a. Đã đẩy nhanh quá trình phân hoá giai cấp trong xã hội:
* Giai cấp địa chủ phong kiến:
Nhìn chung đã phản bội quyền lợi của dân tộc làm tay sai cho đế quốc,
một số ít đợc thực dân Pháp dung dỡng, ra sức bóc lột và cớp đoạt ruộng đất của
nông dân, đã vơn lên trở thành đại địa chủ, làm tay sai đắc lực cho Pháp. Bộ
phận còn lại phần lớn là địa chủ vừa và nhỏ, do bị va chạm về quyền lợi cho nên
ít nhiều có khả năng đứng về phía nhân dân để chống đế quốc, tán thành độc lập
dân tộc.
* Giai cấp nông dân:
Là đối tợng bóc lột chủ yếu của đế quốc và phong kiến, họ bị su cao, thuế
nặng và bị chiếm đoạt ruộng đất cho nên họ rơi vào cảnh bần cùng hoá, phá sản
nhng không có lối thoát, một số ít nông dân sau khi mất ruộng đất họ phải bán
sức lao động làm thuê cho bọn chủ t bản và trở thành công nhân, nông dân
chiếm đa số chiếm trên (90%), họ có truyền thống yêu nớc, bất khuất rất tha
thiết với độclập tự do thống nhất đất nớc.
Do đó công nhân Việt Nam là một trong hai động lực chủ yếu của
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nớc ta Một số giai cấp mới ra đời
và phát triển:
- T sản Việt nam: Trớc chiến tranh thế giới lần 1 là tầng lớp nhỏ bé, họ
kinh doanh lẻ tẻ trong một số ngành nh dịch vụ.
Sau chiến tranh nhân đà làm ăn thuận lợi trong chiến tranh do sự cạnh
tranh của thực dân Pháp có phần lới lỏng, nhân đà đó t sản Việt Nam đẩy mạnh
kinh doanh muốn vơn lên giành lấy địa vị khá hơn trong nền kinh tế, một số nhà
t sản Việt Nam bỏ vốn lập đồn điền. Một số khác hùn vốn với t bản Pháp để khai
mỏ. Một số ít nữa mạnh dạn bỏ vốn ra lập ngân hàng.
Trên đà phát triển đó, giai cấp t sản Việt Nam ra đời vào khoảng năm
1924. Vì ra đời và lớn lên ở một số nớc thuộc địa lại bị t bản nớc ngoài chèn ép,
5
cho nên khi phát triển đến một mức nhất định, t sản Việt Nam bị phân hoá thành
2 bộ phận khác nhau:
+ T sản mại bản: có quyền lợi gắn liền với đế quốc làm tay sai cho đế
quốc.
+ T sản dân tộc: vừa mới ra đời đã bị đế quốc chèn ép và phong kiến kìm
hãm, cho nên thế lực kinh tế của họ rất nhỏ bé (toàn bộ số vốn của t sản Việt
Nam chỉ bằng 50% số vốn của t bản nớc ngoài).
Trong điều kiện đó t sản dân tộc Việt Nam mang tính hai mặt:
+ Mặt tích cực: ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ, chống đế
quốc và phong kiến.
+ Mặt tiêu cực: thờng có xu hớng cải lơng và thoả hiệp.
Do vậy, t sản dân tộc Việt Nam không có khả năng lãnh đạo phát triển
dân tộc ở nớc ta, họ là 1 trong 4 lực lợng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
Việt Nam.
+ Giai cấp tiểu t sản Việt nam:
Ra đời cùng với giai cấp t sản, phát triển về số lợng. Gồm nhiều tầng lớp
khác nhau, sống chủ yếu ở các thành thị. Phần đông giai cấp TTSVN nhiều nhất
là tầng lớp trí thức bị bọn đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột và khinh rẻ, họ
có tinh thần yêu nớc, rất hăng hái tham gia cách mạng. Là một ngời bạn đồng
minh rất đáng tin cậy của công nhân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở n-
ớc ta.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam:
Ra đời từ trớc chiến tranh thế giới lần 1, họ là sản phẩm trực tiếp của quá
trình thực dân Pháp xâm lợc và khai thác ở Đông Dơng.
Sau chiến tranh giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lợng, vào
khoảng năm 1919 công nhân Việt Nam có khoảng 10 vạn ngời, đến năm 1929
tăng lên 22 vạn ngời, không kể 3 vạn công nhân Việt Nam làm thuê cho các chủ
t bản, Hoa kiều, T sản bản xứ.
6
Mặc dù còn ít và non trẻ nhng công nhân Việt Nam mang đầy đủ những
đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế:
+ Đại diện cho một phơng thức sản xuất tiên tiến nhất trong xã hội, vì thế
họ có khả năng nhận đợc quy luật phát triển khách quan của xã hội.
+ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết.
+ Công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
Ngoài ra còn có đặc điểm riêng:
+ Họ có quan hệ rất mật thiết với nông dân, họ dễ dàng liên minh với
nông dân để cùng đấu tranh chống kẻ thù chung.
+ Công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức bóc lột nặng nề (đế quốc, phong
kiến, t sản bản xứ).
+ Vừa ra đời công nhân Việt Nam đã đợc thừa hởng truyền thống yêu nớc
bất khuất của dân tộc.
+ Không có tầng lớp công nhân quý tộc, cho nên họ không bị ảnh hởng
của chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, mặt khác vì ra đời và lớn lên vào lúc chủ
nghĩa t bản thế giới đang suy yếu và chủ nghĩa xã hội đã đợc xác lập.
Do vậy công nhân Việt Nam dễ dàng tiếp thu lý luận cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Tất cả những đặc điểm về kinh tế, chính trị và lịch sử trên đây đã làm cho
công nhân Việt Nam sớm trở thành một giai cấp duy nhất có khả năng đảm nhận
vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc ở Việt Nam.
b. Xã hội Việt Nam thực sự trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến.
Trong xã hội có 2 mâu thuẫn cơ bản:
+ Toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lợc và tay sai.
+ Toàn thể nhân dân trớc hết chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ
phong kiến.
Trong đó mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm l-
ợc đây là mâu thuẫn chủ yếu nhất.
7
Để giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội, cách mạng Việt Nam phải thực
hiện đồng thời 2 chiến lợc:
+ Chống đế quốc giành độc lập dân tộc.
+ Chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày.
Hai nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau, vì đế quốc và
phong kiến gắn kết chặt chẽ với nhau.
- Muốn giải quyết thành công cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam phải
có sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp dân tộc (công nhân, nông dân, tiểu t
sản, t sản dân tộc) do công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó.
Bài 2
Cuộc vận động thành lập đảng (1920 - 1930).
I. Phong trào yêu nớc.
* Sau thất bại của phong trào Cần Vơng (1885 - 1896), phong trào yêu n-
ớc vẫn tiếp diễn nhng theo hớng dân chủ t sản, điển hình là phong trào Đông Du
(1905 - 1908), phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), Cuộc vận động Duy
Tân (1908).
* Sau chiến tranh thế giới lần 1, do ảnh hởng của cuộc khai thác thuộc địa
lần 2 của Pháp ở Đông Dơng, cùng với sự phân hoá giai cấp ngày càng sâu sắc,
mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam càng trở nên gay gắt, đây là một trong những
8
nguyên nhân dẫn đến phong trào ngày càng sâu rộng, lôi cuốn nhiều tầng lớp
nhân dân tham gia, phong trào này 2 giai cấp t sản dân tộc và tiểu t sản có những
đóng góp đáng kể.
Do bị t bản nớc ngoài chèn ép, giai cấp t sản dân tộc Việt Nam đã tổ chức
các phong trào đấu tranh:
+ 1919 họ tổ chức chân hng nội hoá, bài trừ hàng nớc ngoài nh ở một số
thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn đã diến ra phong trào tẩy
chay các thơng gia Hoa kiều, họ nêu khẩu hiệu ''Ngời An Nam mua hàng của
ngời An Nam).
+ 1923 lại bùng lên cuộc đấu tranh chống độc quyền hải cảng Sài Gòn,
chống độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ của thực dân Pháp.
Trong quá trình đấu tranh, t sản Việt Nam đã sử dụng báo chí làm cơ
quan ngôn luận để truyền bá t tởng cải lơng chủ nghĩa và làm công cụ bênh vực
quyền lợi cho mình (diễn đàn Đông Dơng, tiếng dội An Nam)
Một số nhà t sản và địa chủ lớn ở Nam Kỳ đứng ra tập hợp lực lợng thành
một tổ chức Đảng lập hiến (1923) đứng đầu là: Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan
Long, Trơng Văn Bền. Đảng đa ra một số khẩu hiệu: đòi một số quyền tự do dân
chủ nhằm tranh thủ quần chúng và gây sức ép với Pháp. Khi thực dân Pháp nh-
ợng bộ một số quyền lợi (cho thêm ngời Việt Nam tham gia vào Hội đồng quản
hạt Nam Kỳ, Viện dân biểu (Bắc Kỳ, Trung Kỳ), họ quay sang thoả hiệp với
Pháp.
Sau chiến tranh tầng lớp trí thức yêu nớc tập hợp lực lợng trong những
đảng phái chính trị: Phục Việt, Hng Nam, Việt Nam Nghĩa đoàn, Đảng thanh
niên. Đồng thời tổ chức những hoạt động yêu nớc sôi nổi: mít tinh, biểu tình, bãi
khoá. Một số thanh niên Việt Nam yêu nớc vợt biên sang hoạt động ở Trung
Quốc, họ đứng ra thành lập một tổ chức yêu nớc ''Tâm tâm xã '' (1923). Ngày
8/6/1923 Tâm tâm xã phân công: Phạm Hồng Thái, Lê Bằng Sơn ám sát toàn
9
quyền Đông Dơng Mectanh tại Sa Diệm (Quảng Châu - Trung Quốc) nhng cuộc
mu sát không thành công, có sức cổ vũ lòng yêu nớc trong nhân dân.
+ 1925 - 1926: Phong trào yêu nớc và dân chủ ngày càng lan rộng tiêu
biểu là:
- Đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (11/1925).
- Cuộc truy điệu và để tang cụ Phan Chu Trinh (3/1926).
- Đòi thả tự do cho Nguyễn An Ninh (3/1926).
Một số tờ báo tiến bộ đợc xuất bản: Chuông rè, Ngời nhà quê, An Nam
trẻ.
Một số nhà xuất bản cũng đợc thành lập: Nam Đồng th xã (1926) của
Phạm Tuấn Tài, Hà Nội; Quan Hải Tùng th của Đào Duy Anh, Huế; Cờng học
th xã của Trần Huy Liệu, Sài Gòn.
Từ trong phong trào yêu nớc và dân chủ tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng
ra đời.
- Hoàn cảnh ra đời:
+ Vào những năm 1925- 1926 phong trào yêu nớc ở Việt Nam trở lên
rộng khắp và mạnh mẽ. Từ trong phong trào này, một số nhà xuất bản tiến bộ ra
đời đáng chú ý là nhà xuất bản Nam Đồng th xã (1926).
Vì ra đời vào lúc phong trào dân tộc dân chủ đang lên cao lại thờng xuyên
giới thiệu sách báo yêu nớc, cho nên Nam Đồng th xã (NĐTX) sớm trở thành
trung tâm thu hút những thanh niên Việt Nam yêu nớc trong đó có: Nguyễn Thái
Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính. Những thanh niên này viết báo, viết
th yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thi hành chính sách tự do dân chủ, phát
triển công thơng, mở mang trờng học. Thực dân Pháp không những bác bỏ
những yêu cầu ấy mà còn ra lệnh đóng cửa nhà xuất bản. Trong khi đó phong
trào yêu nớc dân chủ vẫn lan rộng, những trào lu t tởng tiến bộ bên ngoài cũng
dội vào, trong hoàn cảnh ấy tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng ra đời vào chiều
ngày 25/12/1927.
10
- Đờng lối chính trị:
Việt Nam quốc dân Đảng là một tổ chức cách mạng theo khuynh hớng
dân chủ t sản. Thời gian đầu khi mới thành lập, Việt Nam quốc dân Đảng cha đề
ra đợc một đờng lối chính trị rõ ràng mà chỉ nêu lên một cách chung ''trớc làm
cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới''. Đầu năm 1929, Việt Nam
quốc dân Đảng nêu 3 nguyên tắc: ''Tự do, bình đẳng, bắc ái'' của nền Cộng hoà
Pháp làm cơng lĩnh chính trị cho Đảng mình. Cũng từ lúc này, Việt Nam quốc
dân Đảng mới nêu lên mục đích cụ thể là: Cuộc cách mạng dân tộc, cuộc cách
mạng chính trị, cách mạng xã hội. Đánh đuổi thực dân Pháp, đánh đổ ngôi vua,
thiết lập dân quyền. Đến khi bớc vào thời kỳ gấp rút, hoạt động của Việt Nam
quốc dân Đảng lấy ''chủ nghĩa Tam Dân'', một trào lu dân chủ t sản đang thịnh
hành ở Trung Quốc làm nền tảng cho Đảng mình, nhng lại cắt bỏ những nội
dung cách mạng nhất (bình quân, địa quyền, phù trợ công nông, Liên Nga, Liên
Cộng )
- Thành phần xã hội gồm:
+ Học sinh, sinh viên, công chức.
+ Một số t sản địa chủ ở nông thôn, các thân hào thân sĩ.
+ Kết nạp cả binh lính ngời Việt trong binh lính Pháp.
- Đờng lối hoạt động:
+ Do không có lý luận cách mạng khoa học, không dựa vào công-
nông cho nên Việt Nam quốc dân Đảng thiên về hoạt động khủng bố, ám sát cá
nhân.
+ Trong thời gian tồn tại Việt Nam quốc dân Đảng đã từng tổ chức
những vụ ám sát, tống tiền trong đó vụ gây chấn động nhất là vụ ám sát tên
trùm mỏ phu Badanh ngày (9/2/1929).
Sau sự kiện này, thực dân Pháp khủng bố lớn Việt Nam quốc dân Đảng bị
tổn thất nặng nề: nhiều Đảng viên bị bắt và giết hại; cơ sở Đảng ở nhiều nơi bị
tan vỡ.
11
Trong hoàn cảnh ấy, một số lãnh tụ còn lại chủ trơng dốc toàn bộ lực lợng
tổ chức cuộc bạo động nếu ''không thành công cũng thành nhân''.
Đêm 9 rạng 10/2/1930 cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Yên Bái và một số nơi.
Tại đây quân khởi nghĩa chiếm đợc trại lính, giết đợc một số sĩ quan và hạ sĩ
quan Pháp, nhng không chiếm đợc tỉnh lỵ (thị xã). Ngày hôm sau thực dân Pháp
quay lại đàn áp và khủng bố.
Tại các địa phơng khác: Phú Thọ, Hải Dơng, Thái Bình quân khởi nghĩa
chỉ chiếm đợc một số huyện nhỏ và sau đó thực dân Pháp lần lợt chiếm lại.
Kết quả: cuộc khởi nghĩa Yên Bái nhanh chóng bị dập tắt.
- Nguyên nhân:
+ Do thực dân Pháp còn khá mạnh đủ sức đàn áp đợc cuộc khởi nghĩa nổ
ra lẻ tẻ, đơn độc ở Yên Bái.
+ Tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng không có cơ sở vững chắc trong quần
chúng lại bị tan vỡ ở nhiều nơi, tổ chức không khoa học, nội bộ không thống
nhất.
+ Xu hớng dân chủ t sản không nắm đợc yêu cầu phát triển khách quan
của cách mạng Việt Nam.
- ý nghĩa:
+ Mặc dù thất bại nhng cuộc khởi nghĩa Yên Bái có tác dụng cổ vũ lòng
yêu nớc và chí căm thù giặc trong quần chúng nhân dân.
+ ở Yên Bái thể hiện tính chất non yếu của phong trào dân tộc theo
khuynh hớng dân chủ t sản.
+ Thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã kéo theo sự tan rã hoàn toàn
về tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng. Từ đó trở đi, ngọn cờ lãnh đạo phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc ở nớc ta đã chuyển sang hẳn tay giai cấp vô sản
thông qua chính Đảng của nó.
II. Phong trào công nhân.
12
* Do bị áp bức bóc lột cho nên ngay từ khi mới ra đời, công nhân Việt
Nam đã sớm bớc vào cuộc đấu tranh cách mạng.
- Họ tham gia vào các phong trào yêu nớc của các tầng lớp nhân dân (vụ
đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (1908), Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên
(1917) )
- Bên cạnh đó họ còn tổ chức đấu tranh riêng để đòi quyền lợi cho mình:
+ Thời gian đầu đấu tranh dới hình thức bỏ việc về quê, đánh bọn cai, đốc
công.
+ Về sau họ đấu tranh dới hình thức bãi công.
* Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1919 - 1925):
- Do ảnh hởng của cách mạng tháng 10 Nga.
- Do có sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
Do đó phong trào công nhân Việt Nam có bớc phát triển hơn trớc.
+Trong thời gian này có 25 cuộc bãi công: năm 1922 công nhân sở công
thơng t nhân Bắc Kỳ đấu tranh đòi tăng lơng, giảm giờ làm, đòi nghỉ ngày chủ
nhật có lơng.
Cùng thời gian này, công nhân nhà máy Dệt (Nam Định), Rợu (Hà Nội),
xay sát gạo (Hải Dơng) liên tục tổ chức bãi công đòi tăng lơng, giảm giờ làm.
+Phong trào công nhân thời gian này bớc đầu có tổ chức, có lãnh đạo.
Một số công nhân Việt Nam tham gia vào các tổ chức Công Đoàn của thuỷ thủ
Pháp và Trung Quốc.
Đặc biệt năm 1920, tổ chức Công Hội đỏ do Tôn Đức Thắng sáng lập ở
Sài Gòn. Tháng 8/1925 khoảng hơn 1.000 công nhân xởng sửa chữa và đóng tàu
Ba Son đã tổ chức cuộc đấu tranh: Khẩu hiệu đấu tranh đòi tăng lơng và chống
sa thải, nhng mục đích chính của phong trào nhằm ngăn cản tàu chiến Pháp trở
vũ khí và binh lính sang tham gia đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân
Trung Quốc. Điều này chứng tỏ công nhân Việt Nam bớc đầu thể hiện tinh thần
13
đoàn kết với giai cấp công nhân quốc tế, cho nên cuộc đấu tranh của công nhân
xởng BaSon 8/1925 đánh dấu bớc chuyển dần từ tự phát sang tự giác.
+ Tuy nhiên phong trào công nhân ở nớc ta thời kỳ 1919 - 1925 vẫn còn
nhiều hạn chế: Khẩu hiệu đấu tranh phần lớn nhằm vào mục tiêu kinh tế trớc
mắt; phong trào cha có sự liên kết hởng ứng với nhau một cách chặt chẽ.
Những hạn chế này đã chứng tỏ phong trào công nhân nớc ta còn mang
nặng tính tự phát, cha trở thành một tổ chức chính trị độc lập.
* Từ 1926 - 1930:
- Có sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng
Chí Hội, cho nên chủ nghĩa Mác - Lênin đợc truyền bá vào nớc ta sâu rộng hơn
trớc. Điều đó đã làm cho phong trào công nhân phát triển nhanh chóng.
- Trong những năm 1926- 1927 liên tiếp diễn ra các cuộc bãi công của
công nhân phần lớn là phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền cao su.
- Từ năm 1928 sau khi có phong trào ''vô sản hoá'' thì phong trào công
nhân ở nớc ta phát triển mạnh mẽ không chỉ về số lợng mà cả về chất lợng ngày
càng có tổ chức mạnh mẽ.
Trong năm 1929 - 1930 có 40 cuộc bãi công của công nhân nổ ra đều
khắp từ Bắc chí Nam. Tất cả các cuộc đấu tranh trên đều có tính chất chính trị,
đã vợt ra một công xởng một địa phơng.
Phong trào công nhân Việt Nam trong 1928 - 1929 đã vơn lên trở thành
một lực lợng chính trị độc lập, có tác dụng tập hợp và thúc đẩy các phong trào
yêu nớc trong mọi tầng lớp nhân dân.
- Sự phát triển của phong trào công nhân đặt ra một yêu cầu cấp bách là
phải có một chính Đảng của giai cấp vô sản. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự ra đời của chi bộ cộng sản Bắc Kỳ (3/1939), tiếp đến là sự tan
rã của VNTNCM Đồng Chí Hội và Tân Việt cách mạng Đảng để hình thành 3 tổ
chức cộng sản: Đông Dơng cộng sản Đảng (6/1929); An Nam cộng sản Đảng
(7/1929); Đông Dơng cộng sản Liên Đoàn (9/1929).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét