Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

những kỹ năng mới trong nhiều ngành nghề, mà những lao động có những kỹ năng cũ,
lỗi thời không đáp ứng được. Một doanh nghiệp sản xuất trong ngành nghề bị thu hẹp
phải sa thải bớt công nhân. Những người không được đào tạo đầy đủ hoặc sinh viên mới
ra trường chưa có kinh nghiệm có khả năng thất nghiệp cao. Thậm chí những người
được đào tạo những kỹ năng chuyên môn cao cũng có thể bị thất nghiệp. Thất nghiệp cơ
cấu xảy ra tập trung ở một số khu vực, ngành nghề, hoặc một số bộ phận trong lực
lượng lao động. Tháng 6 năm 1992, tỷ lệ thất nghiệp của toàn nước Mỹ là 7,8%; trong
đó, tỷ lệ thất nghiệp của New York là 9,2%, đối với bộ phận lao động từ 16 – 19 là 23,
6%, đối với người da màu là 14,9%, đối với nhân viên bán lẻ là 9,2%.
- Thất nghiệp chu kỳ nói chung xảy ra do giảm mức cầu về lao động. Theo chu kỳ,
khi nền kinh tế đi xuống, mức cầu hàng hóa, dịch vụ giảm, dẫn đến thu hẹp sản xuất và
xảy ra thất nghiệp. Vào thế kỷ 19, cứ 20 năm một lần nước Mỹ lại trải qua một cuộc
khủng hoảng. Năm 1890 xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài, tỷ lệ
thất nghiệp lên tới 18%. Sau đó, trong thế kỷ 20 đã xảy ra 4 cuộc khủng hoảng có mức
độ ít nghiêm trọng hơn. Cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ xảy ra vào
thập kỷ 30 của thế kỷ 20, mà ở mức đỉnh điểm, cứ 4 người Mỹ thì có một người thất
nghiệp, tình trạng thất nghiệp còn kéo dài nhiều năm sau đó.
b. Hậu quả:
- Đối với bản thân người lao động:
Cá nhân người lao động khi bị thất nghiệp không có đủ khả năng tài chính để đáp
ứng các nhu cầu cơ bản của bản thân. Ở một số nước, thất nghiệp dẫn đến tình trạng vô
gia cư do không thể trả tiền thế chấp hoặc tiền thuê nhà. Thất nghiệp dẫn đến tình trạng
không đáp ứng được lượng dinh dưỡng cần thiết, ốm đau, tinh thần căng thẳng, thậm
chí làm cho con người đánh mất tính tự trọng.
Một nghiên cứu về “Ảnh hưởng của môi trường xã hội đến tâm lý con người” đã
được tiến hành vào năm 1979 bởi Tiến sỹ M. Havey Brenner. Ông đã chỉ ra rằng, nếu tỷ
lệ thất nghiệp cứ tăng 10% thì tỷ lệ tử vong tăng 1,2%, trường hợp mắc bệnh tim mạch
tăng 1.7%, số người mắc bệnh xơ gan tăng 1.3%, số người tự tử tăng 1.7%, số người bị
bắt do phạm luật tăng 1.4%, số vụ ẩu đả bị báo cảnh sát tăng 0.8%. Thất nghiệp, thiếu
hụt nguồn tài chính và trách nhiệm xã hội, tất cả có thể đẩy người lao động đến chỗ phải
5
làm những công việc không phù hợp với kỹ năng hoặc không sử dụng hết khả năng và
tính sáng tạo.
- Đối với nền kinh tế:
Một nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao không thể sử dụng một cách đầy đủ các
nguồn lực sẵn có, đặc biệt là nguồn nhân lực. Vì hoạt động dưới mức khả năng sản xuất,
nền kinh tế đáng lẽ đã tạo ra sản lượng lớn hơn nếu sử dụng tối đa các nguồn lực. Tuy
nhiên, luôn luôn có sự đánh đổi giữa sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế với tỷ lệ thất
nghiệp. Nếu những người thất nghiệp tạm thời chấp nhận công việc đầu tiên họ được
giới thiệu, rất có thể họ sẽ làm việc dưới mức làm việc hiệu quả của bản thân và do vậy,
làm giảm hiệu quả kinh tế. Người ta tính được rằng, trong thời kỳ Đại khủng hoảng,
thiệt hại do lương không hiệu quả mà nền kinh tế Mỹ phải hứng chịu là $4000 tỷ. Mức
này còn lớn hơn thiệt hại do độc quyền, lũng đoạn và thuế gây ra.
- Đối với xã hội:
Quan niệm chung cho rằng, thất nghiệp gây ra những bất ổn xã hội như: tỷ lệ tội
phạm tăng cao, tệ nạn xã hội… Thất nghiệp còn dẫn đến bãi công, biểu tình… làm xấu
đi tình hình chính trị, làm giảm niềm tin của người lao động đối với Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, một cuộc nghiên cứu gần đây về tác động của các cuộc suy thoái đến sức
khỏe con người tiến hành bởi Christopher Ruhm cho thấy tình trạng sức khỏe thực sự
được cải thiện trong các cuộc suy thoái. Điều này cũng giống như tác động của suy
thoái kinh tế đối với tình trạng tội phạm. Trong cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933, tỷ lệ
tội phạm hoàn toàn không gia tăng.
1.1.4. Các biện pháp cơ bản nhằm đối phó và khắc phục hậu quả thất nghiệp của
Chính phủ:
Thất nghiệp luôn luôn là một hiện tượng của bất kỳ nền kinh tế nào, ngay cả khi
nó ở giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất. Tuỳ điều kiện và mục tiêu của mỗi nước, hoặc
ở cùng một nước trong các giai đoạn khác nhau, mà Chính phủ có thể thực hiện các
phương pháp sau đây theo các mức độ khác nhau.
- Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế: Để thúc đẩy nền kinh tế trong một
giai đoạn suy thoái hay tạo các điều kiện ban đầu về cơ sở vật chất và kiến trúc thượng
tầng cho nền kinh tế phát triển, chính phủ các nước phải thực hiện các chương trình đầu
tư công. Đây là những dự án đầu tư mà doanh nghiệp tư nhân chưa thể làm được hoặc
6
không muốn làm do vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm… Những dự án này
thường yêu cầu một lượng lao động lớn. Khi đó, chính những dự án này thu hút được
một lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội, giúp giảm bớt áp lực thất nghiệp.
- Các chính sách tạo việc làm: Thông qua một loạt các công cụ, chính sách cùng
với nguồn lực sẵn có, Chính phủ có thể thực hiện đồng thời các biện pháp đầu tư sau.
Thứ nhất, chuyển đổi mô hình đầu tư, tập trung vào ngành sản xuất hàng tiêu dùng có
khả năng tạo ra nhiều công việc thu hút được nhiều lao động phổ thông đang bị thất
nghiệp trong nền kinh tế. Thứ hai, tạo điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ
phát triển. Có thể nói, trong một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có vai trò như “xương sống của một cơ thể”.
- Thiết lập hệ thống bảo trợ xã hội (hay chính là hệ thống an sinh xã hội). Công
ước 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: An sinh xã hội là sự bảo vệ mà
xã hội cung cấp cho các thành viên của minh thông qua một loạt các biện pháp công
cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng
hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập. Mô hình An sinh xã hội ra đời nhằm khắc phục
những bất bình đẳng trong thu nhập, điều hoà rủi ỏ, tạo điều kiện cho nhóm dân cư
nghèo được thụ hưởng những điều kiện tối thiểu.
- Chính sách, chương trình khác của chính phủ nhằm hỗ trợ đào tạo người lao
động: như trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ lao động nữ có có hội làm việc, đưa người lao
động ra nước ngoài làm việc…
1.2 NỘI DUNG CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.2.1. Sự ra đời của Bảo hiểm thất nghiệp
Những hình thức thực hiện trợ cấp thất nghiệp đầu tiên được hình thành trên thế
giới được hình thành trước thế kỷ 19, lúc đầu chỉ áp dụng cho những loại công nhân đặc
biệt như: Ở cao nguyên Bohemia thực hiện trợ cấp thất nghiệp cho thợ thủ công ngành
thuỷ tinh, ở Bagel và Thuỵ Sỹ áp dụng cho công nhân đóng giầy. Các giới chủ sử dụng
lao động đã trích một phần thu nhập của mình để đóng góp vào quỹ chung (quỹ bảo
hiểm thất nghiệp) để tiến hành trợ cấp tạm thời hoặc trợ cấp một phần. Các khoản đóng
góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được tính theo giá thành sản phẩm.
Qua một thời kỳ phát triển, một số chính quyền địa phương đã cho phép thành lập
quỹ bảo hiểm thất nghiệp do người lao động tự nguyện tham gia. Quỹ thất nghiệp đầu
7
tiên được hình thành ở Thuỵ Sĩ (Bezne) năm 1893. Nhưng do tính chất tự nguyện của
quỹ nên ban đầu chỉ có những người có công việc có tính chất không ổn định mới tham
gia. Trong khi đó, một số chính quyền địa phương đã bảo vệ người lao động một cách
gián tiếp bằng cách hỗ trợ một số tiền lớn cho các Quỹ thất nghiệp tư nhân (chủ yếu là
hiệp hội thương mại) nhằm làm tăng nguồn kinh phí dành cho chi trả các khoản trợ cấp
của quỹ. Mức hỗ trợ này dựa trên số chi trả của năm trước. Cách hỗ trợ này được gọi là
hệ thống Ghent hay chế độ hỗ trợ đồ thị và được áp dụng rộng rãi bởi các thành phố lớn.
Qua việc hình thành các chế độ trợ cấp thất nghiệp tự nguyện trong thời gian đầu ở
các nước công nghiệp phát triển, cho ta thấy một số kinh nghiệp thành công nhất định
của chế độ này. Nhưng nhược điểm lớn nhất của chế độ thất nghiệp tự nguyện là các
hiệp hội tư nhân không đủ khả năng tài chính trong khi đó, chỉ có những thành viên của
quỹ mới tham gia đóng góp. Đặc biệt, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế nổ ra, thâm hụt
làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của quỹ. Do vậy, các nhà kinh tế thời bấy giờ đã rút
ra được một logic của việc phát triển trợ cấp thất nghiệp là phải được thực hiện bởi Nhà
nước trên phạm vi toàn quốc.
Đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, Đức và Nauy là 2 quốc gia trên thế giới ban hành
Luật về Bảo hiểm thất nghiệp. Luật này cho phép hình thành quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
trên nguyên tắc tự nguyện nhưng có sự hỗ trợ của Nhà nước. Sau thế chiến lần thứ 2,
một số nước cũng ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp.
Anh là nước đầu tiên ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc vào năm 1911,
sau đó là Italia năm 1919. Học tập Anh và Italia, nhiều nước ở châu Âu cũng ban hành
Luật Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc vào những năm 20 của thế kỷ XX. Sang thập niên
30 của thế kỷ XX, Mỹ và Canada cũng ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc.
Năm 1921, Luxămbua lần đầu tiên quy định hạn mức chi trả bằng tiền về trợ cấp
thất nghiệp. Năm 1938, Newzealand cũng áp dụng chế độ trợ cấp xã hội tổng hợp, trong
đó áp dụng thử nghiệm chế độ trợ cấp thất nghiệp. Cho đến nay đã có hơn 80 nước trên
thế giới áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó có khoảng 1/2 đang thực hiện
chế độ Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc, và hầu hết các nước đều coi Bảo hiểm thất
nghiệp là một nhánh của Bảo hiểm xã hội. Chương trình Bảo hiểm thất nghiệp thường
xuyên được cải cách và sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hàng năm.
8
1.2.2. Đối tượng, đối tượng tham gia của Bảo hiểm thất nghiệp
a) Đối tượng:
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ khó quản lý nhất trong hệ thống các chế độ
bảo hiểm xã hội vì nhiều người vẫn có thể nhận trợ cấp thất nghiệp trong khi vẫn có thu
nhập từ một công việc không được đăng ký hoặc một công việc nào đó trong khu vực
phi chính thống. Bên cạnh đó, việc trốn tránh đóng góp bảo hiểm xã hội thường xảy ra,
vì vậy trước hết phải qui định bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ bảo hiểm bắt buộc.
Như vậy, có thể áp dụng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo đối tượng tham
gia bảo hiểm xã hội được qui định tại Điều 141 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ
sung.
Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ là người lao động làm việc theo hợp
đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định
thời hạn.
1.2.3. Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
Việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp của các quốc gia tuy hoàn toàn không
giống nhau, nhưng đều tập trung vào hai hoặc ba đối tượng: người lao động, người sử
dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm của 69 nước thực hiện chế độ bảo hiểm thất
nghiệp cho thấy hầu như các quốc gia đều có sự hỗ trợ hoặc đóng góp trực tiếp cho việc
hình thành từ sự đóng góp của ba bên là hợp lý, nhất là giai đoạn đầu của bảo hiểm thất
nghiệp.
1.2.4. Mức hưởng và thời gian hưởng
a) Mức hưởng:
Theo quy định của Công ước quốc tế về bảo hiểm xã hội của ILO số 102 ban hành
năm 1952, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối thiểu đối với một người thụ hưởng chuẩn
(một chồng, một vợ và hai con) tối thiểu bằng 45% mức thu nhập trước đó. Công ước
của ILO về thúc đẩy việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp số 168 năm 1988 nâng mức
hưởng tối thiểu này lên 50%.
Nhìn chung, tỷ lệ hưởng trợ cấp được xác định dựa vào hai tiêu chí sau:
+ Lương bình quân, sao cho đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động.
+ Lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
9
Kinh nghiệm thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước cho thấy: ở Hàn
Quốc, mức Bảo hiểm thất nghiệp là 50% thu nhập của người lao động ở tháng trước khi
họ bị mất việc làm. Ở Trung Quốc mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp theo một
nguyên tắc chung là thấp hơn mức tiền lương tối thiểu nhưng phải cao hơn mức sống tối
thiểu của cư dân thành thị. Ở một số nước thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp trong
quá trình “chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường” như: Bungari mức hưởng là 60%
tiền lương trước khi thất nghiệp và 80% lương tối thiểu nếu tự bỏ việc; Hungari là 75%
tiền lương trước khi bị thất nghiệp trong vòng 23-90 ngày, sau đó chỉ được 60%; Nga
mức hưởng là 75% tiền lương trước khi thất nghiệp sau đó giảm dần.
Như vậy, có 4 cách hay được các nước áp dụng là:
- Ấn định mức trả đồng đều cho tất cả mọi người thất nghiệp có chung điều kiện
(thường bằng tỷ lệ % so với mức lương tối thiểu).
- Xác định bằng một tỷ lệ theo lương cá nhân. Đa số các nước xác định tỷ lệ
hưởng bằng 40 - 60% tiền lương.
- Xác định theo tỷ lệ luỹ thoái: những tháng đầu được hưởng tỷ lệ cao, những
tháng sau tỷ lệ thấp hơn.
- Xác định theo luỹ tiến điều hoà: những người thuộc nhóm lương thấp thì được
hưởng tỷ lệ cao và những người ở nhóm lương cao được hưởng tỷ lệ thấp.
b) Thời gian hưởng.
Điều 24 Công ước ILO số 102 quy định trong một năm tổng thời gian chi trả trợ
cấp thất nghiệp có thể hạn chế trong vòng 13 tuần. Còn theo Công ước ILO số 168 thì
khoảng thời gian này là 26 tuần.
Thông thường, các nước quy định thời gian hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp từ
khoảng 12-25 tuần như: Áo 12 tuần, Đức 13 tuần, Canada 36 tuần.Tuy nhiên, một số
nước qui định khoảng thời gian này rất chặt chẽ. Ví dụ như: ở Trung Quốc người thất
nghiệp đã đóng phí Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ 1-5 năm, sẽ được nhận trợ
cấp thất nghiệp trong vòng 12 tháng; tương tự, từ 5-10 năm được hưởng trong 18 tháng
và trên 10 năm được hưởng tối đa là 24 tháng. Trong trường hợp người lao động lại bị
thất nghiệp sau khi đã tìm được việc làm thì thời gian đóng góp cho quỹ sẽ được tính
toán lại trên cơ sở xem xét khoảng thời gian họ đã nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây,
tuy nhiên mức tối đa cũng không được vượt quá 24 tháng. Luật bảo hiểm của
10
Philippines quy đinh: thời gian hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp phục thuộc vào thời
gian đóng bảo hiểm, thấp nhất là 2 tháng, cao nhất là 6 tháng. Người thất nghiệp sẽ nhận
được trợ cấp từ ngày thất nghiệp thứ 7 trở đi. Ngoài trợ cấp hàng tháng người thất
nghiệp còn được hưởng trợ cấp một lần ban đầu tương đương với hai tháng trợ cấp.
c) Điều kiện hưởng Bảo hiểm thất nghiệp
Ở nhiều nước trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp chỉ áp dụng đối với người:
- Bị bắt buộc thôi việc;
- Có đăng ký thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền;
- Có khả năng làm việc;
- Sẵn sàng làm việc và tích cực tìm kiếm việc làm.
Điều kiện đủ để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp còn phụ thuộc vào một
khoảng thời gian làm việc nhất định có đóng góp bảo hiểm. Công ước ILO số 102
khuyến cáo rằng khoảng thời gian này phải được xem xét để ngăn chặn sự lạm dụng bảo
hiểm thất nghiệp.
Thời gian đủ điều kiện để hưởng trợ cấp ở các nước là hoàn toàn khác nhau. Ví dụ
ở Anh những người đã đóng góp đầy đủ các khoản thuế trợ cấp bảo hiểm Quốc gia
(NI) có quyền nhận trợ cấp cho những người tìm việc làm cho tới 6 tháng (50,35
bảng/tuần cho một người từ 25 tuổi trở lên) bất kể người đó có tiền tiết kiệm hay thu
nhập của vợ hoặc chồng. Ở Trung Quốc để nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cần có 3
điều kiện sau: Đã đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ trọn 1 năm; sự huỷ bỏ công việc
đang làm không phải là do tự bản; thân đã đăng ký thất nghiệp và có đơn xin tái làm
việc đã được điền đầy đủ.
1.2.5. Các chế độ Bảo hiểm thất nghiệp
- Trợ cấp thất nghiệp;
- Hỗ trợ tìm việc làm;
- Hỗ trợ đào tạo nghề.
11
1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI TRIỂN KHAI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1. Bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ
Yêu cầu phải có một chương trình Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc ở Mỹ trở nên rõ
ràng hơn bao giờ hết trong suốt cuộc khủng hoảng vào thập niên 30 của thế kỷ trước.
Trước đó, chỉ có một số rất ít công ty áp dụng các chương trình Bảo hiểm thất nghiệp tự
nguyện, và thậm chí còn ít hơn các công ty có quỹ vốn đủ mạnh để đối phó với những
căng thẳng do thất nghiệp kéo dài. Một số tổ chức Công đoàn cố gắng giải quyết vấn đề
này bằng cách xây dựng quỹ thất nghiệp riêng. Tuy nhiên, các khoản trợ giúp vẫn hết
sức nhỏ bé và chỉ giới hạn trong một khoản thời gian ngắn.
Bang đầu tiên của nước Mỹ xây dựng hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp là Wisconsin
vào năm 1932. Cơ sở tiến tới xây dựng hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước là
Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 1935. Luật này đã thành lập một chương trình
mang tính liên kết giữa các bang trên cả nước, được thiết kế để hỗ trợ một phần thu
nhập bị mất cho người lao động bị thất nghiệp. Chương trình này được đóng góp từ
khoản thuế tính trên tổng quỹ lương của các doanh nghiệp. Theo Luật Bảo hiểm xã hội,
Liên bang sử dụng một phần thuế này cho chi phí quản lý các chương trình Bảo hiểm
thất nghiệp và dịch vụ việc làm, còn các bang chỉ được sử dụng thuế thu được để tiến
hành chi trả bảo hiểm. Một bang có thể có luật riêng và tự chịu trách nhiệm về quản lý.
Mức hưởng, thời gian hưởng.
Luật của mỗi bang khác nhau về điều kiện hưởng bảo hiểm, khoản tiền bảo hiểm
và thời gian hưởng bảo hiểm (tính theo tuần). Ban đầu, người lao động đủ điều kiện
hưởng Bảo hiểm thất nghiệp phải chờ từ 2-4 tuần trước khi nhận khoản tiền bảo hiểm và
khoản tiền này sẽ kéo dài tối đa trong vòng 20 tuần. Nhiều bang không yêu cầu thời
gian dự bị, và không có bang nào quy định thời gian này quá 1 tuần. Từ 1970, thời gian
thụ hưởng được tự động kéo dài thành 39 tuần nếu tỷ lệ thất nghiệp tăng lên quá một
mức quy định trước đó. Thời gian thụ hưởng ngày càng được kéo dài hơn sau mỗi cuộc
suy thoái. Ví dụ: trong cuộc suy thoái năm 1981-1982, thời gian thụ hưởng tăng lên 55
tuần. Năm 1976, chương trình Bảo hiểm thất nghiệp được thay đổi cho phép chi trả bảo
hiểm cho người lao động bị mất việc có đủ điều kiện bảo hiểm ở tất cả các ngành.
Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
12
Luật của bang về bồi thường thất nghiệp quy định lập ra một quỹ tài chính, đóng
góp bởi chủ sử dụng lao động. Một vài bang cũng yêu cầu người lao động phải đóng
góp. Để có đủ điều kiện nhận chi trả Bảo hiểm thất nghiệp, người lao động bị thất
nghiệp phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Phải kiếm được một khoản tiền lương tối thiểu theo quy định trong một khoảng
thời gian nhất định.
- Phải yêu cầu được bồi thường, đăng ký việc làm tại trung tâm giới thiệu việc làm
của bang, có khả năng làm việc và sẵn sàng làm công việc phù hợp.
Người khiếu nại bảo hiểm sẽ không được nhận bảo hiểm trong trường hợp:
- Người đó tự bỏ việc mà không có nguyên nhân hợp lý
- Bị đuổi việc do không hoàn thành nhiệm vụ, từ chối yêu cầu làm công việc thích
hợp.
Người lao động đáp ứng đủ các yêu cầu sẽ nhận được trợ cấp hàng tuần bằng cách
thông báo bằng đơn theo mẫu tới văn phòng trợ cấp thất nghiệp địa phương cho tới khi
họ tìm được công việc mới hoặc thời gian thụ hưởng kết thúc.
Ở Mỹ, Bảo hiểm thất nghiệp chi trả cho khoảng một nửa thu nhập sau thuế bị mất
mỗi tuần của người lao động cho đến một mức chi trả cao nhất đã được quy định. Nếu
thu nhập thường xuyên của người lao động đó các cao, thì tỷ lệ chi trả càng thấp. Một
người thụ hưởng trung bình nhận được khoản tiền bảo hiểm trong vòng 15 tuần.
1.3.2. Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc
Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc được triển khai lần đầu tiên vào năm 1986 và
có rất nhiều khác biệt so với các nước đang triển khai loại hình bảo hiểm này. Cho tới
nay, loại hình Bảo hiểm thất nghiệp đã có những thay đổi đáng kể, được tiến hành theo
3 giai đoạn chính.
- Giai đoạn 1 bắt đầu sự triển khai hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp vào năm 1986,
với sự ban hành “Các điều khoản mang tình chất quá độ về bảo hiểm đối với lao động
chờ việc ở công ty quốc doanh”. Trong thời kỳ này, mục đích của chương trình Bảo
hiểm thất nghiệp là tạo điều kiện thuận lợi cho cải cách kinh tế nhằm tăng năng suất lao
động và sức cạnh tranh, bằng cách trao quyền cho các công ty nhà nước trong việc tuyển
dụng, ký hợp đồng lao động, giảm lao động dư thừa và năng suất thấp. Những cải cách
này đã chấm dứt đảm bảo việc làm suốt đời đối với công chức Nhà nước. Chính sách
13
Bảo hiểm thất nghiệp, vì vậy, có chức năng như là một mạng lưới an toàn xã hội, hỗ trợ
thu nhập tạm thời và trợ giúp người thất nghiệp quay trở lại làm việc. Đáng chú ý,
chương trình này chỉ tính đến đối tượng là lao động trong các công ty quốc doanh, quỹ
bảo hiểm được cung cấp tài chính từ đóng góp của chủ sử dụng lao động, lãi đầu tư và
bao cấp của Nhà nước. Khoản tiền bảo hiểm được tính theo tiền lương tháng trung bình
và được chi trả theo thâm niên làm việc của người lao động và một số tiêu chí khác.
- Giai đoạn 2 bắt đầu bằng sự ra đời của “Các điều khoản về lao động chờ việc ở
công ty quốc doanh” vào năm 1993. Những điều khoản mới này mở rộng phạm vi thụ
hưởng từ 4 nhóm lao động trong doanh nghiệp nhà nước trước đây lên thành 7 nhóm và
thay đổi cách tính khoản chi trả bảo hiểm. Theo đó, khoản tiền này được tính trước hết
dựa vào mức bảo hiểm xã hội (thường vào khoảng 120-140%) được quy định bởi Phòng
Bảo hiểm xã hội địa phương. Sau khi áp dụng Luật Lao động mới, có quy định mức
lương tối thiểu, mức chi trả bảo hiểm được tính bằng khoảng 70-80% lương tối thiểu
tuỳ từng địa phương.
Vào thập niên 90 quá trình sát nhập, thanh lý cũng như việc lập mới các công ty
Nhà nước diễn ra hết sức sôi động. Để giải quyết một lượng lớn lao động bị thay thế,
Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp quốc doanh thành lập ra các Trung tâm trợ giúp
việc làm giúp người lao động tìm việc làm việc mới hoặc tiếp cận được với chương
trình Bảo hiểm thất nghiệp. Nhờ có các trung tâm này, người lao động bị mất việc vẫn
nhận được sự trợ giúp của các công ty tuyển dụng của nhà nước trong vòng 3 năm, mặc
dù các nguồn lực khác đã được huy động để đóng góp tài chính cho chương trình Bảo
hiểm thất nghiệp - bao gồm doanh nghiệp, Nhà nước, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp mỗi bên
đóng góp đều nhau để hình thành nên quỹ tài chính. Người thất nghiệp được hưởng
khoản tiền bảo hiểm đủ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu vào năm 1998, cao hơn so với mức
trợ cấp thất nghiệp của các địa phương. Các trung tâm này cũng phải đóng các khoản
phí cho các chương trình bảo hiểm xã hội khác như bảo hiểm hưu trí và sức khỏe, các
chi phí cho việc đào tạo lại.
- Giai đoạn 3, và cũng là giai đoạn của Bảo hiểm thất nghiệp hiện nay ở Trung
Quốc được đánh dấu bởi việc ban hành “Các quy định về Bảo hiểm thất nghiệp” gần
đây nhất vào năm 1999, theo đó, các chương trình Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc
có nhiều nét tương đồng hơn so với các nước trên thế giới. Lần đầu tiên, các cải cách
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét