Luận văn tốt nghiệp
thoả mãn cả hai tiêu chuẩn cơ bản trên và không hình thành TSCĐHH thì đợc
coi là các TSCĐVH của doanh nghiệp. Ví dụ nh các chi phí mua bằng sáng chế,
phát minh, bản quyền, các chi phí thành lập doanh nghiệp
Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là sự tham gia vào những
chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình
tham gia sản xuất, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ
không thay đổi. Song TSCĐ bị hao mòn dần (hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình) và chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất chuyển hoá
thành vốn lao động. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi
phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đợc bù đắp mỗi khi sản phẩm
đợc tiêu thụ. Hay lúc này nguồn vốn cố định bị giảm một lợng đúng bằng giá
trị hao mòn của TSCĐ đồng thời với việc hình thành nguồn vốn đầu t XDCB
đợc tích luỹ bằng giá trị hao mòn TSCĐ. Căn cứ vào nội dung đã trình bày trên
có thể rút ra khái niệm về TSCĐ trong doanh nghiệp nh sau :
TSCĐ trong các doanh nghiệp là những t liệu lao động chủ yếu có giá trị
lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, còn giá trị của nó thì đợc chuyển dịch
từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, các TSCĐ của doanh nghiệp
cũng đợc coi nh bất cứ một loại hàng hoá thông thờng khác. Vì vậy nó cũng
có những đặc tính của một loại hàng hoá có nghĩa là không chỉ có giá trị mà còn
có giá trị sử dụng. Thông qua quan hệ mua bán, trao đổi trên thị trờng, các
TSCĐ có thể đợc dịch chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này
sang chủ thể khác.
1.2.3. Hao mòn- khấu hao TSCĐ.
1.2.3.1. Hao mòn.
TSCĐ trong quá trình tham gia vào sản xuất, vẫn giữ nguyên hình thái vật
chất ban đầu nhng trong thực tế do chịu ảnh hởng của nhiều nguyên nhân
khác nhau khách quan và chủ quan làm cho TSCĐ của doanh nghiệp bị giảm dần
về tính năng, tác dụng, công năng, công suất và do đó giảm dần giá trị của
TSCĐ, đó chính là hao mòn TSCĐ.
TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn dới hai hình thức: hao mòn hữu hình
(HMHH) và hao mòn vô hình (HMVH) .
- Hao mòn hữu hình.
HMHH của TSCĐ là sự hao mòn về vật chất, về thời gian sử dụng và giá trị
của TSCĐ trong quá trình sử dụng.
Việc xác định rõ nguyên nhân của những HMHH TSCĐ sẽ giúp cho các
doanh nghiệp đa ra những biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó.
Luận văn tốt nghiệp
- Hao mòn vô hình.
Đồng thời với sự HMHH của TSCĐ lại có sự hao mòn vô hình (HMVH).
HMVH của TSCĐ là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ. HMVH của
TSCĐ có thể do nhiều nguyên nhân.
Mất giá trị của TSCĐ do việc tái sản xuất TSCĐ cùng loại mới rẻ hơn. Hình
thức HMVH này là kết quả của việc tiết kiệm hao phí lao động xã hội hình thành
nên khi xây dựng TSCĐ.
Mất giá trị của TSCĐ do năng suất thấp hơn và hiệu quả kinh tế lại ít hơn khi
sử dụng so với TSCĐ mới sáng tạo hiện đại hơn về mặt kỹ thuật. Ngoài ra, TSCĐ
có thể bị mất giá trị hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống của sản phẩm, tất yếu
dẫn đến những TSCĐ sử dụng để chế tạo cũng bị lạc hậu, mất tác dụng.
Nh vậy không những HMHH của TSCĐ làm cho mức khấu hao và tỷ lệ
khấu hao có sự thay đổi mà ngay cả HMVH của TSCĐ cũng làm cho mức khấu
hao và tỷ lệ khấu hao có sự thay đổi nữa.
Do đó biện pháp có hiệu quả nhất để khắc phục HMVH là doanh nghiệp phải
coi trọng đổi mới khoa học kỹ thuật công nghệ, sản xuất, ứng dụng kịp thời các
thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật. Điều này có ý nghĩa quyết định trong việc
tạo ra các lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trờng.
1.2.3.2. Khấu hao TSCĐ.
KHTSCĐ là việc chuyển dịch dần giá trị hao mòn của TSCĐ vào chi phí sản
xuất trong kỳ theo phơng pháp tính toán thích hợp.
Khi tiến hành KHTSCĐ là nhằm tích luỹ vốn để thực hiện quá trình tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng TSCĐ. Vì vậy, việc lập nên quỹ KHTSCĐ
là rất có ý nghĩa. Đó là nguồn tài chính quan trọng để giúp doanh nghiệp thờng
xuyên thực hiện việc đổi mới từng bộ phận, nâng cấp, cải tiến và đổi mới toàn bộ
TSCĐ. Theo quy định hiện nay của nhà nớc về việc quản lý vốn cố định của các
doanh nghiệp thì khi cha có nhu cầu đầu t, mua sắm, thay thế TSCĐ các doanh
nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao để đáp ứng các nhu cầu
sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn trả.
1.2.3.3.Phơng pháp tính khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp .
Theo quy định hiện hành của Bộ trởng Bộ tài chính thì mọi TSCĐ của doanh
nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải tính khấu hao, mức tính
KHTSCĐ đợc hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Có rất nhiều phơng pháp khác nhau để tính KHTSCĐ trong các doanh
nghiệp. Mỗi phơng pháp có những u nhợc điểm riêng. Việc lựa chọn đúng
đắn phơng pháp KHTSCĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản ý vốn cố
Luận văn tốt nghiệp
định trong các doanh nghiệp. Thông thờng có các phơng pháp khấu hao cơ
bản sau:
* Phơng pháp khấu hao bình quân (còn gọi là phơng pháp khấu hao theo
đờng thẳng).
Đây là phơng pháp khấu hao đơn giản nhất, đợc sử dụng phổ biến để tính
khấu hao các loại TSCĐ trong doanh nghiệp. Theo phơng pháp này, tỷ lệ và
mức khấu hao hàng năm đợc xác định theo mức không đổi trong suốt thời gian
sử dụng TSCĐ :
NG
MKH =
T
M
kh
1
T
kh
= x 100% hay T
KH
= x100%
ng T
Các ký hiệu:
M
KH
: Mức tính khấu hao trung bình hàng năm.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm.
NG: Nguyên giá của TSCĐ.
T: Thời gian sử dụng của TSCĐ (năm).
Nếu doanh nghiệp trích cho từng tháng thì lấy số khấu hao phải trích cả năm
chia cho 12 tháng.
Tuy nhiên trong thực tế phơng pháp khấu hao bình quân có thể sử dụng với
nhiều sự biến đổi nhất định cho phù hợp với đặc điểm sử dụng của TSCĐ trong
từng ngành, từng doanh nghiệp, có thể nêu ra một số trờng hợp sau:
Tỷ lệ khấu hao và mức khấu hao đợc xác định theo công thức trên là trong
điều kiện sử dụng bình thờng. Trong thực tế nếu đợc sử dụng trong điều kiện
thuận lợi hoặc khó khăn hơn mức bình thờng thì doanh nghiệp có thể điều
chỉnh lại tỷ lệ khấu hao và mức khấu hao bình quân hàng năm cho phù hợp bằng
cách điều chỉnh thời hạn khấu hao từ số năm sử dụng tối đa đến số năm sử dụng
tối thiểu đối với từng loại TSCĐ hoặc nhân tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm
với hệ số điều chỉnh.
T
kđ
= T
kh
x H
đ
Trong đó:
T
kđ
: Tỷ lệ khấu hao điều chỉnh.
Luận văn tốt nghiệp
T
kh
: Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm.
H
đ
: Hệ số điều chỉnh (H
đ
> 1 hoặc H
đ
< 1).
Tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm có thể tính cho từng TSCĐ cá biệt (
khấu hao bình quân cá biệt) hoặc trích cho từng nhóm, từng loại TSCĐ hoặc toàn
bộ các nhóm, loại TSCĐ của doanh nghiệp (khấu hao bình quân tổng hợp). Trên
thực tế việc tính khấu hao theo từng TSCĐ cá biệt sẽ làm tăng khối lợng công
tác tính toán và quản lý chi phí khấu hao. Vì thế doanh nghiệp thờng sử dụng
phơng pháp khấu hao bình quân tổng hợp trong đó mức khấu hao trung bình
hàng năm đợc tính cho từng nhóm, từng loại TSCĐ.
Nhìn chung, phơng pháp khấu hao bình quân đợc sử dụng phổ biến là do
u điểm của nó. Đây là phơng pháp tính toán đơn giản, dễ hiểu. Mức khấu hao
đợc tính vào giá thành sản phẩm sẽ ổn định và nh vậy sẽ tạo điều kiện ổn định
giá thành sản phẩm. Tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, trong doanh
nghiệp sử dụng phơng pháp khấu hao bình quân tổng hợp cho tất cả các loại
TSCĐ của doanh nghiệp thì sẽ giảm đợc khối lợng công tác tính toán, thuận
lợi cho việc lập kế hoạch KHTSCĐ của doanh nghiệp. Tuy nhiên nhợc điểm
của phơng pháp này là không phản ánh chính xác mức độ hao mòn thực tế của
TSCĐ và đồng thời giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử dụng TSCĐ sẽ
không giống nhau. Hơn nữa, do tính bình quân nên khả năng thu hồi vốn đầu t
chậm và nh vậy không thể hạn chế ảnh hởng bất lợi của HMVH đối với TSCĐ
trong doanh nghiệp.
* Phơng pháp khấu hao giảm dần.
Ngời ta thờng sử dụng phơng pháp khấu hao giảm dần để khắc phục
những nhợc điểm của phơng pháp khấu hao bình quân. Phơng pháp khấu hao
này đợc sử dụng nhằm mục đích đẩy nhanh mức KHTSCĐ trong năm đầu sử
dụng và giảm dần mức khấu hao theo thời hạn sử dụng. Đây là phơng pháp rất
thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập vì những năm đầu họ muốn quay
vòng vốn nhanh để thực hiện phát triển sản xuất.
Phơng pháp khấu hao giảm dần có hai cách tính toán tỷ lệ và mức khấu hao
hàng năm, đó là phơng pháp khấu hao theo số d giảm dần hoặc khấu hao theo
tổng số thứ tự năm sử dụng:
Phơng pháp khấu hao theo số d giảm dần.
Theo phơng pháp này thì số tiền khấu hao hàng năm đợc tính bằng cách
lấy giá trị còn lại của TSCĐ theo thời gian sử dụng nhân với tỷ lệ khấu hao
không đổi. Nh vậy, mức và tỷ lệ khấu hao theo thời gian sử dụng sẽ giảm dần.
Có thể tính mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng nh sau:
M
khi
= G
cđi
x T
kh
Luận văn tốt nghiệp
Trong đó:
M
khi
: Mức khấu hao ở năm thứ i.
G
cđi
: Giá trị còn lại của TSCĐ vào đầu năm thứ i.
T
kh
: Tỷ lệ khấu hao hàng năm (theo phơng pháp số d).
Phơng pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng.
Theo phơng pháp này số tiền khấu hao đợc tính bằng cách nhân giá trị ban
đầu của TSCĐ với tỷ lệ khấu hao giảm dần qua các năm. Tỷ lệ khấu hao này
đợc xác định bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại chia cho tổng số thứ tự năm
sử dụng. Công thức tính toán nh sau:
M
KHi
= NG x T
KHi
2 x ( T- t +1 )
T
KH
=
T x ( T+1 )
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao hàng năm.
NG: Nguyên giá của TSCĐ.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao theo năm sử dụng.
T: Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ.
t: Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao.
Phơng pháp khấu hao giảm dần có những u điểm cơ bản đó là phản ánh
chính xác hơn mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, nhanh chóng thu hồi
vốn đầu t mua sắm TSCĐ trong những năm đầu sử dụng, hạn chế đợc những
ảnh hởng bất lợi của HMVH. Tuy nhiên phơng pháp này cũng có nhợc điểm
đó là việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽ phức tạp hơn,
số tiền trích khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng thời hạn sử dụng TSCĐ cũng
cha đủ bù đắp toàn bộ giá trị đầu t ban đầu vào TSCĐ của doanh nghiệp.
* Phơng pháp khấu hao giảm dần kết hợp với khấu hao bình quân.
Để khắc phục nhợc điểm của phơng pháp khấu hao bình quân cũng nh
phơng pháp khấu hao giảm dần, ngời ta thờng sử dụng kết hợp hai phơng
pháp trên. đặc điểm của phơng pháp này là trong năm đầu sử dụng ngời ta sử
dụng phơng pháp khấu hao giảm dần, còn những năm cuối thì thực hiện phơng
pháp khấu hao bình quân. Mức khấu hao bình quân trong những năm cuối của
Luận văn tốt nghiệp
thời gian sử dụng TSCĐ sẽ bằng tổng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm
sử dụng còn lại.
Theo quy định hiện nay của Nhà nớc thì TSCĐ trong các doanh nghiệp (
nhà nớc ) đợc trích khấu hao theo phơng pháp đờng thẳng, nội dung nh
sau:
- Căn cứ vào các quy định sẽ xác định thời gian sử dụng của TSCĐ.
- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho TSCĐ theo công
thức dới đây:
Nguyên giá TSCĐ
Mức trích khấu hao trung bình hàng năm =
Thời gian sử dụng.
Thời gian sử dụng hay nguyên giá TSCĐ thay đổi, doanh nghiệp phải xác
định lại mức khấu hao TSCĐ trung bình của TSCĐ bằng cách lấy giá trị còn lại
trên sổ sách kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sử
dụng còn lại (đợc xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký và
thời gian đã sử dụng) của TSCĐ.
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ đợc
xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và khấu hao luỹ kế đã thực hiện của
TSCĐ đó.
Nh vậy, việc nghiên cứu các phơng pháp KHTSCĐ sẽ giúp cho các doanh
nghiệp lựa chọn phơng pháp khấu hao cho phù hợp với chiến lợc kinh doanh
của doanh nghiệp, để đảm bảo cho việc thu hồi vốn, bảo toàn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
1.3. Nội dung công tác quản lý sử dụng TSCĐ.
1.3.1. Quản lý đầu t vào TSCĐ.
Khi doanh nghiệp quyết định đầu t vào TSCĐ sẽ tác động đến hoạt động
kinh doanh ở hai khía cạnh là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trớc mắt và
lợi ích mà doanh nghiệp thu đợc trong tơng lai. Chi phí của doanh nghiệp sẽ
tăng lên do chi phí đầu t phát sinh đồng thời phải phân bổ chi phí khấu hao (tuỳ
theo thời gian hữu ích). Còn lợi ích đem lại là việc nâng cao năng lực sản xuất,
tạo ra đợc sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao trên thị trờng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng nh hiện nay, sản xuất và tiêu thụ chịu
sự tác động nghiệt ngã của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Do vậy, vấn
đề đặt ra cho các doanh nghiệp khi tiến hành việc đầu t TSCĐ là phải tiến hành
tự thẩm định tức là sẽ so sánh giữa chi tiêu và lợi ích, tính toán một số chỉ tiêu ra
quyết định đầu t nh NPV, IRR để lựa chọn phơng án tối u.
Luận văn tốt nghiệp
Nhìn chung, đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý sử dụng
TSCĐ vì nó là công tác khởi đầu khi TSCĐ đợc sử dụng tại doanh nghiệp.
Những quyết định ban đầu có đúng đắn thì sẽ góp phần bảo toàn vốn cố định.
Nếu công tác quản lý này không tốt, không có sự phân tích kỹ lỡng trong việc
lựa chọn phơng án đầu t xây dựng mua sắm sẽ làm cho TSCĐ không phát huy
đợc tác dụng để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả và nh vậy
việc thu hồi toàn bộ vốn đầu t là điều không thể.
1.3.2. Quản lý sử dụng, giữ gìn và sửa chữa TSCĐ.
Việc sửa chữa TSCĐ nói chung chia ra làm sửa chữa lớn và sửa chữa thờng
xuyên. Trong khi sửa chữa phải thay đổi phần lớn phụ tùng của TSCĐ, thay đổi
hoặc sửa chữa bộ phận chủ yếu của TSCĐ nh thân máy, giá máy, phụ tùng
lớn Việc sửa chữa nh vậy đều thuộc phạm vi của sửa chữa lớn. Đặc điểm của
công tác sửa chữa lớn là có phạm vi rộng, thời gian dài, cần phải có thiết bị kỹ
thuật và tổ chức chuyên môn sửa chữa lớn.
Sửa chữa thờng xuyên là sửa chữa có tính chất hàng ngày để giữ gìn công
suất sử dụng đều đặn của TSCĐ. Ví dụ nh thay đổi lẻ tẻ những chi tiết đã bị hao
mòn ở những thời kỳ khác nhau. Sửa chữa thờng xuyên chỉ có thể giữ đợc
trạng thái sử dụng đều đặn của TSCĐ chứ không thể nâng cao công suất của
TSCĐ lên hơn mức cha sửa chữa đợc.
Thực tiễn cho thấy rằng chế độ bảo dỡng thiết bị máy móc là có nhiều u
điểm nh khả năng ngăn ngừa trớc sự hao mòn quá đáng và tình trạng h hỏng
bất ngờ cũng nh chủ động chuẩn bị đầy đủ khiến cho tình hình sản xuất không
bị gián đoạn đột ngột. Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà mỗi doanh nghiệp thực hiện
chế độ sửa chữa với các mức độ khác nhau.
Thông thờng khi tiến hành sửa chữa lớn TSCĐ thờng kết hợp với việc hiện
đại hoá, với việc cải tạo thiết bị máy móc. Khi việc sửa chữa lớn, kể cả việc hiện
đại hoá, cải tạo máy móc, thiết bị hoàn thành thì nguồn vốn sửa chữa lớn TSCĐ
giảm đi, vốn cố định tăng lên vì TSCĐ đợc sửa chữa lớn đã khôi phục ở mức
nhất định phần giá trị đã hao mòn, nên từ đó tuổi thọ của TSCĐ đợc tăng thêm,
tức là đã kéo dài thời hạn sử dụng. Đây là một nội dung cần thiết trong quá trình
quản lý sử dụng TSCĐ, nếu đợc tiến hành kịp thời, có kế hoạch kỹ lỡng thì
việc tiến hành sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao.
1.3.3. Quản lý KHTSCĐ trong doanh nghiệp.
Khi sử dụng TSCĐ, doanh nghiệp cần quản lý khấu hao một cách chặt chẽ vì
có nh vậy mới có thể thu hồi đợc vốn đầu t ban đầu. Các doanh nghiệp
thờng thực hiện việc lập kế hoạch KHTSCĐ hàng năm. Thông qua kế hoạch
khấu hao, doanh nghiệp có thể thấy nhu cầu tăng giảm vốn cố định trong năm kế
hoạch, khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu đó. Vì kế hoạch khấu hao là một
Luận văn tốt nghiệp
căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét, lựa chọn quyết định đầu t đổi mới
TSCĐ trong tơng lai.
Để lập đợc kế hoạch khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp thờng tiến hành theo
trình tự nội dung sau:
+ Xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao và tổng nguyên giá TSCĐ phải
tính khấu hao đầu kỳ kế hoạch.
Doanh nghiệp phải dựa vào những quy định hiện hành.
Về nguyên tắc KHTSCĐ doanh nghiệp phải tiến hành triển khai từ quý 4
năm báo cáo do đó:
- Tổng nguyên giá TSCĐ hiện có ở đầu kỳ kế hoạch:
TNG
đ
= TNG
30/9
+ NG
t4
NG
g4
.
- Nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao đầu kỳ.
TNG
đk
= TNG
k30/9
+NG
tk4
NG
gt4
.
Trong đó:
TNG
đ
: Tổng nguyên giá TSCĐ hiện có đầu kỳ.
TNG
30/9
: Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm 30/9 năm báo cáo.
NG
t4
: Nguyên giá TSCĐ tăng quý 4 năm báo cáo.
NG
g4
: Nguyên giá TSCĐ giảm quý 4 năm báo cáo.
TNG
đk
: Tổng nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao đầu kỳ.
TNG
k30/9
: Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm 30/9 năm báo cáo.
NG
tk4
: Tổng nguyên giá TSCĐ tăng phải tính khấu hao quý 4 năm báo
cáo
NG
gt4
: Tổng nguyên giá TSCĐ giảm phải tính khấu hao quý 4 năm báo
+ Xác định giá trị TSCĐ bình quân tăng giảm trong kỳ kế hoạch và nguyên
giá bình quân TSCĐ phải trích khấu hao trong kỳ.
Dựa vào các kế hoạch đầu t và xây dựng năm kế hoạch để xác định nguyên
giá TSCĐ bình quân tăng phải tính khấu hao và bình quân giảm thôi không tính
khấu hao. Tuy nhiên, việc tính toán phải đợc thực hiện theo phơng pháp bình
quân gia quyền vì việc tăng giảm TSCĐ thờng diễn ra ở nhiều thời điểm khác
nhau và thời gian tăng giảm TSCĐ đa vào tính toán phải đợc thực hiện theo
quy định hiện hành là tính chẵn cả tháng.
Luận văn tốt nghiệp
Nguyên giá bình quân tăng TSCĐ cần trích khấu hao và bình quân giảm thôi
không tính khấu hao trong kỳ đợc xác định theo công thức:
)(
1
xTsdNGti
n
i
=
NG
tk
=
12
][
=
n
i
TsdNGgix
1
)12(
và NG
gt
=
12
Trong đó:
NG
tk
: Nguyên giá bình quân TSCĐ tăng trong kỳ phải tính khấu hao.
NG
ti
: Nguyên giá bình quân TSCĐ thứ i tăng trong kỳ phải tính kháu hao.
NG
gt
: Nguyên giá bình quân TSCĐ giảm trong kỳ thôi tính khấu hao.
NG
gi
: Nguyên giá bình quân TSCĐ thứ i giảm trong kỳ thôi tính khấu hao.
T
sd
: Số tháng doanh nghiệp sử dụng TSCĐ .
+ Xác định nguyên giá TSCĐ tăng trong kỳ.
Xác định theo: NG
t
=
=
n
i
NGti
1
+ Xác định nguyên giá TSCĐ giảm trong kỳ.
Xác định theo: NG
g
=
=
n
i
NGgi
1
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong kỳ theo công
thức:
TNG
KH
= TNG
đk
+ NG
tk
NG
gt
.
Trong đó:
TNG
KH
: Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong kỳ.
TNG
đk
: Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao đầu kỳ
NG
tk
: Tổng nguyên giá TSCĐ tăng trong kỳ phải tính khấu hao
NG
gt
: Tổng nguyên giá TSCĐ giảm trong kỳ thôi không phải tính khấu hao
+ Xác định mức khấu hao bình quân hàng năm.
Luận văn tốt nghiệp
Sau khi xác định đợc nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao trong
kỳ, sẽ căn cứ vào tỷ lệ khấu hao bình quân đã đợc xác định, đã đợc cơ quan
quản lý tài chính cấp trên đồng ý. Doanh nghiệp sẽ tính mức khấu hao bình quân
trong năm nh sau:
M
KH
= TNG
KH
x T
KH
Trong đó:
TNG
KH
: Tổng nguyên gía TSCĐ phải tính khấu hao trong kỳ.
M
KH :
Mức khấu hao bình quân hàng năm.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm.
Tuỳ mỗi loại hình sản xuất và phơng pháp tính khấu hao theo năm, tháng
hoặc theo sản phẩm mà doanh nghiệp đã lựa chọn để tiến hành tính toán cho phù
hợp.
1.3.4. Quản lý công tác kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ .
Trong doanh nghiệp, việc kiểm kê tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng là
công tác quan trọng trong việc quản lý sử dụng TSCĐ tại doanh nghiệp . Căn cứ
vào tài liệu của đợt kiểm kê để có tài liệu đối chiếu giữa số thực tế với số trên sổ
sách, qua đó xác định nguyên nhân gây ra số chênh lệch, xác định ngời có trách
nhiệm về tình hình mất mát, h hỏng cũng nh phát hiện những đơn vị, cá
nhân giữ gìn, sử dụng tốt TSCĐ, đồng thời báo cáo lên cấp trên về tình hình đã
phát hiện ra để có những kiến nghị và giải quyết nhất là đối với trờng hợp thừa
TSCĐ, cũng nh lập ra kế hoạch năm tới.
Ngoài việc kiểm kê TSCĐ, doanh nghiệp còn tiến hành việc đánh giá lại
TSCĐ. Trong quá trình sử dụng lâu dài các TSCĐ có thể tăng năng lực sản xuất
của xã hội và việc tăng năng suất lao động đơng nhiên sẽ làm giảm giá trị
TSCĐ tái sản xuất, từ đó mà không tránh đợc sự khác biệt giữa giá trị ban đầu
của TSCĐ với giá trị khôi phục của nó. Nội dung của việc đánh giá lại TSCĐ là
việc xác định thống nhất theo giá hiện hành của TSCĐ.
Tóm lại, kiểm kê định kỳ TSCĐ và đối chiếu số lợng thực tế với số lợng
trên sổ sách hạch toán kế toán và thống kê, xác định giá trị hiện còn của TSCĐ
có tác dụng quan trọng đối với vấn đề quản lý TSCĐ.
1.4. nâng cao hiêu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp.
1.4.1 .
Hiệu quả sử dụng tài sản.
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu của bất cứ một doanh
nghiệp nào cũng là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, do vậy mà
việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh doanh đạt tỷ suất lợi nhuận
cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét