5
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM, nó có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức
năng này, một mặt, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho
vay. Mặt khác, trên cơ sở vốn đã huy động được Ngân hàng tiến hành việc
cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ
thể cần vốn trong nền kinh tế, điều đó đảm bảo sự vận động liên tục của
guồng máy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy,
NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay, hay nói cách khác nghiệp
vụ tín dụng của NHTM là đi vay và cho vay.
Hơn nữa, tín dụng Ngân hàng còn là một trong những nguồn hình thành
vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng Ngân hàng
đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư, động
viên vật tư hành hoá đưa vào hoạt động sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn
vốn thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Đối với
NHTM hoạt động tín dụng là hoat động chủ yếu mang lại nguồn thu lớn nhất
cho Ngân hàng, bên cạnh đó nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.Vì
vậy Ngân hàng nghiên cứu, áp dụng biện pháp quản lý nhằm mở rộng hoạt
động và đảm bảo an toàn tín dụng.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền.
Qúa trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín
dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với
hệ thống Ngân hàng trung ương của mỗi nước. Khả năng tạo tiền là khả năng
biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một
khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh
toán qua nhiều Ngân hàng. Một Ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thì
6
số vốn đó lại chuyển sang Ngân hàng khác trở thành vốn tiền gửi và làm tăng
thêm vốn tiền gửi của các Ngân hàng khác.
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính
sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Thông qua đó Ngân hàng Trung ương
có thể tăng hay giảm lượng tiền cung ứng bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nhằm điều tiết vĩ mô, ổn định nền kinh tế.
1.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại
Theo Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng: “ Nghiệp vụ ngân hàng là
những sản phẩm mà ngân hàng thực hiện trong việc huy động các nguồn vốn
tiền tệ và đầu tư số vốn huy động được, cấp tín dụng, phục vụ thanh toán cho
khách hàng và làm các dịch vụ khác theo sự uỷ thác của khách hàng”.
Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại được thể hiện ở nội
dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối kế toán của
ngân hàng và có thể phân chúng thành ba nhóm: Các nghiệp vụ Tài sản Nợ,
các nghiệp vụ Tài sản Có và các nghiệp vụ trung gian.
1.1.3.1 Tiền gửi
Với nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng sẽ huy động vốn của các doanh
nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãng lai; tài
khoản tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi của khách hàng thường chia làm hai loại:
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tài khoản séc: Là loại tiền gửi được áp dụng phổ biến ở hầu hết các
nước trên thế giới. Theo Công ước Giơ-ne-vơ năm 1931 thì “Séc là một tờ
lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng ký phát cho ngân hàng, yêu cầu
ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người
cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên séc”.
7
Việc phát hành séc tiến hành đồng thời với dịch vụ mở tài khoản tiền
gửi (tài khoản séc), các chủ tài khoản séc sẽ dùng séc để mua sắm hàng hoá,
dịch vụ, nộp thuế, trả nợ cho nhau, vay mượn ; đồng thời nhập vào tài khoản
này mọi khoản thu nhập thường xuyên hay bất thường như tiền lương, tiền
bán hàng, bán dịch vụ, thu nợ Tài khoản séc bao giờ cũng có số dư nên ngân
hàng có thể tạm thời sử dụng được số tiền này vào mục đích kinh doanh của
ngân hàng, tài khoản séc thật sự là công cụ quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh doanh của hệ thống ngân hàng.
- Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai là tài khoản phát sinh hàng
ngày các khoản gửi tiền, rút và chuyển tiền của khách hàng. Trong tài khoản
séc, chủ tài khoản luôn luôn phải có số dư, nhưng trong tài khoản vãng lai,
khách hàng có thể có số dư, có thể thiếu (dư nợ), nếu dư có ngân hàng phải trả
lãi, nếu dư nợ khách hàng phải trả lãi cho ngân hàng nhưng không được vượt
hạn mức dư nợ ngân hàng cho phép. Tài khoản vãng lai là một thủ tục vừa gửi
tiền, vừa vay tiền có lợi cho cả hai bên: người mở tài khoản và ngân hàng.
Người gửi tiền chắc chắn được vay tiền với mức dư nợ cao nhất, còn ngân
hàng càng thu hút được nhiều tài khoản vãng lai càng có thêm nhiều vốn tiền
gửi để kinh doanh.
- Tài khoản gửi tiết kiệm: Phần lớn là tiền gửi tiết kiệm của các cá
nhân, tuy số tiền gửi của mỗi người không nhiều, nhưng số người gửi đông
nên tiền gửi tiết kiệm của nhiều triệu người trong nước thực sự là một nguồn
vốn kinh doanh quan trọng của ngân hàng, đồng thời việc thu hút nhiều nguồn
vốn này còn có tác dụng kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Số lượng
tiền gửi tiết kiệm thu hút được nhiều hay ít, trước hết phụ thuộc vào lãi suất danh
nghĩa của nó có cao hơn lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát hay không.
1.1.3.2 Cho vay
8
* Thứ nhất: Cho vay tiền
Là loại cho vay mang hình thức một hợp đồng vay tiền. Trong hợp
đồng nêu rõ: ngân hàng cam kết giao cho người vay một khoản tiền trong một
thời gian nhất định và người vay cam kết trả cho ngân hàng khoản tiền tương
ứng với số tiền đã vay cùng với số tiền lãi tỷ lệ với số tiền gốc và thời hạn
vay.
* Thứ hai: tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền có các hình thức chủ
yếu: chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, bao thanh toán Factoring
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Chiết khấu thương phiếu
là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở
hữu thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng
mệnh giá của thương phiếu trừ đi lợi tức và hoa hồng chiết khấu.
- Bao thanh toán (Factoring): Bao thanh toán là một hợp đồng mà trong
đó một tổ chức tín dụng chuyên nghiệp được gọi là “Factor” mua đứt các trái
quyền của người cung cấp (người bán) đối với khách hàng của họ (người
mua).
Thứ ba: cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn bằng cách ngân hàng giao
động sản, bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyển sản
xuất, khách sạn, kho tàng cho khách hàng (người thuê) sử dụng. Nói cách
khác, cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung, dài hạn thông qua vịêc
cho thuê máy móc, thiết bị bất động sản và động sản.
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời quan trọng, chủ yếu của ngân
hàng thương mại, không có nghiệp vụ tín dụng thì cũng không còn ngân hàng
thương mại, nên nghiệp vụ tín dụng luôn luôn tồn tại và phát triển cùng ngân
hàng thương mại. Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất,
9
kinh doanh, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng nhiều, vì thế vai trò
của tín dụng ngân hàng cũng ngày càng quan trọng và cần thiết hơn. Nhưng
tín dụng là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro, đã có rất nhiều ngân hàng
phải phá sản vì cho vay mà không thu được nợ hoặc có tỷ lệ nợ quá hạn lớn.
Vì vậy, bên cạnh việc phát triển nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương
mại đều thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ, đa dạng hoá các khoản mục tài sản
có để phân tán bớt rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.1.3.3 Bảo lãnh
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng nhận bảo
lãnh, chịu trách nhiệm trả tiền thay cho người xin bản lãnh nếu người đó
không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với người đã thụ
hưởng bảo lãnh đã được qui định cụ thể trong thư bảo lãnh.
1.1.3.4 Nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế
a. Thanh toán chuyển tiền trong nước
Thanh toán chuyển tiền là một dịch vụ, mà ngân hàng thực hiện lệnh
của khách hàng thanh toán chuyển tiền từ ngân hàng đó đi nơi khác cho một
người nhất định, hay ngân hàng trích một khoản tiền từ tài khoản của khách
hàng theo lệnh của nó, để ghi có cho tài khoản của người khác và ngân hàng
thu được một khoản phí nhất định.
Các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt gồm có: Ngân phiếu thanh
toán, Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, Thẻ thanh toán
b. Thanh toán - chuyển tiền quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ
phát sinh từ các quan hệ kinh tế, tài chính giữa các tổ chức kinh tế quốc tế,
giữa các hãng, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu
10
trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bằng các hình thức chuyển
tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng.
Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu gồm có: Hối phiếu, Lệnh
phiếu, Séc
c. Thu hộ tiền thuế, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại
Trên cơ sở các uỷ nhiệm chi, hoá đơn, hợp đồng nhờ thu hộ của các cơ
quan thuế điện lực, bưu điện, nước ngân hàng sẽ thực hiện ghi nợ tài khoản
của khách và ghi có tài khoản tiền gửi cho các cơ quan trên.
d. Cung ứng các phương tiện thanh toán hiện đại như: Phát hành và
thanh toán các loại thẻ, thực hiện rút tiền tự động qua máy ATM, Thẻ séc
Khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai ở
ngân hàng đảm bảo có số dư khi thanh toán, nếu muốn sử dụng thẻ ngân hàng
sẽ cấp cho khách hàng một thẻ séc. Tấm thẻ ghi rõ số tiền tối đa của thẻ, tên
của ngân hàng phát hành thẻ, mã số của chi nhánh phát hành, tên của khách
hàng sử dụng, số thẻ và ngày hết hạn của thẻ. Thẻ được sử dụng theo hai nội
dung: rút tiền mặt tại các ngân hàng và “đảm bảo” cho việc thanh toán hàng
hoá và dịch vụ.
Do khách hàng không phải ký quỹ hoặc không nhất thiết phải có đủ số
dư trên tài khoản so với số tiền ghi trên thẻ, nên trong trường hợp số tiền ghi
trên séc lớn hơn số dư trên tài khoản của khách, ngân hàng vẫn phải đảm bảo
thanh toán cho người thụ hưởng, phần vượt quá số dư ngân hàng sẽ làm vịêc
và xử lý với chủ tài khoản sau. Vì vậy, khi cấp phát thẻ séc, ngân hàng phải
chọn lọc đối tượng để được cấp thẻ séc.
Thẻ séc thường được kết hợp với thẻ rút tiền tự động (ATM) và thẻ
thanh toán thành một thẻ đa năng.
11
- Thẻ thanh toán (Debit Card): Thẻ thanh toán hay còn gọi là “thẻ nợ”
là một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá và
dịch vụ.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): Thẻ tín dụng hay gọi là “thẻ có” cũng là
một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Khi phát hành thẻ khách hàng không
cần có số dư trên tài khoản tiền gửi mà được cấp một hạn mức tín dụng theo
tài khoản thẻ tín dụng của họ. Thẻ tín dụng dùng để mua hàng hoá và các dịch
vụ trả tiền sau. Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại những
nơi có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng
mà chúng chấp nhận.
- Máy rút tiền tự động ATM: Các ngân hàng, các chi nhánh, các điểm
bán hàng được đặt những máy rút tiền tự động, những máy này đã được nối
mạng với trung tâm thanh toán. Khách hàng có thể dùng thẻ rút tiền (Thẻ từ
hoặc thẻ thông minh) do ngân hàng phát hành để rút tiền mặt ở các máy trên,
mà không phải trực tiếp đến ngân hàng hoặc chi nhánh.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản truyền thống nêu trên, các Ngân hàng
thương mại hiện đạ còn cung cấp doanh mục rất đa dạng các sản phẩm khác
như: Nghiệp vụ đầu tư tài chính; Nghiệp vụ ngân quỹ; Dịch vụ ngân hàng qua
điện thoại (Telephone Banking); Dịch vụ ngân hàng sử dụng máy tính cá nhân
(PC-Based Banking);Dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet (Internet
Banking); Nghiệp vụ quản lý và tín thác; Dịch vụ tư vấn….
1.2. Nghiệp vụ kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại.
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán
Thẻ đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi
rộng, thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi
nợ, thẻ tín dụng… Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành
12
công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá
nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980
nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi
mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới.
Tuy nhiên, ngân hàng không phải là người đầu tiên phát hành thẻ. Tại
Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí được phát hành trước khi bước
vào ngành công nghiệp ngân hàng. Các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ,
nó cho phép các ngân hàng đưa ra được các dịch vụ mới cho các khách hàng
hiện có và là một phương tiện tối ưu để hấp dẫn các khách hàng mới- các cá
nhân cũng như những doanh nghiệp bán lẻ. Mặc dù không phải là một yếu tố
quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham gia vào lĩnh vực này nhằm đuổi
kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi hỏi. Dĩ nhiên là các ngân hàng cũng
được khuyến khích áp dụng các dịch vụ thẻ do khả năng gia tăng lợi nhuận
của chính ngân hàng.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu
California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số
khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty
chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán
lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng thông qua việc phát hành
thẻ, theo hình thức tiêu trước trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với
những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh
thu. Thực tế thì hình thức này đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) có nhiều hạn
chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnh hưởng
đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nên
tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả
năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ
13
chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên cấp thiết và
chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân
hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các
giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý
nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các
giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng.
Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào
thị trường thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm
1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách
hàng xin cấp hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình
hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng.
Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại
các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với
ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau
đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng.
Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Dinner
Club, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB
(1961) ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ
ngân hàng của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành
công. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ
chức tín dụng tham gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu
liên kết để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên
kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức
mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, việc
hợp tác của bốn ngân hàng ở California đổi tên từ California Bankcard
Association thành Western States Bank Card Association (WSBA) và mở
14
rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ.
Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép
cho Interbank sử dụng tên và thương hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên
1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ
sức cạnh tranh với Bank Americard.
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng
cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa
phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó,
InterBank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây
dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn
cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ
chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức
thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. Bốn tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện
nay là Visa, Master Card, Amex, JCB.
-> Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên
kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem
như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các
loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và
cùng phân chia những thị trường rộng lớn.
Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại và những ứng
dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần
thúc đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang được
sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với lợi thế về vốn, chuyên
môn trong nghiệp vụ thẩm định, cơ sở hạ tầng sẵn có phục vụ cho hoạt động
phát hành và thanh toán, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự được đông đảo
công chúng quan tâm và ưa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét