Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại công ty thuốc lá Thăng Long

LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có một
lượng vốn nhất định,nếu không có vốn sẽ không có bất cứ một hoạt động sản
xuất kinh doanh nào.Khi có vốn các doanh nghiệp sẽ dùng vốn của mình để
đầu tư vào các loại tài sản cần thiết để bắt đầu quy trình sản xuất, để có thể
đảm bảo sử dụng vốn trong đầu tư mua sắm tài sản phục vụ cho quá trình sản
xuất đem lại hiệu quả nhìn chung các doanh nghiệp đều quan tâm tới những
nguồn vốn nào có thể huy động ,cách thức sử dụng các loại vốn khác nhau để
đầu tư vào những tài sản thích hợp,và những tài sản đó phải được sử dụng
như thế nào để sản xuất ra những sản phẩm không chỉ đảm bảo về số lượng
mà còn cả chất lượng.Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn tìm các giải pháp
tốt nhất để có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luôn có vai trò quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.Với công ty thuốc lá Thăng
Long , đây là một trong những giải pháp quan trọng có thể giúp công ty đưa
ra được những sản phẩm có chất lượng cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của
người sử dụng trong và ngoài nước,từ đó thu được nhiều lợi ích kinh tế
hơn,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là giải pháp luôn được đặt ra với
một doanh nghiệp Nhà nước có kinh nghiệm lâu năm trong ngành sản xuất
thuốc lá Việt Nam như công ty thuốc lá Thăng Long.Xuất phát từ thực tế đó,
tôi xin mạnh dạn viết chuyên đề thực tập với đề tài :” Một số giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn ở công ty thuốc lá Thăng Long”.
Kết cấu chuyên đề của tôi gồm có 3 phần chính :
Phần đầu : Lí luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Phần hai : Thực trạng sử dụng vốn tại công ty thuốc lá Thăng Long.
Phần ba : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty thuốc lá
Thăng Long.
5
Chương І
Lí luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp.
I. Tổng quan về vốn trong doanh nghiệp
1. Khái niệm chung về vốn
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp
sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước với nhiều thành
phần kinh tế ,Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp và chính sách nhằm
củng cố và tăng cường vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền
kinh tế nước ta hiện nay. Để làm được điều đó,cần phải giải quyết bài toán về
vốn với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng
bởi vốn là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thành lập và hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Khái niệm về vốn có nhiều cách hiểu
khác nhau,sau đây là một số quan điểm về vốn.
Theo quan điểm của Mác,ông cho rằng”Vốn chính là tư bản ,là giá trị đưa
lại giá trị thặng dư”,đây là cách hiểu đơn giản nhất về vốn,ở đây vốn được
Mác xem xét dưới góc độ giá trị tạo ra giá trị lớn hơn nó và khi tích tụ càng
nhiều vốn thì càng tạo ra nhiều giá trị ,vậy vốn chỉ được dùng để đầu tư vào
hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Theo quan điểm của Samuelson “đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu
sơ khai, còn vốn và hàng hoá là các yếu tố kết quả của sản xuất.Vốn bao gồm
các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào
hữu ích trong quá trình sản xuất đó”,quan điểm của Samuelson đi vào nguồn
gốc của vốn ,vốn chỉ có được khi có các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
,các yếu tố đó mang hình thái vật chất như máy móc,thiết bị ,nhà xưởng…
Có một số quan điểm khác lại cho rằng “ Vốn là toàn bộ các yếu tố được
đưa vào để sản xuất hàng hoá ,dịch vụ bao gồm tài sản bằng tiền,tài sản hữu
6
hình như: đất đai,máy móc,nhà xưởng…,tài sản vô hình như trình độ nhân
lực,kinh nghiệm, độ khéo léo,uy tín…mà các cá nhân ,tổ chức bỏ ra để tiến
hành sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lời”.Như vậy đây là quan điểm
có cái nhìn bao quát nhất về vốn ,tức là vốn cả hình thái vật chất và hình thái
giá trị,vốn có thể là tài sản hữu hình hoặc vô hình,có thể tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Qua các quan điểm trên ,vốn có thể được hiểu một cách chung nhất , đó là
“Vốn là tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng vào quá trình sản xuất
để thu lợi nhuận”
2. Các đặc trưng cơ bản của vốn
Qua tìm hiểu về vốn có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường ,quá trình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước có thể gặp rất nhiều rủi
ro khách quan lẫn chủ quan(lạm phát ,các chính sách kinh tế xã hội …)làm
cho năng lực phục vụ sản xuất kinh doanh của vốn bị giảm sút.Để thực hiện
được tái sản xuất kinh doanh giản đơn đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước
phải bảo toàn dược vốn kinh doanh sau một thời gian hoạt động nhất định và
số vốn kinh doanh đó vẫn phải đảm bảo tương ứng với số tài sản ban đầu theo
giá hiện tại.Vì vậy để quản lí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh,cần nhận thức đầy đủ về các đặc trưng sau đây của vốn :
Vốn phải đại diện cho một giá trị tài sản hữu hình hoặc vô hình như nhà
xưởng ,máy móc thiết bị,bằng phát minh sáng chế,các thông tin kinh tế-kĩ
thuật…Thực tế cho thấy,không thể nói có vốn một cách chung chung mà vốn
phải được biều hiện cụ thể khi thành lập doanh nghiệp,nếu không chứng minh
được giá trị phần vốn góp ngay tại thời điểm thành lập doanh nghiệp thì
doanh nghiệp đó sẽ vi phạm Luật doanh nghiệp.
Vốn có giá trị về mặt thời gian bởi nếu vốn được biểu hiện bằng tiền và
được đem đi đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định thì sau khoảng thời
gian đó vốn sẽ tăng lên,nếu không được đầu tư vốn sẽ vẫn giữ nguyên giá trị
ban đầu.Khi vốn được biểu hiện bằng tài sản hữu hình thì nếu không được
7
đưa ngay vào sản xuất vốn sẽ hao mòn theo thời gian do tác động của hao
mòn vô hình như máy móc,thiết bị mới ra đời,công nghệ hiện đại thay
đổi.Mặt khác do tác động của lạm phát mà lãi suất thường xuyên biến động
nên giá trị của vốn thu được trong tương lai không phải lúc nào cũng ổn định
Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định bởi chỉ có chủ sở hữu mới có quyền
quyết định sử dụng vốn như thế nào .Khi vốn chỉ có một chủ sở hữu ,hoặc có
nhiều chủ sở hữu hoặc có chủ sở hữu là người nước ngoài thì cách quản lí ,sử
dụng và quyền lợi về vốn là hoàn toàn khác nhau ,tuỳ theo hình thức đầu tư
mà người sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời người sở hữu vốn.
Vốn chính là một loại hàng hoá đặc biệt tức là vốn cũng được mua bán trao
đổi trên thị trường khi có người thừa vốn bán quyền sử dụng vốn của họ cho
người thiếu vốn, khoản tiền người mua phải trả cho việc sử dụng vốn chính là
tiền lãi,ở đây người bán không mất quyền sở hữu khoản vốn đó mà chỉ mất
quyền sử dụng sau một khoảng thời gian nhất định.
Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định nào đó mới phát
huy tác dụng bởi với lượng vốn quá nhỏ do không được tăng thêm sau mỗi
chu kì sản xuất thì không thể đảm bảo tái sản xuất mở rộng vậy để đảm bảo
hiệu quả sử dụng vốn các doanh nghiệp cần có một lượng vốn đủ lớn.
3. Ý nghĩa và vai trò của vốn trong sản xuất kinh doanh
3.1.Ý nghĩa
Vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh bởi nó là
tiền đề cho mọi hoạt động của sản xuất kinh doanh,nếu không có vốn thì
doanh nghiệp sẽ không có bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào dù nhỏ
nhất.
Để sử dụng tốt các nguồn tiềm năng khác trong doanh nghiệp thì cũng cần
phải có vốn,chẳng hạn như khi có vốn các doanh nghiệp có thể đào tạo,bồi
dưỡng,nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên nhằm nâng cao chất
lượng nhân lực hoặc các doanh nghiệp có thể nhập kĩ thuật ,công nghệ,kinh
nghiệm quản lí từ các nước tiên tiến.Như vậy vốn sẽ kết hợp với lao động ,kĩ
8
thuật để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.
Mặt khác khi thành lập doanh nghiệp vốn là điều kiện phải có theo quy định
của Nhà nước, nó đảm bảo tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp
luật,hoặc trong các mối quan hệ kinh doanh bên ngoài
Ngoài ra khi có một lượng vốn sinh lời, đó sẽ là điều kiện để doanh nghiệp
mở rộng phạm vi sản xuất và có thêm nhiều thị truờng tiềm năng.
3.2. Vai trò:
Vốn có vai trò chung với các doanh nghiệp trong việc đầu tư và những chi
phí cho các hoạt động cần thiết khác
Trong đầu tư vốn dùng để mua máy móc thiết bị mới thay cho máy cũ , đầu
tư vào kĩ thuật sản xuất và nâng cao trình độ lao động để đảm bảo sản xuất
được nhiều hơn và chất lượng sản phẩm tốt hơn.
Trong chi trả vốn được dùng để trả tiền lương ,nộp thuế,trả tiền cho người
cung ứng,các đóng góp xã hội,các hoạt động đảm bảo sản xuất hàng ngày của
doanh nghiệp.
Như vậy vai trò chung của vốn với doanh nghiệp là duy trì sản xuất , đổi
mới thiết bị công nghệ,tăng quy mô sản xuất,nâng cao chất lượng sản
phẩm,tạo việc làm cho người lao động…từ đó đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh
doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trườngtrong nước và quốc tế.
Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân ,vốn là điều kiện Nhà nước cơ cấu lại
các ngành sản xuất ,nâng cấp và mở rộng cơ sở hạ tầng ,tăng phúc lợi xã hội,
thực hiện phân công lại lao động xã hội , đảm bảo ổn định chính trị và tăng
trưởng kinh tế.
II. Phân loại vốn trong sản xuất kinh doanh
1. Theo đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển vốn
1.1.Vốn cố định
9
Là phần vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là
luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hình thành một
vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Loại vốn này được gọi là ứng trước vì sau khi sử dụng vốn một cách có
hiệu quả,vốn sẽ được thu hồi lại khi các sản phẩm hay dịch vụ mà doanh
nghiệp sản xuất ra được tiêu thụ .Khi vốn cố định càng lớn thì quy mô tài sản
cố định càng lớn như vậy lượng vốn cố định sẽ quyết định quy mô của tài sản
cố định .Ngược lại đặc điểm kinh tế kĩ thuật của tài sản cố định trong quá
trình sử dụng có ảnh hưởng đến đặc điểm chu chuyển của vốn cố định.Cụ thể
có hai đặc điểm :
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh nên nó phát huy
giá trị trong nhiều chu kì sản xuất.
Vốn cố định luân chuyển dần dần từng phần khi tham gia vào quá trình sản
xuất nên giá trị sử dụng tài sản cố định giảm dần,vốn cố định khi đó được
tách thành 2 phần:Một phần được đưa vào chi phí sản xuất dưới hình thức chi
phí khấu hao,khi có doanh thu thì được trích lại,phần trích này hình thành nên
quỹ khấu hao.Phần còn lại được giữ nguyên trong tài sản cố định ,trong các
chu kỳ sản xuất kế tiếp khi giá trị sử dụng của tài sản cố định giảm thì thì
phần vốn cố định tiếp tục giảm tương ứng.Khi tài sản cố định hết giá trị sử
dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành xong một vòng chu chuyển .
Vì vốn cố định đầu tư vào tài sản cố định nên để dễ dàng hơn trong việc
quản lí và sử dụng tài sản cố định thì tài sản cố định sẽ được phân loại như
sau :
1.1.1.Theo hình thái biểu hiện :
Tài sản cố định hữu hình : là những tài sản cố định chủ yếu có hình thái vật
chất ,có giá trị lớn(từ 5 triệu đồng trở lên) , thời gian sử dụng lâu dài (trên 1
năm) và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tài sản cố định vô hình :là những tài sản cố định không có hình thái vật chất
mà chỉ thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến
10
chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:chi phí thành lập doanh
nghiệp,chi phí sử dụng đất,chi phí bằng phát minh sáng chế ,bản quyền…
1.1.2.Theo hình thức sử dụng:
Tài sản cố định đang sử dụng:là những tài sản đang trực tiếp hoặc gián tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm,dịch vụ .Khi tỷ
trọng TSCĐ đã đưa vào sử dụng so với toàn bộ TSCĐ càng cao thì hiệu quả
sử dụng TSCĐ càng lớn.
Tài sản cố định chưa sử dụng:là những tài sản của doanh nghiệp do những
nguyên nhân khác nhau mà chưa thể đưa vào sử dụng như :tài sản dự trữ ,tài
sản đang xây dựng hoặc đang trong giai đoạn lắp ráp chạy thử.
Tài sản cố định chờ thanh lí:là những tài sản bị hư hỏng không thể sử dụng
được hoặc vẫn còn sử dụng được nhưng không phù hợp hay lạc hậu về kĩ
thuật
1.2. Vốn lưu động
Là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và được luân chuyển toàn bộ giá trị
ngay trong một lần,tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng luân chuyển
sau một chu kỳ sản xuất.
Như vậy,vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá
trình tái sản xuất và nó còn là công cụ phản ánh,đánh giá quá trình vận động
của tư liệu sản xuất trong một vòng tuần hoàn.
Để quản lí tốt vốn lưu động các nhà quản lí thường quan tâm tới việc xác
định chính xác nhu cầu thường xuyên tối thiểu về vốn lưu động của doanh
nghiệp, đó là cơ sở để tổ chức nguồn vốn hợp lí đáp ưng đầy đủ cho nhu cầu
sản xuất,mặt khác vốn lưu động cũng cần phải được đẩy nhanh tốc độ chu
chuyển để nâng cao hiệu quả sử dụng .
Vốn lưu động có thể được phân loại như sau
1.2.1.Theo quá trình tuần hoàn luân chuyển
Vốn dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu,phụ tùng thay thế
… dự trữ và chuẩn bị đưa vào sản xuất.
11
Vốn trong sản xuất:là bộ phận vốn phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản xuất
Vốn lưu thông : là bộ phận vốn phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hoá.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lí nên hạn chế bớt vốn dự trữ và vốn
nẵm trong lưu thông vì nó không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất .
1.2.2.Theo hình thái biểu hiện
Vốn vật tư hàng hoá :là các loại nguyên liệu chính ,vật liệu phụ,thành
phẩm,nhiên liệu,sản phẩm dở dang,hang gửi bán.
Vốn tiền tệ: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,ngoại tệ,chứng khoán
ngắn hạn,các khoản phải thu.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lí biết rõ lượng tiền và vật tư trong
vốn lưu động để quyết định lượng tối ưu cho hai loại trên .
1.2.3.Theo phương pháp xác định
Vốn lưu động định mức :là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết thường xuyên
trong hoạt động sản xuất kinh doanh có thể xác định như: vốn dự trữ,vốn
trong sản xuất và thành phẩm,hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản
phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến
Vốn lưu động không định mức :là số vốn lưu động có thể phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính toán .
2. Theo nguồn hình thành vốn
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có các phương thức
huy động vốn khác nhau,trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ,các
phương thức huy động vốn được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn vốn
trong nền kinh tế.Những nguồn vốn chính mà doanh nghiệp có thể có được
chia làm hai loại là :vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
2.1.Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp bao gồm :vốn góp
ban đầu ,lợi nhuận không chia,tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới .
2.1.1.Vốn góp ban đầu
12
Bất cứ doanh nghiệp nào khi thành lập thì phải có vốn điều lệ và số vốn
điều lệ đó phải lớn hơn hoặc bằng tổng mức vốn pháp định mà nhà nước đã
quy định cho các ngành nghề .
Với các doanh nghiệp nhà nước,ngay khi có quyết định thành lập doanh
nghiệp nhà nước sẽ được nhà nước cấp vốn điều lệ theo đúng điều lệ thành
lập của doanh nghiệp.Vốn điều lệ này có thể cấp bằng tiền ,bằng quyền sử
dụng đất ,bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình khác được đánh giá theo
thời giá nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước có thể sản xuất kinh
doanh bình thường,thậm chí có thể cạnh tranh trên thị trường.Trong quá trình
kinh doanh nếu thiếu vốn,Nhà nước sẽ không cấp thêm trừ một số trường hợp
đặc biệt
Đối với các doanh nghiệp khác thì theo Luật doanh nghiệp,chủ doanh
nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng kí thành lập doanh
nghiệp,với doanh nghiệp tư nhân thì tự cá nhân đó bỏ vốn ra.Với các doanh
nghiệp liên doanh,liên kết thì vốn do các thành viên cùng nhau đóng góp, đó
có thể là thành viên trong nước hoặc có yếu tố nước ngoài,tỷ lệ góp vốn của
các bên phụ thuộcvào các yếu tố như:luật pháp , đặc điểm ngành kinh tế kĩ
thuật,cơ cấu liên doanh…Với công ty cổ phần thì vốn do các cổ đông đóng
góp để hình thành công ty,mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ
chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ.
2.1.2.Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại
Đây là phần vốn tái đầu tư được lấy từ phần lợi nhuận để lại .Phần vốn này
chỉ có nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động có có lợi nhuận, được
phép tiếp tục đầu tư.
Vốn từ lợi nhuận không chia làm tăng quy mô vốn ban đầu của chủ doanh
nghiệp,nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì càng có điều kiện để tăng
trưởng nguồn vốn.Ngoài ra,tự tài trợ bằng lợi nhuận không chialà một phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì
13
nó giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí ,giảm bớt sự phụ thuộc vào bên
ngoài.
Đối với công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư
,tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần ,các cổ đông không
được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần
tăng lên của công ty, điều này tuy khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài
nhưng do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn nên có thể làm cho
giá cổ phiếu bị giảm sút,vì vậy các nhà quản lí số lợi nhuận tái đầu tư sao cho
hợp lí.
2.1.3.Phát hành cổ phiếu
Đây là hình thức áp dụng chủ yếu với các công ty cổ phần ,các công ty này
có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới,cổ phiếu
là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ để xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty,mà cổ phần chính là một
phần vốn điều lệ của công ty vì vậy khi phát hành thêm cổ phiếu mới thì vốn
điều lệ tăng nên vốn chủ sở hữu của công ty sẽ tăng.
Phát hành cổ phiếu tạo thành nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của
doanh nghiệp .Cổ phiếu gồm có hai loại chính :
Cổ phiếu thường :là loại cổ phiếu phát hành ra công chúng và lưu hành trên
thị trường chứng khoán,đây là loại cổ phiếu quan trọng nhất được mua bán
trên thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu ưu tiên:là loại cổ phiếu mà người sở hữu nó được hưởng những ưu
đãi nhất định như: có số phiếu biểu quyết nhiều hơn,được trả cổ tức cao hơn
hoặc được trả lại một phần vốn góp khi có yêu cầu của người sở hữu.Các cổ
phiếu ưu đãi có thể được công ty phát hành thu hồi lại nếu thấy cần thiết.
2.2.Nợ phải trả
2.2.1.Nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại
Đây là loại vốn mà doanh nghiệp vay từ NHTM theo hình thức vay dài hạn
(từ 3 năm trở lên),vay trung hạn(từ 1 đến 3 năm),vay ngắn hạn (dưới 1
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét