Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Vận dụng quan điểm toàn diện trong vấn đề thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay

Chẳng hạn kinh tế và chính trị tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với
nhau. Xem xét vấn đề chính trị mà không tính đến các vấn đề kinh tế, hoặc ng-
ợc lại sẽ dẫn đến những sai lầm cực đoan.
Dĩ nhiên, nh nguyên lý mối liên hệ phổ biến đã chỉ ra sự vật, hiện tợng
tồn tại trong vô vàn mối liên hệ, do đó trong mỗi điều kiện lịch sử nhất định
con ngời không thể nhận thức đợc tất cả các mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt
đợc về sự vật cũng chỉ là tơng đối, không đầy đủ, không trọn vẹn.ý thức đợc
điều đó chúng ta sẽ tránh đợc việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật,
coi những tri thức đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối, không thể sửa đổi,
bổ xung và phát triển. Bởi vậy, trong cuộc sống đòi hỏi sự cần thiết phải xem
xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng
nhắc.
1.1.2: Xem xét toàn diện các mối liên hệ của sự vật phải đánh giá đúng
vị trí, vai trò của chúng, tránh xem xét một cách dàn trải, bình quân. Sự vật tồn
tại trong mối liên hệ phổ biến, nhng vị trí, vai trò các mối liên hệ không ngang
bằng nhau. Vì vậy, có xác định đợc vị trí, vai trò của các mối liên hệ mới nhận
thức đợc bản chất của sự vật, mới thấy đợc khuynh hớng vận động phát triển
của nó.
Chẳng hạn xã hội học trớc khi triết học Mác xuất hiện mới chỉ dừng lại
ở sự mô tả các mối liên hệ đa dạng, phong phú mà cha xác định đợc vị trí, vai
trò của chúng hoặc đánh giá sai vị trí vai trò của chúng nên cha thể đợc coi là
một khoa học. Trong cuộc sống thực tiễn chúng ta phải tìm nguyên nhân một
hiện tợng, một vụ việc nào đó, Nếu chỉ dừng lại ở việc liệt kê một loạt các
nguyên nhân mà cha phân loại đợc, cha xác định đợc nguyên nhân nào là cơ
bản, chủ yếu, bên trong, bêm ngoài, khách quan, chủ quan thì nhận thức còn
rất hạn chế và thực tiễn sẽ gặp nhiều khó khăn.
5
1.1.3: Phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính
nhiều mặt và sự tác động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau của
chúng.Sự vật trong thực tế tồn tại với t cách nh một chỉnh thể. Nó không phải
là tổng số đơn giản các mối liên hệ ( mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật
khác, mối liên hệ giữa các mặt của sự vật, các yếu tố cấu thành sự vật), mà là
tổng số các mối quan hệ hữu cơ, có sự tác động qua lại, quy định, chi phối lẫn
nhau. Có nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể thỉ mới nhận thức đợc bản chất
của sự vật.
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, chủ nghĩa chiết
trung và thuật ngụy biện.
ảnh hởng lối t duy của ngời sản xuất nhỏ, chúng ta hay mắc phải bệnh
phiến diện trong nhận thức và thực tiễn: chỉ thấy mặt này, mối liên hệ này mà
không thấy mặt khác, mối liên hệ khác; làm việc nọ, bỏ việc kia; nhận thức sự
vật trong trạng thái cô lập, giải quyết công việc không đảm bảo tính đồng bộ.
Một biểu hiện của bệnh phiến diện nữa là xem xét và giải quyết công việc một
cách dàn đều, bình quân, không thấy đợc vị trí, vai trò khác nhau của các mối
liên hệ, không xác định đợc trọng tâm, trọng điểm trong hoạt động.
Quan điểm toàn diện cũng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa chiết trung và
thuật nguỵ bịên. Thực chất của chủ nghĩa chiết trung là kết hợp một cách vô
nguyên tắc, chủ quan những mối liên hệ với nhau, coi những mối liên hệ là
ngang bằng nhau hoặc kết hợp những cái mà về khách quan không thể kết hợp
đợc với nhau. Đi đôi với chủ nghĩa chiết trung là thuật ngụy biện. Thuật ngụy
biện là lối t duy đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên
hệ, coi cái không cơ bản là cái cơ bản, cái không bản chất là cái bản chất
Với t cách là nguyên tắc phơng pháp luận trong hoạt động thực tiễn,
quan điểm toàn diện đòi hỏi cải tạo sự vật phải tính đến mối liên hệ phổ biến
6
của nó, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phơng tiện khác nhau để
tác động nhằm thay đổi những mối liên hệ tơng ứng.
Chơng II
Vận dụng quan điểm toàn diện trong vấn đề thực
hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt
Nam

II. Vận dụng quan điểm toàn diện trong vấn đề thực hiện công
cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
2.1 : Quan điểm này của Đảng nhà n ớc ta về CNH-HĐH :
Trớc khi nói về quản điểm của Đảng ta hiện nay về CNH-HĐH chúng ta
cần biết rằng,ở nớc ta CNH-HĐH đã đợc tiến hành từ những năm 60 đầu thế kỉ
XX.TạI Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Cộng sản Việt Nam đã
thông qua đờng lối tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa theo hớng -
u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và cộng nghiệp nhẹ nhằm xây dựng cơ sở vật chất-kĩ thuật cao
cho CNXH đã đợc Đảng ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì
quá độ lên CNXH.Với đờng lối này , mặc chúng ta đã đề ra chủ trơng trú trọng
phát triển cộng nghiệp nhẹ và nông nghiệp , nhng trên thực tế , công nghiệp
nặng mà trọng tâm là ngành cơ khí chế tạo , luôn đợc coi là tiền đề thiết yếu
nhất của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.Hơn một phần t thế kỉ thực hiện
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa chúng ta đã mắc nhng sai lầm cả về nội
7
dung và cách tức tiến hành . Chúng ta đã không xuất phát từ đặc điểm , thực
trạng kinh tế - xã hội của đất nớc và bối cảnh quốc tế . Kết quả là : hiệu quả
của công nghiệp hoá rất thấp và trên nhiều lĩnh vực thậm chí không có hiệu
quả ; cùng tình hình đó , nông nghiệp và công nghiệp nhẹ hầu nh không có sự
phát triển , nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân không đáp ứng , đời
sống ngời lao động quá khó khăn. Nghiêm trọng hơn , nền kinh tế nớc ta đã
lâm vào tình trạng thiếu hụt mất cân đối một cách căn bản , chúng ta hầu nh
không có tích lũy và rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài.
Có thể nói chúng ta đã phải trả một giá đắt cho công nghiệp hoá
XHCN kiểu đó.Việc giờ dâu của chúng ta là phải từ bỏ một quan niệm không
đúng , thậm chí có thể nói là sai lầm , về CNH và cách thức tiến hành CNH
theo lối cũ , kém hiệu quả hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận tính tất yếu
khách quan của công nghiệp hoá .
Cả lý luận và thực tiễn dều chỉ ra rằng tiến trình phát triển đầy khó
khăn,thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế hiện đại
không thể không tiến hành CNH và cùng với CNH là HĐH.CNH phải gằn liền
với HĐH.CNH-HĐH thời đại ngày nay phải lấy giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ làm nền tảng và động lực . Hơn một trăm năm trớc đây , C.Mác
đã từng nói: Theo đà phát triển của đại công nghiệp , việc tạo ra của cải thực
sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lợng lao động và vào
số lợng lao động đã hao phí hơn là những tác nhân đợc đa vào vận động trong
suốt thời gian lao động và bản thân những tác nhân đến lợt mình (hiệu suất to
lớn của chúng) , lại tuyệt đối không tơng ứng với thời gian lao động trực tiếp
cần thiết để sản xuất ra chúng mà nói đúng hơn , chúng phụ thuộc vào trình độ
chung của khoa học và vào bớc tiến bộ của khoa học , hay là vào việc sử dụng
khoa học ấy vào sản xuất Đến một trình độ nào đó , tri thức xã hội phổ biến
8
biến thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nhận định dó của Mác ngày càng dợc
thực tiễn phát triển khoa học và công nghệ xác nhận là đúng .
Nhận thức rõ sự gắn kết giữa CNH-HĐH , tại hội nghị lần thứ bảy Ban
chấp hành Trung ơng khoá VII Đảng ta đã khẳng định : CNH-HĐH là quá
trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất , kinh doanh,
dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với cùng với công nghệ phơng
tiện và phơng pháp tiên tiến , hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ , tạo ra năng suất lao động cao.
Cũng có thể nói ,công nghiệp hoá,hiện đại hoá là qua trình xây dựng
một xã hội văn minh , cải biến căn bản các ngành kinh tế , các hoạt động xã
hội theo phong cách của nền công nghiệp hiện đại , tạo ra sự tăng trởng bền
vững , không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho ngời lao
động . Nó không chỉ thể hiện ra ở chỉ số khoa học - kĩ thuật - công nghệ hay
kinh tế-kĩ thuật , mà quan trọng hơn là đảm bảo cho xã hội phát triển nh một
chỉnh thể toàn vẹn (Kinh tế - xã hội , vật chất - tinh thần ) , tên cơ sở giữ gìn
và phát huy bản sắc dân tộc , vì tiến bộ xã hội và phát triển con ngời toàn
diện .
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá nguyên là hai quá trình nối tiếp , đan
xen nhau.Có thể hiểu hiện đại hoá nh quá trình chống lại sự tụt hậu trớc sự
bùng nổ của cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại đang diễn ra
trên thế giới . Nh vậy xét về mặt lịch sử thì qua trình CNH diễn ra trớc quá
trình HĐH . Tuy nhiên sự phân chia nay chỉ mang tính tơng đối , trên thực tế
luôn có sự gối đầu , đan xen , tác động qua lại giữa hai quá trình công nghiệp
hoá và hiện đại hoá.
2.2 Nội dung CNH-HĐH của nớc ta hiện nay
2.2.1: .Bối cảnh triển khai CNH-HĐH của nơc ta hiện nay.
9
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện thời , CNH gắn liền với HĐH đã
mở ra con đờng tắt rút ngắn khoảng cách giữa các nớc đang phát triển so với
các nớc tiên tiến.Đó chính là đặc điểm mới của CNH-HĐH .Thực tế lịch sử
cho thấy rằng , rất nhiều nớc và vùng lãnh thổ ở khu vực châu á nh Xingapo ,
Đài Loan , Hàn Quốc chỉ trong thời gian rất ngắn đã từ một nớc kém phát
triển trở thành một nớc công nghiệp mới (NIC) . Đó là những tấm gơng mà n-
ớc ta có thể học tập kinh nghiệm khi tiến hành CNH-HĐH đất nớc.
Việt Nam ta sau hơn 15 năm đổi mới , những thành tựu thu đợc trong
linh vực phát triển kinh tế-xã hội đều có sự góp phần quan trọng của CNH-
HĐH , tuy so với các nớc trong khu vực thì nền công nghiệp Việt Nam đang ở
trình độ thấp . Song, nhìn chung CNH-HĐH đã đã dẫn đến chỗ đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân đợc cải thiện , trình độ dân trí và mức hởng thụ
của nhân dân tăng . Sự nghiệp giáo dục,chăm sóc sức khoẻ,các hoạt động văn
hoá thể thao,nghệ thuật,phơng tiện thông tin đại chúng và nhiều hoạt động xã
hội khác,nh bảo vệ môi trờng,phòng chống các tệ nạn xã hội, chủ trơng đền ơn
đáp nghĩa đợc mở rộng . Từ đó lòng tin của nhân dân với sự lãnh đạo của
Đảng và chế độ XHCN ngày càng đợc củng cố vững chắc thêm.
Đại hội Đảng lần thứ IX đã tổng kết 15 năm tiến hành công cuộc đổi
mới , đánh giá những việc ta đã làm đợc cùng với nhmg việc ta cha làm đợc ,
rút ra những bài học kinh nghiệm để từ đó đề ra mục tiêu, phơng hớng cùng
với những giải pháp nhằm đẩy mạnh CNH-HĐH đất nớc đến những năm 2010
và 2020 . Đại hội đánh giá trong nhữnh năm qua , sự nghiệp CNH-HĐH đã
làm thay đổi bộ mặt của đất nớc và của nhân dân , củng cố vững chắc độc lập
dân tộc và chế độ XHCN , nâng cao vị thế và uy tín của nớc ta trên trờng quốc
tế ; song nền kinh tế nớc ta vẫn cha có sự phát triển vững chắc , hiệu quả và
sức cạnh tranh thấp , một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc, chính sách không
đồng bộ và cha tạo động mạnh để phát triển Trên cơ sở dánh giá đó , Đảng ta
10
khẳng định tiếp tục đờng lối đẩy mạnh CNH-HĐH , xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ để nhanh chóng đa nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
theo hớng hiện đại.
Nhận định xu thế phát triển của tình hình thế giới trong thế kỉ XXI .
Nghị quyết đại hội IX đã chỉ rõ : Thế kỉ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi.
Khoa học công nghệ sẽ có bớc tiến nhảy vọt . Kinh tế tri thức có vai trò ngày
càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lợng sản xuất .Toàn cầu hoá kinh
tế là một xu thế khách quan chứa đựng nhiều mâu thuẫn , vừa có mặt tích
cực vừa có mặt tiêu cực , vừa có hợp tác vừa có đấu tranh Những nét mới
ấy trong tinh hình thế giới và khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nớc ta
. Trớc mắt nhân dân ta có cả cơ hội lớn và thách thức lớn.
Đảng ta đã xác định nớc ta tiến hành đẩy mạnh CNH-HĐH có cả
Thuận và khó khăn , thời cơ và nguy cơ đan xen lẫn nhau . Chúng phải chủ
động nắm thời cơ , vơn lên phát triển nhanh và vững chắc , tạo ra thế và lực
mới ; đồng thời luôn tỉnh táo kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ , kể
cả nguy cơ mới nảy sinh , bảo đảm phát triển đúng hớng .Việc Nắm bắt cơ
hội , vợt qua thử thách , phát triển mạnh mẽ trong thời kì mới , đó là vấn đề có
ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta.
Nh vậy có thể nói , sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc đang đợc triển khai ở
Việt Nam ta trong một bối cảnh mà thuận lợi và thời cơ là lớn , song cũng
không ít khó khăn phức tạp , thậm chí có cả những nguy cơ , thách thức ở mức
độ gay gắt .
Một số thuận lợi và thời cơ lớn đó thể hiện ở những điểm sau :
- Chúng ta tiến hành CNH-HĐH trong bối cảnh cách mạng khoa học và
công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao .
- Xu thế chung của hầu hết các nớc trên thế giới là hoà bình ổn định và
hợp tác để cùng nhau phát triển . Trong những năm gần đây , nhiều quốc
11
- gia u tiên phát triển kinh tế , và do vậy , ngày càng tham gia nhiều vào
quá trình liên doanh , liên kết , hợp tác song phơng , đa phơng , khu vực
và quốc tế Đây là điều kiện thuận để các dân tộc xích lại gần nhau ,
trao đổi , học tập và giúp đỡ lẫn nhau
- 15 năm đổi mới đã làm thay đổi bộ mặt đất nớc và cuộc sống của nhân
dân , nền độc lập dân tộc và chế xã hội chủ nghĩa đợc củng cố vững chắc
, vị thế và uy tín của nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao .Đó chính là
tiền đề đặc biệt quan trọng để nớc ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới
- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc .
- Chúng ta phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN . Cùng với đó
chúng ta thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực , nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế , bảo đảm dân tộc tự chủ và định hớng XHCN , bảo vệ lợi ích
dân tộc , an ninh quốc gia , giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc , bảo vệ môi
trờng.Chính điều này đã và đang khơi dậy, thu hút những nguồn lực
lớn cho sự phát triển .
- Nớc ta có nguồn đất đai , tài nguyên thiên nhiên phong phú , đặc biệt
chúng ta có lực lợng lao động dồi dào với cơ cấu khá trẻ . Hơn nữa
chúng ta đợc thừa kế đợc những kinh nghiệm CNH-HĐH của những nớc
đi trớc , cùng với kinh nghiệm đổi mới đất nớc ta.
Tuy nhiên sự nghiệp CNH-HĐH ở nớc ta hiện nay không chỉ có những
thuận lợi và thời cơ lớn mà còn có cả nhữnh khó khăn , phức tạp và những
nguy cơ thách thức gay gắt. Những khó khăn , phức tạp , những nguy cơ, thách
thức này đợc thể hiện tập trung trong những vấn đề sau :
- Nớc ta vừa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội , nhng một số mặt
còn cha vững chắc . Cho đến nay nớc ta vẫn là một trong những nớc nghèo
12
nhất trên thế giới , trình độ phát triển kinh tế , năng suất lao động ,hiệu quả
sản xuất kinh doanh thấp , cơ sở vật chất - kỹ thuật còn lạc hậu
- Những hậu quả của cơ chế quản lý theo lối mệnh lệnh , tập trung bao
cấp còn rơi rớt (quan liêu , cửa quyền , thủ tục hành chính rờm rà )lại
cùng với những tiêu cực mới phát sinh trong nền kinh tế thị trờng (sùng bái
lợi ích cá nhân , sùng bái đồng tiền ,tham nhũng ,các tệ nạn xã hội ).
- Còn nhiều thế lực sử dụng những chiêu bài dân chủ nhân quyền
để mu toan thực hiện diễn biến hoà bình nhằm xoá bỏ những thành quả
cách mạng của Đảng và dân tộc ta.
Trình độ văn hoá chung , trình độ tri thức về khoa họcvà cộng nghệ ,về
chính trị và xã hội , luật pháp , tổ chức quản lý của đa số cán bộ , Đảng
viên và nhân dân ta còn khá thấp so với các nớc trong khu vực và còn xa
mới đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của đất nớc.
Nh vậy có thể khẳng định sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH ở nớc ta hiện
nay đợc triển khai trong bối cảnh khá phức tạp : thuận lợi và khó khăn, thời cơ
và nguy cơ đan xen lẫn nhau .Do vậy , cùng với việc khẳng định tính tất yếu
khách quan của CNH-HĐH việc nhận rõ những điều kiện thuận lợi ,thời cơ và
những khó khăn phức tạp , đặc biệt là những nguy cơ thách thức có ý nghĩa lý
luận và phơng pháp luận đặc biệt quan trọng không chỉ trong việc hoạch định
chiến lợc , mục tiêu , nội dung và phơng pháp tiến hành sự nghiệp đẩy mạnh
CNH-HĐH mà có tác dụng thiết thực trong việc xây dựng , phát triển nguồn
nhân lực , củng cố quyết tâm chủ động nắm thời cơ ,vơn lên phát triển nhanh
và vững chắc , tạo thế và lực mới , đồng thời luôn tỉnh táo kiên quyết đẩy lùi
khắc phục các nguy cơ , kể cả nhữnh nguy cơ mới nảy sinh , đảm bảo phát
triển đúng định hớng XHCN.
2.3. Nội dung của CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay .
13
2.3.1 Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá : kết hợp công nghệ
truyền thống với công nghệ hiện đại , tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hoá ở
những khâu quyết định.
Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang có
những bớc phát triển nhanh chóng và xu thế quốc tế hoá kinh tế hiện nay ,
công nghiệp hoá nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hoá .Thực chất của quá
trình hiện đại hoá nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ trên thế
giới. Tuy nhiên ,quá trình này khi thực hiện ở nớc ta sẽ gặp phải một nghịch lý
. Một mặt , nếu không kịp thời sử dụng các công nghệ hiện đại để nhanh
chóng hiện đại hoá nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu xa hơn sẽ tăng lên . Mặt
khác , nếu dồn tất cả mọi sự đầu t cho việc trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện
đại thì lại có nguy cơ không phù hợp điều kiện hiện có , lãng phí nhiều tiềm
năng và nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc .Để khắc phục nghịch lý này ,
trong quá trình CNH-HĐH chúng ta cần áp dụng nhiều trình độ kĩ thuật và
công nghệ mà các nớc đi trớc đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau .Chỉ
nh vậy , chúng ta mới có thể từng bớc hiện đại hoá nền kinh tế , vừa khai thác
đợc các nguồn lực đất nớc .
Nớc ta hiện nay thiếu vốn , d thừa lao động và mặt hàng có chất lợng
lao động còn thấp thì chúng ta không thể đi ngay vào trình độ cao nhất của kĩ
thuật và công nghệ trên quy mô toàn xã hội . Nhng đối với các ngành mũi
nhọn , những lĩnh vực cần u tiên phát triển , những công đoạn quan trọng mà
điều kiện cho phép thì cần áp dụng ngay trình độ hiện đại , thực hiện đi tắt
đón đầu để tạo bớc nhảy vọt trong tiến trình phát triển lực lợng sản xuất .Nói
cụ thể hơn , con đờng CNH-HĐH nền kinh tế phải kết hợp giữa nhảy vọt từ
thủ công lên hiện đại , với bớc đi tuần tự thủ công , nửa cơ khí , cơ khí , tự
động hoá .v.v Đồng thời phát huy đẩy đủ tính u việt của công nghệ truyền
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét