Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

hoàn thiện pháp luật về giao dịch đảm bảo trong hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

5



5
3.2.2.Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của đăng ký giao dịch bảo đảm 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6



6
KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BðTV Bảo đảm tiền vay
TSBð Tài sản bảo đảm
GDBð Giao dịch bảo đảm
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
SXKD Sản xuất kinh doanh
QPPL Quy phạm pháp luật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7



7
MỞ ðẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong q trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa trong thập kỷ vừa qua, Việt nam đã tiến hành những cải cách đầy ấn
tượng để cải thiện mơi trường đầu tư trong nước. Mặc dù những cải cách này đã
góp phần tạo nên một mơi trường thuận lợi cho việc tăng trưởng khu vực kinh tế tư
nhân, sự thiếu vắng các cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng vẫn là trở ngại lớn nhất
cho sự tăng trưởng rộng khắp của doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ tìm
cách tài trợ cho hoạt động của mình bằng lợi nhuận giữ lại hoặc những nguồn tín
dụng phi chính thức mà ngun nhân của hiện tượng này chính là khn khổ pháp
lý và thể chế còn yếu.
Kết quả phân tích kinh tế gợi ý rằng khả năng tiếp cận tín dụng là vơ cùng
quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và đặc biệt là đối với lợi ích của người
nghèo. Dỡ bỏ các hàng rào cản trở một loạt dịch vụ tài chính có thể giúp nâng cao
năng lực của doanh nghiệp và giảm thiểu quy mơ của khối phi chính thức.
Chính phủ Việt nam hiện đang hỗ trợ cho việc thành lập hệ thống các Trung
tâm thơng tin tín dụng tư nhân giúp các ngân hàng đánh giá độ tin cậy về tín dụng
của khách vay. Ngồi ra, nhận thức được lợi ích kinh tế của việc dùng động sản
làm bảo đảm tiền vay, từ giữa những năm 1990 đến nay Chính phủ đã và đang tiến
hành những nỗ lực cải cách đáng kể nhằm cải thiện mơi trường cho vay tín dụng.
Gần đây nhất, Chính phủ đã thơng qua Bộ luật Dân sự 2005 và một Nghị định mới
về giao dịch bảo đảm vào tháng 12 năm 2006 để đưa khung pháp lý và thể chế hiện
nay phù hợp với các ngun tắc về thực tiễn tốt nhất của quốc tế.
Trong khi các luật mới đang cải thiện đáng kể mơi trường cho vay hiện nay,
thì cũng khơng thể phủ nhận rằng vẫn còn những hạn chế trong hệ thống pháp luật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8



8
về giao dịch bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại. Chính vì những lý do
trên nên tơi đã quyết định chọn đề tài “Hồn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm
trong hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam”
2. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận chung cơ bản về giao dịch bảo đảm
tiền vay, hệ thống hóa các quy định về bảo đảm tiền vay. Trên cơ sở đó phân tích,
đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động
của các ngân hàng thương mại. Cuối cùng là nêu ra các đề xuất, kiến nghị, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt
động cho vay của các ngân hàng thương mại.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu từ phương pháp
luận duy vật biện chứng đến các phương pháp nghiên cứu cụ thể như điều tra, khảo
sát, tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp với giữa lý luận với thực tiễn.
Các lý luận liên quan đến hoạt động ngân hàng đã được tổng hợp, đúc kết sẽ
được sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu đề tài cùng với vận dụng kết quả
nghiên cứu của các cơng trình khóa học có liên quan đến hoạt động ngân hàng
thương mại để làm sâu sắc thêm các luận điểm.
4.Những đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của bảo đảm tiền vay như khái niệm,
đặc điểm, vai trò, bản chất, chủ thể tham gia bảo đảm tiền vay, thực trạng áp dụng
pháp luật về bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, thơng qua đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này. Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho việc hồn thiện ác quy định về bảo
đảm tiền vay.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9



9
Những đề xuất, kiến nghị cụ thể của luận văn góp phần hồn thiện pháp luật
về giao dịch bảo đảm, nâng cao hoạt động của các ngân hàng thương mại, đặc biệt
là trong giai đoạn xu thế tồn cầu đang diễn ra mạnh mẽ. Kết quả nghiên cứu của
luận văn sẽ góp phần vào việc hoạch định chính sách tiền tệ, quản lý hoạt động của
ngân hàng nói chung.
Kết cấu của luận văn:
Ngồi lời mở đầu, danh mục ký hiệu các chữ viết tắt, kết luận, danh mục văn
bản pháp luật và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương.

Chương 1: Lý luận chung về giao dịch bảo đảm tiền vay
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt
động của các ngân hàng thương mại
Chương 3: Các u cầu và kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật về bảo
đảm tiền vay đối với các ngân hàng thương mại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10



10
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG
VỀ GIAO DỊCH BẢO ðẢM TIỀN VAY
1.1.Khái niệm, đặc điểm về giao dịch bảo đảm tiền vay
1.1.1. Khái niệm về giao dịch bảo đảm tiền vay
Khái niệm về giao dịch bảo đảm tiền vay tồn tại trong pháp luật của hầu hết
các nước trên thế giới và được coi là một phần khơng thể thiếu của các Bộ luật Dân
sự. Tuy nhiên nội hàm và phạm vi của khái niệm này lại được xem xét khá khác
nhau bởi các hệ thống luật trên thế giới. Nó được nhìn nhận ở rất nhiều nước rằng
giao dịch bảo đảm tiền vay bao gồm việc xác lập quyền đối với tài sản bảo đảm
của người chủ sở hữu cho bên cho vay
1
.
Hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới có hai xu hướng cơ bản khác nhau
khi tiếp cận khái niệm này, đó là tiếp cận theo hướng hình thức hoặc chức năng.
Các nước trong hệ thống pháp luật Civil Law theo xu hướng hình thức, tức
rất quan tâm tới việc phân biệt giữa loại biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp, bảo
lãnh…) và quy định về từng loại biện pháp bảo đảm chứ thường khơng đưa ra một
khái niệm chung về giao dịch bảo đảm. Một giao dịch, miễn rằng bao gồm một
hoặc nhiều biện pháp bảo đảm đã được quy định, thì nó sẽ được coi là một giao
dịch bảo đảm. Chính vì thế, pháp luật của các nước Civil Law quy định về các biện
pháp bảo đảm theo hướng liệt kê và khái niệm này khá hẹp, thường chỉ bao gồm
các bảo đảm mang tính chất truyền thống như “cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh,
….”. Có thể thấy các quy định về bảo đảm ở điều 2017 Bộ luật Dân sự Pháp,
khoản 2 ðiều 334 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa liên bang Nga.
Khác với các quốc gia trong hệ thống Civil law, các quốc gia trong hệ thống
Common Law đi theo xu hướng chức năng. Pháp luật của các quốc gia này dựa

1
“Legal problems of credit and security”, Prof. Royston Miles Goode, Oxford University
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11



11
trên “lợi ích bảo đảm” (security interest) như là nguồn gốc của mọi giao dịch. Khái
niệm giao dịch bảo đảm (secured transactions) được hiểu là tồn bộ các giao dịch,
khơng phụ thuộc vào hình thức và tên gọi, có mục đích tạo lập lợi ích bảo đảm. Lợi
ích bảo đảm có thể thấy ở Mỹ trong điều 9 của Bộ Luật Thương Mại thống nhất, ở
New Zealand trong điều 9 luật về Bảo ðảm Quyền Sở Hữu Tài Sản Cá Nhân năm
1999. ðiều 17 Luật về bảo đảm của NewZealand-NewZealand PPSA đưa ra khái
niệm về “lợi ích bảo đảm là lợi ích đối với động sản được xác lập hoặc cung cấp
thơng qua giao dịch nhằm bảo đảm cho một khoản nợ hoặc cho việc thực hiện
nghĩa vụ, khơng phụ thuộc vào

hình thức của giao dịch hay nhân thân của người
có quyền với tài sản bảo đảm; và bao gồm lợi ích được xác lập hoặc cung cấp
thơng qua việc chuyển giao tài khoản nợ hoặc chứng thư bảo đảm, việc th có
thời hạn trên một năm, và ký gửi thương mại (bất kể việc chuyển giao, th hay ký
gửi đó có bảo đảm cho khoản nợ hoặc cho việc thực hiện nghĩa vụ hay khơng)”.
Bắt nguồn từ tư duy coi “lợi ích” bảo đảm là gốc, các quốc gia trong hệ thống
Common Law khơng quan tâm tới quy định các biện pháp bảo đảm cụ thể như cầm
cố, thế chấp, bảo lãnh … mà chỉ quan tâm tới việc thực hiện lợi ích bảo đảm và các
vấn đề liên quan tới lợi ích bảo đảm. Tất cả các giao dịch có chức năng làm phát
sinh lợi ích bảo đảm khơng phụ thuộc vào tên gọi của giao dịch đều sẽ được điều
chỉnh bởi pháp luật về bảo đảm. Ở đây phát sinh vấn đề rằng khơng chỉ các biện
pháp bảo đảm mang tính chất truyền thống (cầm cố, thế chấp,…) làm phát sinh lợi
ích bảo đảm mà có cả các giao dịch khác cũng làm phát sinh lợi ích bảo đảm. Do
vậy, ở các quốc gia này, nội hàm của khái niệm bảo đảm ngồi việc bao hàm biện
pháp bảo đảm mang tính chất truyền thống còn bao hàm rộng hơn cả những giao
dịch khác có tính chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ như th mua tài
chính, gửi bán thương mại, chuyển nhượng nợ, cho th tài sản dài hạn.v.v…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12



12
Xu hướng chức năng được thấy ở Mỹ trong điều 9 của Bộ Luật Thương Mại
thống nhất, ở New Zealand trong điều 9 luật về Bảo ðảm Quyền Sở Hữu Tài Sản
Cá Nhân năm 1999, trong luật một số bang của Canada. Hệ thống pháp luật của
những quốc gia khác, bao gồm Vương Quốc Anh và các quốc gia trong hệ thống
pháp luật Common law ngồi Bắc Mỹ và New Zealand, các quốc gia trong hệ
thống Civil Law thì theo xu hướng hình thức.
Tại Việt Nam do bộ Luật Dân Sự bị ảnh hưởng nhiều của bộ luật dân sự
Pháp, cách tiếp cận của Việt Nam là cách tiếp cận theo xu hướng hình thức. Pháp
luật hiện hành của Việt Nam mà văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật
Dân sự đưa ra định nghĩa một cách liệt kê về các biện pháp bảo đảm, các giao dịch
bảo đảm, theo cách hiểu chung nhất là một giao dịch bao gồm một hoặc nhiều
trong số 7 biện pháp bảo đảm mà Bộ luật Dân sự đưa ra.
“Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:
a)Cầm cố tài sản;
b)Thế chấp tài sản;
c)ðặt cọc;
d)Ký cược;
đ)Ký quỹ;
e)Bảo lãnh;
g)Tín chấp;”
2

Trước đây trong nghị định 178/1999/Nð-CP về bảo đảm tiền vay của tổ
chức tín dụng đã từng đưa ra một khái niệm về bảo đảm tiền vay “B¶o ®¶m tiỊn
vay lµ viƯc tỉ chøc tÝn dơng ¸p dơng c¸c biƯn ph¸p nh»m phßng ngõa rđi ro, t¹o c¬
së kinh tÕ vµ ph¸p lý ®Ĩ thu håi ®−ỵc c¸c kho¶n nỵ ® cho kh¸ch hµng vay”.

2
ðiều 318 Bộ luật Dân sự 2005
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13



13
Nghị định 163/2006/Nð-CP về giao dịch bảo đảm được ban hành để thay
thế nghị định 178/1999/Nð-CP đồng thời thống nhất hóa các quy định về giao dịch
bảo đảm, các giao dịch bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng kể từ thời điểm nghị
định 163/2006/Nð-CP có hiệu lực sẽ được coi như các bảo đảm dân sự và tn
theo luật dân sự. Nghị định 163 khơng đưa ra một định nghĩa cụ thể về biện pháp
bảo đảm, tuy nhiên lại là sự cụ thể hóa của điều 318 Bộ luật Dân sự và quy định
bằng cách liệt kê các biện pháp bảo đảm.Theo người viết, điều này mang lại sự
khơng hợp lý. Bởi trong thực tế, hiện nay trong hoạt động tài chính của Việt Nam
đã xuất hiện rất nhiều các giao dịch khác có tính chất bảo đảm việc thực hiện nghĩa
vụ, những giao dịch này cần được điều chỉnh bởi nghị định 163. Vì vậy, khơng nên
quy định theo hướng nghị định này chỉ được giới hạn phạm vi của các giao dịch
bảo đảm theo luật dân sự. Nên đưa ra một định nghĩa mang tính chất mở hơn trong
nghị định và quy định theo xu hướng chức năng như Common Law chứ khơng nên
theo hướng hình thức của Civil Law. ðịnh nghĩa nên mở rộng đối với mọi loại giao
dịch bảo đảm và mọi loại nghĩa vụ bảo đảm.
Dựa trên cách tiếp cận theo chức năng của các bảo đảm tiền vay, chúng ta có
thể có một định nghĩa về giao dịch bảo đảm tiền vay như sau:
Giao dịch bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận giữa các bên dựa trên các quy
định của pháp luật, theo đó bên cho vay được nhận quyền đối với tài sản của bên
vay hoặc bên thứ ba nhằm đảm bảo việc trả nợ, ngăn ngừa vi phạm và tạo dựng
khả năng khắc phục những hậu quả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây ra.
1.1.2. Lịch sử của pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm tiền vay và các biện
pháp bảo đảm tiền vay:
Sau Bộ luật Dân sự 1995, việc ban hành các nghị định về giao dịch bảo đảm,
bảo đảm tiền vay, đăng ký giao dịch bảo đảm là các mốc quan trọng trong q
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14



14
trình xây dựng, hồn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong q
trình thực hiện các văn bản này đã bộc lộ khơng ít bất cập như: mâu thuẫn trong
quy định về giao dịch bảo đảm giữa Bộ luật dân sự và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế,
sự song hành tồn tại của 2 quy chế về giao dịch bảo đảm áp dụng đối với các chủ
nợ nói chung và đối với tổ chức tín dụng nói riêng (Nghị định 165/1999/Nð-CP và
Nghị định 178/1999/Nð-CP) gây khó khăn khi lựa chọn luật áp dụng; các hạn chế
đối với TCTD khi nhận tài sản bảo đảm là động sản, hàng lưu kho, tài sản hình
thành trong tương lai; quyền tự do thỏa thuận của các bên trong giao dịch chưa
thực sự được tơn trọng; thứ tự ưu tiên thanh tốn khơng rõ ràng


ðể khắc phục phần nào các bất cập và hồn thiện hơn pháp luật về giao dịch
bảo đảm, Bộ luật Dân sự 2005, Nghị định 163/2006/Nð-CP của Chính phủ ngày
29/12/2006 được ban hành. Các văn bản này đã giải quyết các khúc mắc của các
bên nhận tài sản bảo đảm nói chung và các TCTD nói riêng với các quy định tiến
bộ về trình tự, thủ tục thiết lập bảo đảm; quyền tự do thỏa thuận cho các chủ thể
tham gia giao dịch được mở rộng; thứ tự ưu tiên thanh tốn giữa các loại chủ nợ
khác nhau được xác định rõ.v.v. Tuy nhiên, đến nay trong q trình hoạt động các
TCTD vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến giao dịch bảo đảm và
cơng chứng, do rất nhiều ngun nhân như có sự khơng thống nhất trong việc áp
dụng các quy định pháp luật có liên quan của các cán bộ tác nghiệp tại phòng cơng
chứng và cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm
1.1.3 ðặc điểm của giao dịch bảo đảm tiền vay
Giao dịch bảo đảm tiền vay tất nhiên đều bao gồm những đặc điểm cơ bản
của một giao dịch được điều chỉnh bởi pháp luật Dân sự, tuy nhiên giao dịch bảo
đảm tiền vay vẫn mang những đặc điểm của riêng nó, giúp phân biệt giao dịch bảo
đảm với các loại giao dịch khác.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét