Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

đánh giá 1 số tác động về môi trường, kinh tế, xã hội và chính sác buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam

Các chữ viết tắt

BBĐTVHD: Buôn bán động, thực vật hoang dã
CBD: Công ước về Đa dạng Sinh học
CITES: Công ước về Buôn bán Quốc tế Các loài Động, Thực vật Nguy cấp
CRES: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐTVHD: Động, thực vật hoang dã
FPD: Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
FIPI: Viện Điều tra Quy hoạch Rừng
GIAN: Mạng lưới Học thuật Quốc tế Geneva
GNP: Tổng thu nhập quốc dân
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
HFI: Chỉ số phát tiển con người
IUCN: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
IUED: Viện Đại học về Nghiên cứu Phát triển Geneva
KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên
KHHĐQG: Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường quản lý buôn bán động, thực vật
hoang dã đến năm 2010
KTXH: Kinh tế-xã hội
LSNG: Lâm sản ngoài gỗ
NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
RĐD: Rừng Đặc dụng
UBND: Ủy ban Nhân dân
UNEP: Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc
UNCTAD: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
USD/US$: Đô la Mỹ
VND: Đồng
VQG: Vườn Quốc gia
WWF: Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên
Tỉ giá: 1 đô la mỹ (US$) ~ 16.100 VND
1 franc Thụy Sỹ (CHF) ~ 13.000 VND



ii
Tóm tắt báo cáo

Báo cáo đánh giá một số tác động về môi trường, kinh tế, xã hội của các chính sách về buôn
bán động, thực vật hoang dã (BBĐTVHD) ở Việt Nam được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8
năm 2007. Mục tiêu của hoạt động đánh giá là để xác định các ưu điểm, thiếu sót và các tồn
tại về nội dung, khả năng thực thi và tác động của chính sách buôn bán động thực vật hoang
dã của Việt Nam đối với môi trường, kinh tế và xã hội trong thời gian qua. Dựa trên những
đánh giá đó để rút ra các bài học kinh nghiệm và đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống
chính sách quốc gia về buôn bán động, thực vật hoang dã. Các đề xuất được kết hợp hài hòa
giữa việc bảo tồn, quản lý, sử dụng bền vững và hỗ trợ việc thực hiện các mục tiêu của quốc
gia về xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội. Việt Nam là một trong bốn nước
thành viên CITES tiên phong thực hiện đánh giá chính sách về BBĐTVHD. Kết quả đánh giá
sẽ được chia sẻ rộng rãi với các nước thành viên CITES và các nước quan tâm đến hoạt động
đánh giá.

Các thông tin thu thập trong báo cáo này sẽ đưa ra nhiều những thiếu sót, các thông tin về tính
chưa hợp lý và hiệu quả của chính sách hơn là đưa các thông tin về các điểm mạnh và tác
động tích cực. Việc đưa ra các điểm yếu nhiều hơn mạnh là nhằm giúp cho việc đánh giá
đúng những thiếu sót cần phải khắc phục cho việc sửa đổi, ban hành và thực hiện một cách
hiệu qua các chính sách của quốc gia về BBĐTVHD.

Kết quả đánh giá đã cho thấy, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách về
BBĐTVHD tương đối đầy đủ ở nhiều mức độ từ chính sách, văn bản luật và dưới luật. Hệ
thống chính sách về BBĐTVHD đã được ban hành tương đối sớm và luôn được bổ sung, hoàn
thiện để phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam và phù hợp với các công ước quốc tế mà
Việt Nam tham gia như CBD, CITES và Nghị định thư Cartagena

Với hệ thống chính sách đó, Việt Nam đã và đang tiến tới việc quản lý được hiệu quả hơn các
hoạt động khai thác, gây nuôi, xuất khẩu, nhập khẩu ĐTVHD. Số lượng động vật, thực vật có
nguồn gốc từ trồng cấy nhân tạo và gây nuôi hợp pháp đã tăng nhiều trong thời gian qua. Ở
nhiều nơi, hoạt động khai thác, nuôi, trồng ĐTVHD đã mang lại việc làm và thu nhập cho
nhiều gia đình, nhiều cộng đồng và bước đầu góp phần vào phát triển kinh tế và xóa đói giảm
nghèo ở địa phương.

Tuy vậy, do công tác quản lý, phát triển BBĐTVHD vẫn còn là vấn đề mới, hệ thống chính
sách liên quan cũng đang được hình thành và hoàn thiện, nên không tránh khỏi những thiếu
sót, bất cập, dẫn đến hiệu quả thực tế chưa được như mong muốn, hoặc các chính sách vẫn
còn tản mạn, chưa thành hệ thống, với tính đồng bộ và gắn kết cao. Hệ thống chính sách lại
được ban hành liên tục trong thời gian dài nên dễ gây khó khăn cho công tác thực thi và theo
dõi. Việc xây dựng các tiêu chí về các loài bị đe dọa cần được bảo vệ trong một số Nghị định
chưa thật rõ ràng nên cũng dễ gây hiểu lầm khi khi áp dụng.

Hiệu quả thực tế của nhiều chính sách và văn bản chưa cao có thể do một số nguyên nhân như
việc xây dựng các chính sách và văn bản đó vẫn thiên về hướng quản lý nhiều hơn là khuyến
khích việc tìm giải pháp hài hòa giữa khai thác bền vững và bảo tồn. Hơn thế, việc soạn thảo
chính sách chủ yếu được các cơ quan quản lý và các nhà khoa học tiến hành, sự tham gia,
đóng góp, tư vấn của những bên liên quan khác như: các chủ trang trại, các doang nghiệp và
người sử dụng vẫn chưa được chú trọng một cách đúng mức.



iii
Các chính sách về BBĐTVHD của Việt Nam luôn khuyến khích việc phát triển nuôi, trồng
ĐTVHD để cung cấp cho nhu cầu sử dụng và buôn bán và cũng để giảm áp lực lên tài nguyên
thiên nhiên. Nhưng, trong thực tế các chính sách này vẫn thiếu các cơ chế cụ thể để giúp cho
việc phát triển nuôi, trồng. Trong thời gian gần đây, hoạt động buôn bán, nuôi, trồng ĐTVHD
phát triển nhanh ở Việt Nam, nhưng vẫn phát triển theo hướng tự phát, chưa được định hướng
để đảm bảo sự phát triến bền vững, không ảnh hưởng đến quần thể các loài ngoài tự nhiên,
phù hợp với các quy định của luật pháp trong nước và quốc tế mà vẫn đem lại thu nhập cho
cộng đồng, và đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Dựa trên việc nghiên cứu và đánh giá thực tế nhiều đề xuất và khuyến nghị đã được nêu nhằm
giúp cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách về BBĐTVHD và đảm bảo các chính sách được
xây dựng hài hòa giữa các mục tiêu bảo vệ, sử dụng và phát triển bền vững.

Báo cáo cũng đưa ra các khuyến nghị về việc xây dựng các cơ chế giám sát, đánh giá theo
định kỳ việc thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương, qua đó rút ra những kinh
nghiệm để hoàn thiện, tăng cường thực thi và nâng cao tính hiệu quả của các chính sách buôn
bán động, thực vật hoang dã. Bên cạnh đó, việc giáo dục cộng đồng, nâng cao năng lực của
các cơ quan thực thi pháp luật cũng là việc cần phải tiến hành thường xuyên, dài hạn để đảm
bảo hiệu quả cao nhất của các chính sách.

Mục lục

Danh mục các bảng i
Danh mục các biều đồ i
Danh mục các bản đồ i
1. Mở đầu 1
2. Mục tiêu 4
Mục tiêu chung 4
Mục tiêu cụ thể 4
3. Phương pháp đánh giá 5
3.1. Thu thập số liệu 5
3.2. Phân tích số liệu 6
4. Kết quả nghiên cứu 8
4.1. Bối cảnh chung 8
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 8
4.1.2. Điều kiện kinh tế và xã hội 10
4.1.3. Tình hình buôn bán động, thực vật hoang dã 11
4.1.4. Tình hình buôn bán bất hợp pháp ở một số điểm nóng 15
4.1.4. Kênh sản xuất, cung cấp và tiêu thụ 17
4.1.5. Tổ chức và bộ máy của các cơ quan CITES ở Việt Nam 19
4.2. Nội dung các chính sách về quản lý bảo vệ và BBĐTVHD 19
4.2.1. Các chính sách của quốc gia về quản lý và phát triển ĐTVHD 19
4.2.2. Các văn bản dưới luật liên về việc quản lý BBĐTVHD 20
4.2.3. Tình hình thực hiện các chính sách về buôn bán động, thực vật hoang dã 25
4.2.4. Nhận xét chung 30
4.3. Đánh giá các tác động của chính sách 32
4.3.1. Tác động về môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học 32
4.3.2. Tác động đối với kinh tế 36
4.3.3. Tác động về xã hội 43
4.4. Đánh giá các chính sách 47
4.4.1. Tính hoàn thiện và phù hợp 47
4.4.2. Tính thống nhất và đồng bộ 50
4.4.3. Tính thực tế và hiệu quả 51
5. Thảo luận 53
6. Khuyến nghị 56
7. Tài liệu tham khảo 58
8. Phụ lục 61
8.1. Phụ lục 1. Các văn bản và chính sách liên quan đến BBĐTVHD 61
8.2. Các khu vực điều tra khảo sát 64
8.3. Các cơ quan và cá nhân đã tiếp xúc và làm việc 65

Danh mục các bảng

Bảng 1. Xuất, nhập khẩu hợp pháp một số ĐVHD chủ yếu từ năm 2002 đến 2005 11

Bảng 2. Diễn biến diện tích và độ che phủ cuả rừng ở Việt Nam và ASEAN 33

Bảng 3. Biến động số lượng một số loài động, thực vật quý hiếm 35

Bảng 4. Số lượng một số loài động vật bị săn bắt từ 1991-1995 36

Bảng 5. Thu và chi trên 360 m
2
của một số cây trồng ở xóm Bình Minh 41

Bảng 6. Hiệu quả một số cây trồng, vật nuôi chính tại một số tỉnh 41

Bảng 7. Hiệu quả kinh tế gây nuôi một số loài ĐTVHD ở khu vực điều tra 42

Bảng 8. Ước tính giá một số loài ĐTVHD trong năm 2007 42


Danh mục các biều đồ

Biểu đồ 1. Các bước đánh giá chính sách 6
Bản đồ 1. Các điểm điều tra thực địa 7
Bản đồ 2. Vị trí địa lý của Việt Nam 9
Biểu đồ 2. Tăng trưởng GDP của Việt Nam những năm gần đây 10
Biểu đồ 3. Cơ cấu GDP của Việt Nam 10
Biểu đồ 4. Số lượng các vụ động vật hoang dã bị bắt giữ theo vùng 13
Biểu đồ 5. Các vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã 14
Biểu đồ 6. Số lượng ĐTVHD bị thu giữ qua các năm 14
Biểu đồ 7. Thống kê số lượng động vật hoang dã đã bị bắt giữ 16
Biểu đồ 8. Sơ đồ mạng lưới BBĐTVHD bất hợp pháp ở Việt Nam 18
Biểu đồ 10. Sơ đồ mạng lưới BBĐTVHD hợp pháp ở Việt Nam 18

Danh mục các bản đồ

Bản đồ 1. Các điểm điều tra thực địa 7

Bản đồ 2. Vị trí địa lý của Việt Nam 9






1
1. Mở đầu


Được đánh giá là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với
hơn 11.400 loài Thực vật bậc cao, 1.030 loài rêu, 310 loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát,
162 loài ếch nhái, trên 700 loài cá nước ngọt và khoảng 2.000 loài cá biển đã được ghi nhận,
Việt Nam còn là một trong những quốc gia có truyền thống khai thác, nuôi trồng và sử dụng
tài nguyên đa dạng sinh học trong cuộc sống hàng ngày.

Những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành một trung tâm quan trọng về buôn bán, gây trồng
và sử dụng sản phẩm từ động, thực vật hoang dã trong khu vực Đông-Nam Á (Cao Lâm Anh
và Nguyễn Mạnh Hà, 2005). Ước tính ở Việt Nam hàng năm có tới 3.700 đến 4.500 tấn động
vật hoang dã (không bao gồm các loài thủy sinh) được sử dụng để làm thức ăn, dược liệu và
sinh vật cảnh. Hoạt động khai thác và buôn bán các loài côn trùng cũng rất phát triển, với
khoảng 40 loài côn trùng cánh cứng và 90 loài bướm đang được khai thác và buôn bán. Ngoài
ra, hàng nghìn loài thực vật hoang dã
đang được khai thác và sử dụng làm dược liệu với trên
20.000 tấn cây thuốc được sử dụng hàng năm (CPVN, 2004; Nguyen and Nguyen, 2004).

Bên cạnh các hoạt động buôn bán hợp pháp, BBDTVHD bất hợp pháp đã trở thành một vấn
đề ảnh hưởng đến sự tồn tại của các quần thể tự nhiên của các loài. Hậu quả của nạn buôn bán
ĐTVHD trái phép trong những năm qua và việc sử dụng không bền vững, dẫn đến việ
c nhiều
loài động, thực vật hoang dã đã và đang suy giảm mạnh hoặc có nguy cơ tuyệt chủng, gây ảnh
hưởng trực tiếp đến ĐDSH và cuộc sống của các cộng đồng miền núi.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn đa dạng sinh học Chính phủ Việt Nam
đã ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật nhằm quản lý và bảo về nguồn tài nguyên
quý giá này. Đặc biệt từ năm 1994, sau khi trở thành thành viên của Công ước về Buôn bán
Quốc tế các loài động, thực vật Nguy cấp (CITES), các chính sách về gây nuôi và buôn bán
động vật, thực vật hoang dã đã được ban hành nhiều hơn, nhằm thực thi Công ước.

Các chính sách về khuyến khích nuôi trồng và kiểm soát BBĐTVHD đã tạo nên hành lang
pháp lý để tiến hành việc bảo vệ, phát triển và buôn bán các loài động, thực vật hoang dã một
cách bền vững. Nhiều chính sách đã có những ảnh hưởng tích cực đối với sự tồn tại của các
loài, đặc biệt là ngăn chặn được việc khai thác và sử dụng quá mức đối với các loài ĐTVHD
quý hiếm, đang bị đe dọa. Tuy vậy, quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về bảo vệ,
phát triển nuôi trồng và buôn bán ĐTVHD, đã đã thể hiện những tồn tại nhất định, đặc biệt là
các chính sách khuyến khích gây nuôi chưa được xây dự
ng và thực hiện đồng bộ, các chế tài
xử phạt hành chính chưa có tác dụng ngăn chặn hiệu quả các hành động khai thác và buôn bán
trái phép các loài ĐTVHD. Vai trò và tác động của các chính sách bảo vệ và khuyến khích
nuôi trồng ĐTVHD đối với công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, xóa đói giảm nghèo cho
người dân ở vùng sâu, vùng xa chưa rõ ràng.

Với những lý do nêu trên, việc đánh giá nội dung và các tác động về môi trường và kinh tế-xã
hội của các chính sách đã ban hành là hết sức cần thiết. Vi
ệc đánh giá nhằm phát hiện những
điểm mạnh, điểm yếu, những tồn tại và đề xuất những điều chỉnh, bổ sung và xây dựng các
chính sách mới phù hợp, thiết thực hơn với tình hình thực tế của công tác bảo tồn, phát triển
nôi, trồng và BBĐTVHD ở Việt Nam.

Việc đánh giá hệ thống chính sách về buôn bán ĐTVHD cũng phù hợp với hoạt động ưu tiêu
của của Công ước CITES. Trong Hội nghị các nước thành viên của Công ước lần thứ 13 đã
đưa ra Nghị quyết 13.74 (CoP13, Bangkok, 2004) về việc ưu tiên đánh giá các chính sách


2
quốc gia về BBĐTVHD. Trong nghị quyết này có nêu rõ: “Hợp tác với các quốc gia triển
khai đánh giá các chính sách về sử dụng và buôn bán các mẫu vật thuộc danh lục Công ước
CITES, quan tâm tới động cơ kinh tế, hệ thống sản xuất, mô hình tiêu thụ, chiến lược tiếp cận
thị trường, cấu trúc giá, hệ thống chứng nhận, quyền sở hữu, cơ chế chia sẻ và tái đầu tư trong
bảo tồn, cũng như các tiêu chuẩn nội địa nghiêm ngặt hơn mà các nước đó áp dụng hoặc bị
ảnh hưởng…”.

Để thực hiện Nghị quyết 13.74, Việt Nam là một trong bốn nước đầu tiên (Mađagasca,
Nicaragoa, Uganđa và Việt Nam) được chọn để thực hiện đánh giá các chính sách quốc gia về
buôn bán động, thực vật hoang dã. Đây là hoạt động đánh giá mang tính tự nguyện của các
nước thành viên CITES, Ban Thư ký CITES và UNEP chỉ đóng vai trò hỗ trợ về kỹ thuật và
tài chính cho hoạt động này.

Chính vì các lý do đó, Dự án đánh giá các chính sách về buôn bán ĐTVHD với sự hỗ trợ của
UNEP và CITES được thực hiện ở Việt Nam nhằm rà soát và đánh giá các tác động về bảo
tồn, kinh tế và xã hội của các chính sách quốc gia về buôn bán ĐTVHD. Hoạt động đánh giá
cũng nhằm hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường
kiểm soát buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã đến năm 2010. Kết quả đánh giá sẽ
góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của thể chế, chính sách quốc gia về hoạt
động BBĐTVHD.

Do thời gian, kinh phí hạn chế, việc đánh giá được tiến hành trong bốn tháng (tháng 5 đến
tháng 7 năm 2007) và tập trung vào các chính sách có liên quan đã ban hành sau khi Việt
Nam tham gia Công ước CITES. Việc nghiên cứu, tìm hiều tác động của các chính sách cũng
chỉ tập trung vào các điểm nóng về gây nuôi và buôn bán ĐTVHD như: Hà Nội, Hồ Chí
Minh, Quảng Ninh, Sơn La, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, An Giang, Kiên Giang và Vĩnh
Long, trong đó có các cửa khẩu chính như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Móng Cái, Cầu Treo, Tri
Tôn và Sà Xía.

Việc nghiên cứu đánh giá các chính sách quốc gia về BBĐTVHD lần này chỉ là những hoạt
động bước đầu. Sau này, việc theo rõi, nghiên cứu và đánh giá nội dung và tác động của các
chính sách về buôn bán ĐTVHD đã ban hành sẽ trở nên thường xuyên, với quy mô lớn hơn
để cho các chính sách đó thực sự góp phần tích cực trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và
xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng địa phương.

Đôi nét về Công ước CITES

Công ước về Buôn bán Quốc tế Các loài Động, Thực vật Hoang dã Nguy cấp (CITES) được
các chính phủ thông qua năm 1973, với nhiệm vụ đầy thách thức là thực thi các quy định về
buôn bán đối với các loài động, thực vật cụ thể để đảm bảo buôn bán hợp pháp một cách bền
vững, buôn bán bất hợp pháp được ngăn chặn và xử phạt và với viễn cảnh sáng sủa nhất là tất
cả các hoạt động đều tạo ra sự khuyến khích cho việc bảo tồn loài.


Công ước này có hiệu lực đối với khoảng 30.000 loài động, thực vật. Những loài này được đề
cập trong 3 phụ lục (I, II, III), tùy thuộc vào mức độ cần bảo vệ. Phần lớn các loài (ví dụ các
loài nằm trong Phụ lục II và III) là các loài ít nguy cấp và có thể buôn bán. Những loài được
coi là nguy cấp (những loài nằm trong Phụ lục I), nói chung bị cấm buôn bán hoặc được buôn
bán với các mục đích phi thương mại. Hơn nữa, các loài nuôi nhốt và những mẫu vật nhân tạo
của các loài này được coi là thuộc Phụ lục II và có thể được buôn bán với mục đích thương
mại. Một hệ thống các chứng chỉ và giấy phép được sử dụng để giám sát và cấp phép cho việc


3
buôn bán các loài thuộc Công ước với mục đích thương mại và phi thương mại. Các quy định
có hiệu lực đối với tất cả các mẫu vật của các loài động, thực vật do Công ước quy định, kế cả
ở dạng sống hay đã chết, cũng như các bộ phận và dẫn xuất của chúng.


Có hai điều kiện tiên quyết để ban hành giấy phép CITES là việc buôn bán không được đe
dọa tới sự sống còn của các loài được đề cập trong Công ước và việc thu mẫu vật của chúng
phải hợp pháp. Để đảm bảo được các điều kiện này, các cơ quan thẩm quyền quản lý và khoa
học của CITES phải hoạt động độc lập với quyền lợi của những người buôn bán, người tiêu
dùng, các nhóm có quyền lực và những người có thể gây ảnh hưởng tới họ.


Các quốc gia tham gia Công ước CITES đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng sinh học thông
qua việc đảm bảo mọi hoạt động buôn bán các loài động, thực vật hoang dã thuộc Công ước
CITES được quản lý và giám sát nghiêm túc. Bảo tồn ở đây không có nghĩa là chỉ có bảo vệ
mà không được sử dụng. Bảo tồn ở đây là sử dụng bền vững. Do đó các vấn đề liên quan tới
kinh tế và thương mại là nền tảng của Công ước và các biện pháp thương mại là yếu tố thiết
yếu để đạt các mục tiêu của Công ước. Các vấn đề kinh tế và xã hội đóng vai trò quan trọng
trong bảo tồn đa dạng sinh học. Hiểu biết về mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường
trong bảo tồn đa dạng sinh học góp phần đảm bảo Công ước đạt mục tiêu đặt ra. Không
những thế, “việc lồng ghép” các vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học vào trong các chương
trình phát triển và thương mại là hết sức cần thiết.


4
2. Mục tiêu

Mục tiêu chung

Thông qua việc đánh giá các chính sách quốc gia về BBĐTVHD để xác định những tồn tại,
hạn chế và đề xuất bổ sung, sửa đổi các chính sách hiện có hoặc xây dựng và ban hành các
chính sách mới thay thế các chính sách không còn phù hợp, nhằm thực hiện có hiệu quả các
chiến lược, kế hoạch quốc gia về bảo tồn, BBĐTVHD, phát triển bền vững và thực thi Công
ước CITES.

Mục tiêu cụ thể

 Đánh giá nội dung và tác động của các chính sách hiện có về BBĐTVHD, đặc biệt là
các chính sách liên quan đến Công ước CITES, nhằm tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu
và các tác động của chúng tới công tác bảo tồn và sử dụng bền vững ĐTVHD;

 Đưa ra các đề xuất để bổ sung, sửa đổi các chính sách hiện hành nhằm gắn kết hoạt
động bảo tồn với xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững;

 Trợ giúp và củng cố các hoạt động thực thi CITES;

 Củng cố năng lực của các cơ quan hữu quan trong việc đánh giá các chính sách quốc
gia về buôn bán ĐTVHD và đánh giá tác động của các chính sách này đối với môi
trường và kinh tế-xã hội;

 Thúc đẩy việc xây dựng các kế hoạch hành động quốc gia nhằm kết hợp các yếu tố
môi trường, kinh tế-xã hội trong chính sách về buôn bán ĐTVHD;

 Đưa ra được bài học và những kinh nghiệm để chia sẻ với các nước thành viên CITES
và các nước quan tâm.







5
3. Phương pháp đánh giá 

3.1. Thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp

Thu thập và nghiên cứu nội dung của hệ thống chính sách, các văn bản luật và dưới luật về
hoạt động buôn bán ĐTVHD ở Việt Nam. Tất cả các văn bản về BBĐTVHD được ban hành
qua các thời kỳ của các bộ, ngành và địa phương đã được thu thập, nghiên cứu và đánh giá.

Các số liệu đã công bố được thu thập qua các báo cáo, các ấn phẩm, báo chí tại các cơ quan
của Chính phủ như: Tổng cục Thống kê, Cục Kiểm lâm, Cục Lâm nghiệp, Cục Hợp tác xã
thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Quản lý Thị trường, Bộ Thương mại và
Tổng Cục Hải quan (ở cấp trung ương) và ở các chi cục kiểm lâm, cục hải quan và các cục
bảo vệ nguồn lợi thủy sản (cấp tỉnh).

Ngoài ra, các tác giả còn thu thập số liệu có liên quan đến buôn bán ĐTVHD tại các cơ quan
nghiên cứu như Việt Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Dược liệu, Viện Sinh học Nhiệt
đới, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và một
số tổ chức phi chính phủ như Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức Giám sát
Buôn bán Động, Thực vật Hoang dã (TRAFFIC), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN), Hiệp hội Bảo tồn Thế giới (WCS)…

Một số thông tin về hoạt động buôn bán bất hợp pháp được nêu trong báo cáo được trích dẫn
từ các báo cáo và nghiên cứu gần đây về BBĐTVHD ở các địa phương trong cả nước và được
tổng hợp từ số lượng các vụ thu giữu ĐTVHD bị buôn bán bất hợp pháp ở một số địa phương
như Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hà Nội, Hồ Chí Minh. Đây là các báo cáo và tài liệu mới nhất về
BBĐTVHD ở Việt Nam và cũng là các thông tin chính thống đã được xuất bản và công bố.
Cụ thể, thông tin được trích dẫn trong một số báo cáo như: Cao Lâm Anh và Nguyễn Mạnh
Hà (2005), Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình (2007), Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh (2007), Kế
hoạch hành động quốc gia về tăng cường quản lý buôn bán động, thực vật hoang dã đến năm
2010 (2004), Cục Kiểm lâm (2007), Đỗ Kim Chung và nnk (2003), Đỗ Tước (1997, 2005),
Giles et al. (2006), Hội Bảo v
ệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (2004), Nguyen Manh
Ha (2002, 2004), Nguyen Manh Ha & Nguyen Quang Truong (2004), Nguyen Quang Trường
và nnk (2003), Nguyễn Tập (2006), Nguyen Van Song (2003), Phan Sinh (2004), Vũ Văn
Dũng và Mai Thế Bồi (2006) và World Bank (2005).

Điều tra thực tế

Số liệu về hoạt động gây nuôi, trồng các loài ĐTVHD, các chi phí, giá thành, quy trình kỹ
thuật gây nuôi, cấu trúc cung, cấu trúc cầu, tâm lý người tiêu dùng, thu nhập trong gây nuôi
một số loài ĐTVHD được thu thập ở các hộ gia đình, trang trại, vườn giống, công ty xuất
khẩu ĐTVHD. Trong khi điều tra thự
c tế ở các quan này, các thông tin về sử dụng lao động
và bình quân thu nhập của lao động, quần thể các loài, các tác nhân ảnh hưởng tới kinh tế, xã
hội và môi trường, nguyện vọng của các cơ quan chức năng, của người sản xuất, người tiêu
dùng cũng được các tác giả thu thập, tổng hợp và nêu trong báo cáo.

Ngoài ra, các thông tin và số liệu về buôn bán, thực hiện chính sách, các khó khăn, các đề
xuất về các chính sách BBĐTVHD được thu thập thông qua các phiếu câu hỏi gửi trước hoặc
phỏng vấn trực tiếp các cá nhân và tập thể thuộc các cơ quan quản lý và thực thi pháp luật như

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét