4.5.2. Diễn biến bệnh HRGMĐ trên một số giống lạc phổ biến trong
sản suất khu vực Hà Nội - vụ xuân 2004 68
4.4.3. Tình hình bệnh HRGMĐ hại lạc ở một số vùng sinh thái
thuộc miền Bắc Việt Nam vụ xuân 2004 70
4.6. Nghiên cứu khả năng phòng trừ nấm A. niger gây bệnh HRGMĐ lạc 72
4.6.1. Nghiên cứu khả năng phòng trừ nấm A. niger bằng biện
pháp xử lý hạt giống 72
4.6.1.1. Nghiên cứu ảnh hởng của một số thuốc xử lý hạt giống
lạc đến sức nảy mầm của hạt 72
4.6.1.2. ảnh hởng của một số thuốc hoá học dùng xử lý hạt đến
mức nhiễm nấm A. niger trên hạt giống lạc 74
4.6.2. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ nấm A. niger bằng chế phẩm
sinh học Trichoderma spp. trên môi trờng PGA 76
5. Kết luận và đề nghị 79
5
Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogeae L.) thuộc cây họ đậu có nguồn gốc ở Nam
Mỹ, đợc trồng ở trên 100 quốc gia thuộc cả 6 châu lục. Lạc là cây trồng có
giá trị dinh dỡng và kinh tế cao, là cây công nghiệp đứng thứ 2 trong các cây
lấy dầu thực vật (xét cả về diện tích gieo trồng và sản lợng). Sản phẩm chế
biến từ lạc rất đa dạng trong đó chủ yếu là từ hạt. Hạt lạc chứa khoảng 50%
lipít và 25% protein, là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế
biến dầu và khô dầu (D. J. Allen and J. M. Lenné (1998)[40]).
Do cây lạc phù hợp và thích ứng nhanh với điều kiện nhiệt đới, á nhiệt
đới, các vùng có khí hậu ẩm nên hiện nay, nó đợc trồng chủ yếu ở các vùng
á - Phi nh ấn Độ, Trung Quốc, Senegal, Indonexia, Malaysia, Nigeria,
Myanma, v v. Tuy nhiên, khoảng 70% tổng sản lợng lạc toàn thế giới chỉ tập
trung ở ba quốc gia là ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ (N. Kokalis-Burelle[54]).
ở Việt Nam, cha có tài liệu xác minh cụ thể cây lạc đợc du nhập vào
từ bao giờ nhng theo một số tài liệu cổ thì cây lạc đợc du nhập vào từ Trung
Quốc. Ngày nay, lạc là một trong những cây đậu đỗ quan trọng, đợc trồng
rộng khắp trong nớc với diện tích xấp xỉ 250.000 ha, chiếm khoảng 39%
tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm, sản lợng trên 350.000 tấn/ha (Niên
giám thống kê 2001[24]).
Cũng giống nh những cây trồng khác, sản xuất lạc gặp nhiều khó
khăn, một trong những nguyên nhân chính là do bệnh hại. Các kết quả nghiên
cứu trớc đây đều khẳng định: bệnh hại là một trong những nguyên nhân
chính làm giảm năng suất và phẩm chất lạc.
Theo [40][54]: bệnh hại lạc do rất nhiều loài nấm, vi khuẩn,
phytoplasma, hơn 20 loài virus và ít nhất 100 loài tuyến trùng trong đó chiếm
đa số và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất là nhóm bệnh nấm.
6
Một trong những nguồn bệnh hại quan trọng trên lạc phải kể đến là bệnh
truyền qua hạt giống. Theo thống kê chung, thiệt hại do bệnh truyền qua hạt đối
với sản xuất lơng thực trên thế giới ớc tính khoảng 12% tổng sản lợng, tơng
đơng với 550 triệu tấn mỗi năm (V. K. Agarwal and Jame B. Sinclair[62]).
Nấm Aspergillus niger là một trong những loài nấm gây hại quan trọng
trên hạt, thiệt hại do nấm này gây ra biến động và rất khó đánh giá. Theo các
kết quả nghiên cứu [54][56][59]: thiệt hại về sản lợng trên lạc do nấm
Aspergillus niger gây ra cá biệt tới 50%. Trên hạt lạc, tỉ lệ nhiễm nấm
Aspergillus niger có thể tới 90%. Bệnh gây hại nặng ở giai đoạn mầm và giai
đoạn cây con. Theo R. J. Hillocks [59]: khi nhiễm bệnh trong khoảng dới 50
ngày sau gieo gây thiệt hại rất nghiêm trọng, tỉ lệ chết có thể lên tới 40% số
cây trồng.
ở nớc ta hiện nay, với sự gia tăng về diện tích trồng và việc áp dụng
hàng loạt các biện pháp thâm canh đã làm phát sinh, phát triển nhiều loại bệnh
hại. Bệnh héo rũ gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger trên lạc là một trong
những bệnh phổ biến và đáng chú ý ở nhiều vùng trồng lạc. Theo [8][10]:
bệnh héo rũ gốc mốc đen là một trong những bệnh gây hại phổ biến ở hầu
khắp các vùng trồng lạc ở miền Bắc nh Hà Nội, Bắc Giang, Vĩnh Phúc,
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,v.v.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về bệnh do nấm Aspergillus niger gây ra
còn ít và mới mẻ. Để góp phần đánh giá về bệnh hại hạt lạc nói chung và bệnh
héo rũ gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger gây ra trên lạc nói riêng, đợc
sự phân công của Bộ môn Bệnh cây khoa Nông học, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài :
Điều tra thành phần bệnh nấm hại hạt giống lạc, nghiên cứu bệnh héo rũ gốc
mốc đen (Aspergillus niger) hại lạc vùng Hà Nội và phụ cận vụ xuân 2004.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
7
1.2.1. Mục đích của đề tài
- Điều tra, giám định thành phần bệnh nấm hại hạt giống lạc thu thập tại vùng
Hà Nội và phụ cận.
- Điều tra mức độ gây hại, nghiên cứu đặc điểm phát sinh phát triển của nấm
Aspergillus niger (A. niger) gây bệnh héo rũ mốc gốc đen hại lạc và khảo sát
biện pháp phòng trừ.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Giám định, phân loại thành phần nấm gây hại chủ yếu trên mẫu hạt giống
lạc vụ xuân 2003 thu thập tại vùng Hà Nội và một số vùng sinh thái ở miền
Bắc Việt Nam.
- Đánh giá vị trí tồn tại, mức độ ảnh hởng đến sức nảy mầm của hạt giống
lạc và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm A. niger.
- Tìm hiểu khả năng hạn chế nấm A. niger trên hạt bằng biện pháp dùng
thuốc hoá học xử lý hạt giống, kiểm tra khả năng ức chế của nấm đối kháng
với nấm A. niger trên môi trờng nuôi cấy.
- Điều tra diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc trong vụ xuân 2004 ở
vùng Hà Nội và phụ cận.
- Tìm hiểu mức độ nhiễm bệnh héo rũ gốc mốc đen trên một số giống lạc
mới khảo nghiệm và trên một số giống lạc trong sản xuất đại trà.
8
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nớc
2.1.1. Nghiên cứu thành phần bệnh trên hạt giống lạc
Bệnh hại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng
suất lạc. Theo [40][54]: bệnh hại lạc do một số lợng lớn các loài nấm, vi
khuẩn, phytoplasma, hơn 20 loài virus và ít nhất 100 loài tuyến trùng, trong
đó nhóm bệnh nấm hại lạc chiếm đa số và gây thiệt hại nguy hiểm nhất.
Cũng vẫn dẫn theo [40]: có khoảng 40 loại bệnh hại lạc đáng chú ý
đóng vai trò quan trọng trên thế giới chia ra làm 5 nhóm bệnh hại. Nhóm một
là nhóm bệnh hại trên hạt và trên cây mầm, nhóm này rất phổ biến và quan
trọng. Nhóm 2 là nhóm gây chết héo, nhóm này cũng rất phổ biến và gây thiệt
hại nghiêm trọng trên toàn thế giới. Nhóm 3 là nhóm gây thối thân và rễ,
nhóm này thờng phổ biến nhng chỉ hại cục bộ. Nhóm 4 là nhóm gây thối
củ, nhóm này thờng phổ biến cục bộ ở một số vùng và là bệnh thứ yếu.
Nhóm 5 là nhóm gây bệnh trên lá gồm rất nhiều loài tuy nhiên chỉ một số loài
gây hại phổ biến và quan trọng.
Lịch sử nghiên cứu bệnh hại hạt giống phát triển sớm gắn liền với lịch
sử nghiên cứu bệnh cây. Từ những năm 1755 nhà thực vật học ngời Pháp
Tillet đã chứng minh rằng bệnh than đen lúa mì có liên quan đến lớp bột phấn
đen trên bề mặt hạt.
Cùng với sự phát triển của công tác kiểm nghiệm và kiểm tra sức khoẻ
hạt giống, bệnh hại hạt giống ngày càng đợc chú trọng ở hầu khắp các nớc
trên thế giới.
Trong các bệnh truyền qua hạt giống, nhóm bệnh nấm chiếm đa số đặc
biệt là ở những vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo M.J.Richarson,
1990 [53]: có khoảng 29 loại bệnh hại truyền qua hạt lạc trong đó nấm bệnh
9
hại chiếm khoảng 17 loại. Các loại nấm hại hạt đó đầu tiên phải kể đến
Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Sclerotium rolfsii, Botrytis sp., Diplodia
sp., Fusarium spp., Macrophoma phaseolina, Mycosphaerella arachidis,
Mycosphaerella berkeleyi , Puccinia arachidis, Rhizoctonia spp., .v.v. Trong đó
riêng loại Fusarium spp. đã ghi nhận đợc 12 loài. Các loại nấm gây hại trên
thờng gây hại đồng thời hay cùng kết hợp gây hại trên hạt. Có những loài không
chỉ gây hại trên hạt giống mà còn truyền qua hạt giống gây hại cho cây con.
Phần lớn các loài nấm bệnh trên hạt giống thuộc các nhóm bán ký sinh
và bán hoại sinh, một số ít trong chúng là ký sinh chuyên tính. Nhiều loài nấm
trong số chúng còn có khả năng sản sinh độc tố mà tiêu biểu và quan trọng
nhất trong số đó là nhóm các loại nấm Aspergillus spp., Fusarium spp. và
Penicillium spp ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, số lợng các loài
trong 3 nhóm trên không chỉ giới hạn xuất hiện trên lơng thực dạng hạt mà
còn trên cả các sản phẩm chế biến từ hạt. Hiện tại đã xác định và mô tả đợc
khoảng 15 loài Aspergillus, 9 loài Fusarium và 18 loài Penicillium có khả
năng sản sinh độc tố và những hợp chất thứ cấp khác. Khi dùng phơng pháp
agar plug và phơng pháp HPLC ngời ta đã xác định đợc 74 loại độc tố sản
sinh từ 3 nhóm loài trên (Kulwant Singh, 1991[51]).
Đánh giá đợc mức độ nguy hiểm trên hạt nhng điều thật sự khó khăn
trong phòng trừ nấm bệnh hại hạt là rất nhiều loài trong số chúng thuộc nhóm
nấm đất gây hại đặc biệt phổ biến trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Trong nhóm loài Aspergillus, một loại nấm gây hại trên hạt điển
hình nhng lại c trú rất phổ biến trong đất là nấm Aspergillus niger
.
2.1.2. Nghiên cứu về nấm Aspergillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc
2.1.2.1. Tính phổ biến và tác hại của nấm A. niger
Nấm A. niger là loài nấm đất gây bệnh héo rũ trên lạc đồng thời là loài
nấm hại hạt điển hình (John Damicone, 1999[50]). Trên thế giới, đã có rất
10
nhiều những nghiên cứu vế nấm A. niger, ngời ta đã phân lập đợc 37 loài
gây hại trên thực vật. một số tác giả [34][53] cho biết: nấm A. niger không
chỉ gây hại trên cây trồng mà chúng còn đợc quan tâm nh là một nguyên
nhân gây bệnh cho ngời và động vật. Ngoài ra, chúng còn đợc sử dụng
nh là một nguồn vi sinh vật cho sản xuất một số loại enzim của ngành
công nghệ chế biến.
Bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc đợc báo cáo chính thức lần đầu tiên
vào năm 1926 ở Sumatra và Java (D.J. Allen and J.M. Lenné, 1998[40],
N.Kokalis- Burelle, 1997[54]). Thực tế tác nhân gây bệnh đã đợc ghi nhận
từ năm 1920, gây nên biến màu vỏ và hạt lạc. ở châu á, theo [37]: bệnh đợc
ghi nhận đầu tiên tại Andhara Pradesh năm 1980.
Bệnh thối gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger đến nay vẫn là một
bệnh quan trọng đợc công nhận ở hầu hết các vùng trồng lạc chính trên thế
giới. Theo nhận định của một số tác giả [40][50][54]: thiệt hại về năng suất và
sản lợng do bệnh héo rũ gốc mốc đen thay đổi và khó đánh giá, thiệt hại về
sản lợng cá biệt lên tới 50% nhng thờng dao động ở mức trên dới 1%.
Theo kết quả nghiên cứu của [55][59]: thiệt hại về năng suất lạc đã
đợc ghi nhận cụ thể ở Malawi, Senegal, Sudan, Niger,.v v. ở ấn Độ, bệnh
héo rũ gốc mốc đen là một trong những nhân tố quan trọng gây nên năng suất
thấp với tỉ lệ nhiễm khoảng từ 5 - 10%. Nếu nhiễm trong khoảng 50 ngày sau
gieo sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể gây chết tới 40% số cây. ở Mỹ,
bệnh héo rũ gốc mốc đen ngày càng trở nên quan trọng từ đầu những năm
1970 khi việc xử lý hạt bằng thuốc có chứa thuỷ ngân bị cấm và nó đã trở
thành một vấn để ở Florida đầu những năm 1980.
Nghiên cứu của [64] cho biết: nấm dễ dàng truyền từ hạt sang cây trong điều
kiện nóng ẩm, độc tố do nó sản sinh gây ảnh hởng tới sinh trởng của cây
nh rễ quăn xoắn, biến dạng ngọn. Cây bị nhiễm bệnh có thể sống sót, sinh củ
nhng khi bị nhiễm nặng có thể chết hoặc trở nên bị nặng hơn cho tới cuối vụ
11
và hạt của nó có thể bị nhiễm bởi một loài nấm khác, kết quả là ngay cả các
axít béo tự do trong hạt cũng chứa độc tố (D.J. Allen and J.M. Lenné,
1998[40]).
Là loài nấm c trú phổ biến trong đất, là một tác nhân gây bệnh cơ hội,
phá hoại và phát triển trên tế bào sống, gây bệnh thối gốc mốc đen ở lạc và
gây bệnh trên nhiều cây trồng khác, có thể gây bệnh cho ngời và động vật,
tên thờng gọi là Aspergillus niger Tiegh.
Những tên gọi phổ biến theo triệu chứng bệnh nh bệnh thối vòng, thối cổ rễ,
thối gốc mốc đen. Nhng để thống nhất trong toàn bộ tổng quan tài liệu
nghiên cứu, chúng tôi gọi là bệnh héo rũ gốc mốc đen.
2.1.2.2. Phân bố và phạm vi ký chủ của nấm A. niger
Phân bố: nấm A. niger bố rộng khắp trên thế giới. Theo [37][59]: nó
xuất hiện ở trên 100 nớc thuộc khắp các châu lục, đặc biệt là ở Australia,
Iran, ấn Độ, Sudan, Nam Mỹ,v.v.
Phạm vi ký chủ: nấm A. niger gây hại trên rất nhiều họ thực vật trong
đó khoảng trên 90 cây trồng và trên 11 ký chủ dại. Ký chủ chính trên khoảng
10 họ thực vật trên nhiều cây trồng, trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến lạc,
ngô, hành tỏi, xoài, đậu đỗ, điều,v.v.
2.1.2.3. Đặc điểm sinh học, sinh thái học của nấm A. niger
Nấm A. niger hại trên lạc gây nên thối hạt, thối mầm và chết héo ở các giai
đoạn sau (D.J. Allen, 1998[40]). Theo [37]: dạng tồn tại của nấm A. niger
(chủ yếu là bào tử) phổ biến ở trong hệ nấm đất và hệ nấm không khí của
những vùng khí hậu nóng. Vì vậy, giai đoạn mầm có thể bị nhiễm từ đất, từ
không khí hoặc từ nguồn bệnh ban đầu trên hạt.
Nghiên cứu của Gary J. Griffin [44] cho biết: dễ dàng tìm đợc nấm A.
niger trong vùng rễ của lạc và trên cánh đồng trồng lạc, mầm bệnh của nấm A.
niger ngay sau vụ lạc trong 1g đất dao động có từ 6 1.3 bào tử.
Các tác giả [42][46] nhận định: nấm A. niger không phổ biến ở vùng khí hậu
12
ôn đới, bào tử của nó có nhiều trong không khí ở những vùng nóng nh ấn
Độ. Theo [37]: sự gia tăng mầm bệnh nấm A. niger khi có ma kéo dài do sự
tập trung bào tử nấm tăng trong thời kỳ khô nóng và bị rửa trôi xuống theo
nớc ma, tuy nhiên sức sống của mầm bệnh sẽ giảm khi lợng ma tăng. Khi
mầm bệnh trong không khí của nấm A. niger tiếp xúc đợc với tán cây, tế bào
cây cũng có thể bị nhiễm nếu điều kiện phù hợp xuất hiện nh tế bào bị tổn
thơng, nhiệt độ và ẩm độ cao.
Dù nớc không bắt buộc cho sự nảy mầm của bào tử nấm A. niger
nhng độ ẩm tới hạn là cần thiết. Độ ẩm yêu cầu cho bào tử nảy mầm thay đổi
theo nhiệt độ nhng độ ẩm thích hợp cho bào tử nảy mầm là 93% và nhiệt độ
dới 40
0
C. Nếu độ ẩm 100% thì sự nảy mầm thích hợp nhất ở 30
0
C. Khi bào
tử bắt đầu nảy mầm, chúng đặc biệt mẫm cảm với sự thay đổi điều kiện sinh
thái đặc biệt là yếu tố nhiệt độ. Tỷ lệ bào tử nảy mầm là rất quan trọng cho sự
xâm nhiễm của bệnh lên cây sau này. Trong điều kiện invitro, khoảng 90%
bào tử nảy mầm trong vài giờ ở 30 - 34
0
C. Bào tử có thể duy trì đợc ở 47
0
C
và nảy mầm ở RH < 70% nhng tỉ lệ nảy mầm rất thấp. Sự nảy mầm của bào
tử cũng đã đợc phát hiện sau 15 giờ ở độ ẩm đợc duy trì ở 78- 81% nhng
thờng bào tử nảy mầm chỉ sau vài giờ ở điều kiện ẩm độ cao (Compendium
of Crop Protection 2001[37]). Vì vậy, theo [40][59]: ở những vùng khí hậu
nóng, ẩm nh vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là thích hợp cho sự nảy mầm
của bào tử hơn là những vùng khí hậu ôn đới.
Tản nấm phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 32.5 37.5
0
C trên môi
trờng nuôi cấy axenic. Tản nấm hầu nh không phát triển ở nhiệt độ dới
10
0
C và trên 45
0
C khi ủ trên môi trờng agar, bào tử sẽ hình thành nhiều khi
cấy trên môi trờng axenic ở 20 35
0
C. Bào tử hình thành ít hoặc không xuất
hiện cho tản nấm phát triển ở nhiệt độ 15
0
C và 40
0
C (Compendium of Crop
Protection 2001)[37].
Rất nhiều nghiên cứu về ảnh hởng của pH đến sự nảy mầm của bào tử
13
nấm A. niger. Theo [37]: có nghiên cứu đã xác định pH = 4 là thích hợp nhất
cho bào tử nảy mầm, nhng có nghiên cứu lại xác định pH thích hợp nhất cho
bảo tử nảy mầm là ở pH= 6.2 với giá trị pH cực đại là pH = 7. Tuy nhiên,
nhiều kết quả thực nghiệm sau này của các nhà nghiên cứu Ai Cập đều đa
đến kết luận: pH thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử là từ pH = 4.1- 4.5 và
hoàn toàn bị ức chế ở pH = 3.5.
Kết quả [56] cho biết: dạng hạch nấm A. niger có thể xuất hiện khi
không có mặt của hợp chất hữu cơ trong một thời gian dài và bào tử có thể bảo
tồn sức sống từ 1- 2 năm.
2.1.2.4. Đặc điểm phát sinh phát triển của nấm A. niger
Nấm A. niger phân bố rộng khắp trên thế giới. Tốc độ sinh trởng của
nấm A. niger nhanh, sự phát triển và hình thành bào tử của nấm thích hợp
trong điều kiện nóng ẩm do đó khi gặp điều kiện thuận lợi chỉ một lợng nhỏ
nguồn lây nhiễm cũng có thể phát triển sự gây nhiễm nghiêm trọng. Theo
[54][59]: mầm bệnh của A. niger đợc tìm thấy ở đất ẩm nhiều hơn là ở đất
khô và nó có khả năng chịu đợc điều kiện đất có độ ẩm thấp. Theo kết quả
của [56]: đất ớt dễ dàng cho nấm gây thối hạt ở cuối vụ trong khi điều kiện
đất khô, khí hậu nóng tạo điều kiện thuận lợi cho thối mầm và thối sau giai
đoạn mầm.
Kết quả nghiên cứu của [44][54] cho rằng: thành phần cơ giới của đất ít
liên quan đến sự tồn tại nhiều hay ít của mầm bệnh nấm A. niger trong đất
nhng nó lại dễ tìm thấy trên đất cát có hàm lợng chất hữu cơ thấp. Đây là
kết quả khá bất ngờ vì A. niger là nấm hoại sinh và những nghiên cứu trớc đó
đều khẳng định nó có nhiều ở đất có hàm lợng chất hữu cơ cao. Còn theo
R.J. Hillocks, 1997[59]: nấm A. niger có thể tìm thấy đợc ở tất cả các loại
đất vùng nhiệt đới.
Nấm A. niger là nấm gây hại trên hạt. Theo [37]: A. niger đã đợc tìm
thấy trên rất nhiều loại hạt cây trồng nh ngô, lúa, cao lơng,v.v. nhng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét