studio, và tham vọng của họ cung cấp cho các ngôn
ngữ lập trình của các công ty khác dùng chung luôn. Công việc này được xúc tiến một cách
hoàn toàn bí mật mãi cho đến hội nghị Professional Developers’ Conference ở Orlado vào
tháng 7/2000. Đến tháng 11/2000 thì Microsoft đã phát hành bản Beta 1 của .NET gồm 3 đĩa
CD. Tính đến lúc này thì Microsoft đã làm việc với .NET gần 3 năm rồi, do đó bản Beta 1
này tương đối vững chắc.
.NET mang dáng dấp của những sáng kiến đã được áp dụng trước đây như p-code trong
UCSD Pascal cho đến Java Virtual Machine. Có điều là Microsoft góp nhặt những sáng kiến
của người khác, kết hợp với sáng kiến của chính mình để làm nên một sản phẩm hoàn chỉnh
từ bên trong lẫn bên ngoài. Hiện tại Microsoft đã công bố phiên bản release của .NET.
Thật sự Microsoft đã đặt cược vào .NET vì theo thông tin của công ty, đã tập trung 80%
sức mạnh của Microsoft để nghiên cứu và triển khai .NET (bao gồm nhân lực và tài chính ?),
tất cả các sản phẩm của Microsoft sẽ được chuyển qua .NET.
Microsoft .NET
Tổng quan
Microsoft .NET gồm 2 phần chính : Framework và Integrated Development Environment
(IDE). Framework cung cấp những gì cần thiết và căn bản, chữ Framework có nghĩa là khung
hay khung cảnh trong đó ta dùng những hạ tầng cơ sở theo một qui ước nhất định để công
việc được trôi chảy. IDE thì cung cấp một môi trường giúp chúng ta triển khai dễ dàng, và
nhanh chóng các ứng dụng dựa trên nền tảng .NET. Nếu không có IDE chúng ta cũng có thể
Microsoft .NET
10
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
dùng một trình soạn thảo ví như Notepad hay bất cứ trình soạn thảo văn bản nào và sử dụng
command line để biên dịch và thực thi, tuy nhiên việc này mất nhiều thời gian. Tốt nhất là
chúng ta dùng IDE phát triển các ứng dụng, và cũng là cách dễ sử dụng nhất.
Thành phần Framework là quan trọng nhất .NET là cốt lõi và tinh hoa của môi trường,
còn IDE chỉ là công cụ để phát triển dựa trên nền tảng đó thôi. Trong .NET toàn bộ các ngôn
ngữ C#, Visual C++ hay Visual Basic.NET đều dùng cùng một IDE.
Tóm lại Microsoft .NET là nền tảng cho việc xây dựng và thực thi các ứng dụng phân tán
thế hệ kế tiếp. Bao gồm các ứng dụng từ client đến server và các dịch vụ khác. Một số tính
năng của Microsoft .NET cho phép những nhà phát triển sử dụng như sau:
 Một mô hình lập trình cho phép nhà phát triển xây dựng các ứng dụng dịch vụ web và
ứng dụng client với Extensible Markup Language (XML).
 Tập hợp dịch vụ XML Web, như Microsoft .NET My Services cho phép nhà phát
triển đơn giản và tích hợp người dùng kinh nghiệm.
 Cung cấp các server phục vụ bao gồm: Windows 2000, SQL Server, và BizTalk
Server, tất cả điều tích hợp, hoạt động, và quản lý các dịch vụ XML Web và các ứng
dụng.
 Các phần mềm client như Windows XP và Windows CE giúp người phát triển phân
phối sâu và thuyết phục người dùng kinh nghiệm thông qua các dòng thiết bị.
 Nhiều công cụ hỗ trợ như Visual Studio .NET, để phát triển các dịch vụ Web XML,
ứng dụng trên nền Windows hay nền web một cách dể dàng và hiệu quả.
Kiến trúc .NET Framework
.NET Framework là một platform mới làm đơn giản việc phát triển ứng dụng trong môi
trường phân tán của Internet. .NET Framework được thiết kế đầy đủ để đáp ứng theo quan
điểm sau:
 Để cung cấp một môi trường lập trình hướng đối tượng vững chắc, trong đó mã
nguồn đối tượng được lưu trữ và thực thi một cách cục bộ. Thực thi cục bộ nhưng
được phân tán trên Internet, hoặc thực thi từ xa.
 Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà tối thiểu được việc đóng gói phần
mềm và sự tranh chấp về phiên bản.
 Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà đảm bảo việc thực thi an toàn mã
nguồn, bao gồm cả việc mã nguồn được tạo bởi hãng thứ ba hay bất cứ hãng nào mà
tuân thủ theo kiến trúc .NET.
 Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà loại bỏ được những lỗi thực hiện
các script hay môi trường thông dịch.
 Để làm cho những người phát triển có kinh nghiệm vững chắc có thể nắm vững nhiều
kiểu ứng dụng khác nhau. Như là từ những ứng dụng trên nền Windows đến những
ứng dụng dựa trên web.
Microsoft .NET
11
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
 Để xây dựng tất cả các thông tin dựa triên tiêu chuẩn công nghiệp để đảm bảo rằng
mã nguồn trên .NET có thể tích hợp với bất cứ mã nguồn khác.
.NET Framework có hai thành phần chính: Common Language Runtime (CLR) và thư
viện lớp .NET Framework. CLR là nền tảng của .NET Framework. Chúng ta có thể hiểu
runtime như là một agent quản lý mã nguồn khi nó được thực thi, cung cấp các dịch vụ cốt lõi
như: quản lý bộ nhớ, quản lý tiểu trình, và quản lý từ xa. Ngoài ra nó còn thúc đẩy việc sử
dụng kiểu an toàn và các hình thức khác của việc chính xác mã nguồn, đảm bảo cho việc thực
hiện được bảo mật và mạnh mẽ. Thật vậy, khái niệm quản lý mã nguồn là nguyên lý nền tảng
của runtime. Mã nguồn mà đích tới runtime thì được biết như là mã nguồn được quản lý
(managed code). Trong khi đó mã nguồn mà không có đích tới runtime thì được biết như mã
nguồn không được quản lý (unmanaged code).
Thư viện lớp, một thành phần chính khác của .NET Framework là một tập hợp hướng đối
tượng của các kiểu dữ liệu được dùng lại, nó cho phép chúng ta có thể phát triển những ứng
dụng từ những ứng dụng truyền thống command-line hay những ứng dụng có giao diện đồ
họa (GUI) đến những ứng dụng mới nhất được cung cấp bởi ASP.NET, như là Web Form và
dịch vụ XML Web.
Hình 1.1: Mô tả các thành phần trong .NET Framework.
Microsoft .NET
12
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Common Language Runtime (CLR)
Như đã đề cập thì CLR thực hiện quản lý bộ nhớ, quản lý thực thi tiểu trình, thực thi mã
nguồn, xác nhận mã nguồn an toàn, biên bịch và các dịch vụ hệ thống khác. Những đặc tính
trên là nền tảng cơ bản cho những mã nguồn được quản lý chạy trên CLR.
Do chú trọng đến bảo mật, những thành phần được quản lý được cấp những mức độ
quyền hạn khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nguyên thủy của chúng như: liên quan đến
Internet, hệ thống mạng trong nhà máy, hay một máy tính cục bộ. Điều này có nghĩa rằng,
một thành phần được quản lý có thể có hay không có quyền thực hiện một thao tác truy cập
tập tin, thao tác truy cập registry, hay các chức năng nhạy cảm khác.
CLR thúc đẩy việc mã nguồn thực hiện việc truy cập được bảo mật. Ví dụ, người sử dụng
giới hạn rằng việc thực thi nhúng vào trong một trang web có thể chạy được hoạt hình trên
màn hình hay hát một bản nhạc, nhưng không thể truy cập được dữ liệu riêng tư, tập tin hệ
thống, hay truy cập mạng. Do đó, đặc tính bảo mật của CLR cho phép những phần mềm đóng
gói trên Inernet có nhiều đặc tính mà không ảnh hưởng đến việc bảo mật hệ thống.
CLR còn thúc đẩy cho mã nguồn được thực thi mạnh mẽ hơn bằng việc thực thi mã nguồn
chính xác và sự xác nhận mã nguồn. Nền tảng của việc thực hiện này là Common Type
System (CTS). CTS đảm bảo rằng những mã nguồn được quản lý thì được tự mô tả (self-
describing). Sự khác nhau giữa Microsoft và các trình biên dịch ngôn ngữ của hãng thứ ba là
việc tạo ra các mã nguồn được quản lý có thể thích hợp với CTS. Điều này thì mã nguồn được
quản lý có thể sử dụng những kiểu được quản lý khác và những thể hiện, trong khi thúc đẩy
nghiêm ngặt việc sử dụng kiểu dữ liệu chính xác và an toàn.
Thêm vào đó, môi trường được quản lý của runtime sẽ thực hiện việc tự động xử lý layout
của đối tượng và quản lý những tham chiếu đến đối tượng, giải phóng chúng khi chúng không
còn được sử dụng nữa. Việc quản lý bộ nhớ tự động này còn giải quyết hai lỗi chung của ứng
dụng: thiếu bộ nhớ và tham chiếu bộ nhớ không hợp lệ.
Trong khi runtime được thiết kế cho những phần mềm của tương lai, nó cũng hỗ trợ cho
phân mềm ngày nay và trước đây. Khả năng hoạt động qua lại giữa mã nguồn được quản lý và
mã nguồn không được quản lý cho phép người phát triển tiếp tục sử dụng những thành phần
cần thiết của COM và DLL.
Rutime được thiết kế để cải tiến hiệu suất thực hiện. Mặc dù CLR cung cấp nhiều các tiêu
chuẩn dịch vụ runtime, nhưng mã nguồn được quản lý không bao giờ được dịch. Có một đặc
tính gọi là Just-in-Time (JIT) biên dịch tất cả những mã nguồn được quản lý vào trong ngôn
ngữ máy của hệ thống vào lúc mà nó được thực thi. Khi đó, trình quản lý bộ nhớ xóa bỏ
những phân mảnh bộ nhớ nếu có thể được và gia tăng tham chiếu bộ nhớ cục bộ, và kết quả
gia tăng hiệu quả thực thi.
Microsoft .NET
13
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
Thư viện lớp .NET Framework
Thư viện lớp .NET Framework là một tập hợp những kiểu dữ liệu được dùng lại và được
kết hợp chặt chẽ với Common Language Runtime. Thư viện lớp là hướng đối tượng cung cấp
những kiểu dữ liệu mà mã nguồn được quản lý của chúng ta có thể dẫn xuất. Điều này không
chỉ làm cho những kiểu dữ liệu của .NET Framework dễ sử dụng mà còn làm giảm thời gian
liên quan đến việc học đặc tính mới của .NET Framework. Thêm vào đó, các thành phần của
các hãng thứ ba có thể tích hợp với những lớp trong .NET Framework.
Cũng như mong đợi của người phát triển với thư viện lớp hướng đối tượng, kiểu dữ liệu .
NET Framework cho phép người phát triển thiết lập nhiều mức độ thông dụng của việc lập
trình, bao gồm các nhiệm vụ như: quản lý chuỗi, thu thập hay chọn lọc dữ liệu, kết nối với cơ
cở dữ liệu, và truy cập tập tin. Ngoài những nhiệm vụ thông dụng trên. Thư viện lớp còn đưa
vào những kiểu dữ liệu để hỗ trợ cho những kịch bản phát triển chuyên biệt khác. Ví dụ người
phát triển có thể sử dụng .NET Framework để phát triển những kiểu ứng dụng và dịch vụ như
sau:
 Ứ ng dụng Console
 Ứ ng dụng giao diện GUI trên Windows (Windows Forms)
 Ứ ng dụng ASP.NET
 Dịch vụ XML Web
 Dịch vụ Windows
Trong đó những lớp Windows Forms cung cấp một tập hợp lớn các kiểu dữ liệu nhằm
làm đơn giản việc phát triển các ứng dụng GUI chạy trên Windows. Còn nếu như viết các ứng
dụng ASP.NET thì có thể sử dụng các lớp Web Forms trong thư viện .NET Framework.
Phát triển ứng dụng Client
Những ứng dụng client cũng gần với những ứng dụng kiểu truyền thống được lập trình
dựa trên Windows. Đây là những kiểu ứng dụng hiển thị những cửa sổ hay những form trên
desktop cho phép người dùng thực hiện một thao tác hay nhiệm vụ nào đó. Những ứng dụng
client bao gồm những ứng dụng như xử lý văn bản, xử lý bảng tính, những ứng dụng trong
lĩnh vực thương mại như công cụ nhập liệu, công cụ tạo báo cáo Những ứng dụng client này
thường sử dụng những cửa sổ, menu, toolbar, button hay các thành phần GUI khác, và chúng
thường truy cập các tài nguyên cục bộ như là các tập tin hệ thống, các thiết bị ngoại vi như
máy in.
Một loại ứng dụng client khác với ứng dụng truyền thống như trên là ActiveX control
(hiện nay nó được thay thế bởi các Windows Form control) được nhúng vào các trang web
trên Internet. Các ứng dụng này cũng giống như những ứng dụng client khác là có thể truy cập
tài nguyên cục bộ.
Trong quá khứ, những nhà phát triển có thể tạo các ứng dụng sử dụng C/C++ thông qua
kết nối với MFC hoặc sử dụng môi trường phát triển ứng dụng nhanh (RAD: Rapid
Microsoft .NET
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét