Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, văn học trào phúng Việt Nam đã phát triển
thành một dòng lớn mạnh bên cạnh các dòng văn học khá, với một đội ngũ
tác giả đông đảo và những hình tượng nghệ thuật điển hình. Sự phát triển
của văn học trào phúng chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc của văn học dân
tộc trong giai đoạn lịch sử mới, thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nội
sinh, tiến tới hình thành nền văn học cận hiện đại. Tiến trình của một nền
văn học cũng giống như cuộc đời một con người. Con người ta cũng chỉ
thực sự biết cười một khi đã trưởng thành, đã có đủ trí tuệ, đã biết đến đau
khổ và điều quan trọng hơn là đã tự nhận thức được về những hạn chế của
chính bản thân mình. Đó cũng là lúc con người ấy không chỉ còn biết cười
thiên hạ, mà còn biết cười buồn về mình, biết tự trào văn trào phúng Việt
Nam phải nói đến Nguyễn Khuyến và Tú Xương mới trở thành sự thật.
Nguyễn Khuyến chính là một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn
học trào phúng ở giai đoạn trưởng thành này, ông cũng là một trong những
đại diện cuối cùng và lớn nhất của nền văn học Việt Nam trung đại ở vào
giai đoạn chung cục. Tam Nguyên Yên Đổ cũng là người có nhiều bài thơ
mang ý vị tự trào vào loại hay và tiêu biểu nhất trong văn học dân tộc.
Thơ tự trào là một trong những mảng thơ thể hiện rất rõ tâm trạng
của nhà thơ một cách khá chân thực. Để hiểu thêm về vấn đề này tôi quyết
định đi sâu tìm hiểu về đề tài: “Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến”
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nói đến Nguyễn Khuyến là độc giả nghĩ ngay đây là hai nhà thơ kiệt
xuất của thơ ca trào phúng Việt Nam, trong đó mảng thơ tự trào chiếm một
vị trí không nhỏ. Từ lâu “tự trào” cũng là chủ đề bàn thảo trong nhiều cuộc
sinh hoat văn chương. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề chưa được quan
tâm đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống.
1
Cuốn sách Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm, của Nguyễn Huệ
Chi, NXB Giáo dục, Hà Nội,2003.
Và cuốn Thi hào Nguyễn Khuyến và đời thơ, của Nguyễn Phương
Chi. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003.
Xuân Diệu (giới thiệu). Thơ văn Nguyễn Khuyến. NXB Hội nhà văn,
Hà Nội, 1979.
Cùng với nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu cũng như tài liệu
thống kê của các cơ quan tổ chức nhà nước và các websied là tài liệu giúp
tôi hoàn thành bài tiểu luận về đề tài: “Tự trào trong thơ văn Nguyễn
Khuyến”
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu về mảng tự trào trong
thơ văn Nguyễn Khuyến.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến
4.Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài tiểu luận này em đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Thu nhập và xử lí tài liệu
- Phân tích và tổng hợp
- Nhận định đánh giá
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài tiểu luận còn có hai chương:
Chương I: Những vấn đề chung
Chương II: Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến
2
NỘI DUNG
Chương I: Những vấn đề chung
1.1.Khái niệm tự trào
Không có một khái niệm rõ ràng và chính xác về tự trào. Nhưng qua
nghiên cứu và tìm hiểu có thể đưa ra khái quát chung nhất. Có thểm xem tự
trào là một mảng của thơ ca trào phúng Việt Nam. Tự trào là những tiếng
cười chế giễu bản thân, từ hình dáng bên ngoài đến phẩm cbên trong, từ
bản thân đến cuộc sống gia đình…Mỗi nhà thơ đều có những nổi niềm,
những tâm sự riêng và những điều bất mãn về bản thân để từ đó tạo ra
những vần thơ tự trào theo từng tâm trạng khác át nhau, phủ định hay
khẳng định. Nhưng chung quy lại thơ tự trào cũng để thổ lộ, giãi bày tâm
sự những điều bí bách trong lòng.
1.2.Nguyễn Khuyến –cái nhìn không chỉ thời buổi ấy
Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Khuyến là một hiện tượng đặc
biệt. Ông vừa là nhà thơ trữ tình xuất sắc, vừa là nhà thơ trào phúng hàng
đầu; vừa là một đại khoa triều quan vừa là một thôn dân thực thụ; vừa coi
mọi chuyện trên đời như không có gì đáng bận tâm lại vừa mang trong lòng
một mối ưu hoài năm canh nhỏ lệ.
Về nghệ thuật văn chương, các nhà nghiên cứu từ trước tới nay đều
hết sức ca ngợi và trên thực tế, các tác phẩm của ông đã sống, đã thành một
phần tâm thức của dân tộc.
Từ quan, bất hợp tác với thực dân Pháp, dùng ngòi bút để phơi bày
những tội ác của thực dân và quan lại xấu xa, những giả trá, đen bạc của xã
hội thời bấy giờ, giữ tấm lòng trong sạch và ngay thẳng cho đến cuối đời -
đó đã là một nhân cách lớn.
3
Bi kịch của Nguyễn Khuyến không phải là bi kịch của một cá nhân,
mặc dù ông không được thi thố tài kinh bang tế thế của mình, mặc dù ông
đã có lúc đói ăn. Khi có người cho một miếng thịt, ông đã viết:
Cho ta thịt không phải sợ gì ta
Mà chỉ vì thương ta riêng một mình đói bụng
Bồi hồi khó nói ra lời
Ta đành cầm lấy thịt rồi ôm mặt khóc.
(Tặng nhục)
Ông từ quan, nghe bạn bè từ quan, nhất là khi đọc thư Đỗ Huy Liệu,
bỏ chức Bố chánh Bắc Ninh, Nguyễn Khuyến đã thốt lên: "Đạo ta có lẽ
chưa cùng chăng, luân thường có lẽ chưa mất chăng"? Nếu chỉ là cá nhân,
cá nhân của một nhà nho, nếu chỉ giữ lấy sự trong sạch riêng mình, chỉ theo
đúng lẽ xuất - xử; dùng ta ta làm, không dùng hay đời trọc ta ẩn, tự mình
biết lấy mình:
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc
Tâm trung thường thủ tự kiên kim
(Bên ngoài không cần được như ngọc đẹp, cốt trong lòng còn giữ
được như vàng cứng)
hay:
Tấm hồng nhan đem bôi lấm lòa xòa
Làm thế để cho qua mắt tục
(Mẹ Mốc)
Qua được mắt tục nhưng không qua được lòng mình, một tấm lòng
yêu nước thương dân như Nguyễn Trãi xưa "bui một tấc lòng ưu ái cũ".
Cho nên vang lên trong thơ Nguyễn Khuyến có một tiếng khóc xé lòng
buốt ruột:
4
- Ba phần tóc bạc càng thêm tủi
Một tấm lòng son vẫn có thừa
- Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Khóc gì? Vì "Ơn vua chưa chút báo đền, Cúi trông hổ đất, ngửa lên
thẹn trời". Không làm gì được cho dân, cho nước mới đáng khóc, đáng hổ
thẹn; tấc lòng ấy của nhà thơ đáng được người đời sau cảm thông, kính
trọng. Không thể đòi hỏi Nguyễn Khuyến phải đối đầu, phải tìm ra con
đường cứu nước vào lúc bấy giờ.
Nguyễn Khuyến là người không cố chấp và rất giàu tính thực tế, giàu
tinh thần đổi mới.
Trên con đường trở về với nhân dân, Nguyễn Khuyến đã làm cho
văn học Việt Nam mang một vẻ đẹp mới, vẻ đẹp của chủ nghĩa cổ điển
trong chủ nghĩa hiện thực.
Có thể nói, Nguyễn Khuyến là nhà thơ đầu tiên và thành công nhất
về quê hương làng cảnh VN.
Một đánh giá thật xác đáng về Nguyễn Khuyến. Hai vùng văn hóa
lớn: Nghệ Tĩnh - Nam Định, Hà Nam đã hun đúc nên một Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến đã làm rạng rỡ làng Yên Đổ và quê hương ông. Ông là
dòng sông lớn chảy mãi trong văn học, trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Và
sự khám phá về ông cũng dường như vô tận.
5
Chương II: Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến
2.1. Thế giới hình tượng thơ độc đáo
Xã hội mà Nguyễn Khuyến sống là xã hội thực dân nửa phong kiến
với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền
thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi
bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào
những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt đó. Trong văn học trào phúng,
phê phán và phủ định điều này cũng chính là để khẳng định, bảo vệ một
chân lí nào đó. Nguyễn Khuyến châm biếm, đả phá cái giả Nho, cái vô
dụng, chính là đẻ khẳng định cái chân Nho, khẳng định những giá trị truyền
thống của dân tộc, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của riêng mình đẻ
tự phản tỉnh trước thực tế của sự khủng hoảng các giá trị đạo đức đương
thời. Nguyễn khuyến luôn đem mình ra đẻ tự chế giễu, tự chê trách. Đẻ từ
đó trào phúng cả một tầng lớp đại diện cho xã hội thối nát, một nền học vấn
đã hết thời, một giai cấp đang từng bước chấm dứt vai trò lịch sử. Ông đã
có những phài thơ tự trào rất thành công và xây dựng một hình tượng thơ
rất độc đáo.
Trong Tiến sĩ giấynhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hạ bệ
thần tượng cao nhất của cả một thế chế xã hội đã tồn tại hàng mấy năm –
ông tiến sĩ.
Rõ ràng, để có được sự thành công khi sử dụng lối trào phúng này,
tác giả phải là người trong cuộc, phải am hiểu đối tượng, nếu không sẽ tạo
nên những cú đánh trượt. Nguyễn Khuyến hiểu đối tượng sâu sắc như vậy
chính vì ông là con đẻ của chế độ khoa cử triều Nguyễn và là người đạt đến
đỉnh cao vinh quang của học vấn đương thời. Nhưng con người ấy đã dần
đánh mất niềm tin vào chế độ, vào triều đình, vào vốn học vấn của mình
trước thực tế lịch sử, khi mà tất cả vũ khí vật chất và tinh thần, tất cả thế
ứng xử truyền thống tồn tại hàng ngàn năm của dân tộc đã bị kẻ thù mới bẻ
6
gãy một cách dễ dàng. Ông cũng cảm thấy nghi ngờ cả tài năng, sức lực
của lớp người đại diện cho tinh hoa của chế độ ấy và nghi ngờ chính bản
thân mình. Tính tự trào của bài thơ cũng hé mở cho ta nhận thấy, nghe
thấy, chứng kiến một cuộc đối thoại và một cuộc tự đối thoại của nhà thơ
với chính mình - tiếng nói phản tỉnh của một người trong cuộc. Đó cũng
chính là tiếng nói phản chính thống, một hành vi tưởng như là nói
ngược nhưng thực chất lại phản ánh một cách chính xác nhất bản chất của
xã hội và sự tha hóa của lớp người đại diện cho tinh hoa của thể chế đương
thời. Tiến sĩ giấy là biểu hiện rõ nhất của tiếng nói tự trào. Nguyễn Khuyến
đã lấy việc khách thể hóa bản thân để bộc lộ tâm trạng mình. Tiếng nói
lưỡng phân đa chiều, vừa hướng nội, vừa hướng ngoại này chỉ có được khi
con người tự ý thức được tình trạng bi hài của mình trước thực tế lịch sử,
nó bộc lộ những day dứt, trăn trở, những mâu thuẫn trong chính bản thân
nhà thơ, bỏ xa kiểu con người đơn nhất trong văn chương trung đại.
Nguyễn Khuyến tự trào, tự giễu cợt mình, về mặt khách quan, cũng chính
là đang trào phúng cả một tầng lớp đại diện cho một xã hội thối nát, một
nền học vấn đã hết thời, và một giai cấp đang từng bước chấm dứt vai trò
lịch sử. Danh vị tiến sĩ nay đã trở thành trò hề, trở thành thứ đồ chơi để dứ
thằng cu, mà mỗi lần nhìn thấy thứ hình nộm ấy, vị Tam nguyên lừng lẫy
một thời, vị quan đại thần của triều đại đương thời lại cứ tưởng như người
ta đang đem mình ra để bỡn cợt:
Rõ chú hoa man khéo vẽ trò
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
(Vịnh tiến sĩ giấy, I)
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.
7
(Tự trào)
Nguyễn Khuyến đã tự phản tỉnh mình, tự ý thức được thân phận con
người thừa của mình, thấy mình là một hủ nho trong thời buổi mới. Mặc
cảm con người thừa, con người vô tích sự phải đến Nguyễn Khuyến và đặc
biệt Tú Xương sau này mới thật sự rõ nét.
Tiến sĩ giấy không chỉ là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của thơ
Nguyễn Khuyến mà còn là một trong những hình tượng điển hình có giá trị
nhất của văn học trào phúng Việt Nam ở giai đoạn đỉnh cao. Trong bài thơ
"Tự trào", Nguyễn Khuyến nói thẳng ra điều cốt lõi nhất, đau đớn nhất của
ông là nỗi nhục, nỗi đau vong quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc chơi
cờ :"Cờ đương giở cuộc không còn nước". Vì "Không còn nước " nên vua
cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi :"
Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề "( Lời vợ
anh phường chèo). Một vị túc nho lấy trung quân ái quốc làm đầu, phải tự
tìm nhọ nồi, muội đèn, tro trấu mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề
như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn là nỗi đau lớn nhất trong đời?
Mang danh là một bậc tam Nguyên đáng lẽ thi nhân là một kẻ hoàn
toàn từ đức tính, tài ba cho đến bổn phận nhưng Nguyễn Khuyến nhận thấy
mình còn nhiều khiếm khuyết cần phải đem ra để chỉ trích.
Bàn về tài ba cũng như đức tính, Nguyễn Khuyến đã không giấu
diếm:
Cờ đang dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng,
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Gàn môi chén mãi ít cung thang,
(Tự trào)
8
Ngay đến cái thói xấu và say sưa thi nhân vẫn không bỏ được:
Những lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi chưa chừa được
Chừa được nhưng ông vẫn chửa chừa.
(Chừa rượu)
Hơn nữa mỗi lần nghĩ đến thái độ bất lực của mình trước thời cuộc
đen tối lúc bấy giờ, Nguyễn Khuyến không thể không cảm thấy tủi nhục, để
rồi thi nhân tự lên tiếng bày tỏ sự hổ thẹn của mình:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn trời
(Di chúc)
2.2. Ngôn ngữ và giọng điệu tự trào trong thơ văn Nguyễn
Khuyến
Đọc thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, chúng ta có thể cảm nhận rất rõ
đó là một bộ phận thơ cũng đã góp phần làm nên một dòng thơ tự trào theo
hướng thể hiện bản ngã trong thơ trào phúng nhà nho, nhưng đã có sự giải
thoát khỏi lối văn chương khuôn phép của thơ văn thời trung đại. Có thể
ghi nhận đây là một biểu hiện của sự vùng vẫy nhằm thoát khỏi thi pháp
văn chương trung đại. Tuy nhiên thơ tự trào của ông vẫn còn trong khuôn
khổ văn chương quy phạm nhà nho. Bời lẽ Nguyễn Khuyến vẫn sáng tác
trong cảm thức nhà nho phong kiến, vẫn là kiểu tự trào tự giễu để đề cao,
để khẳng định mình.
Xuyên suốt những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là một giọng
điệu thâm trầm mà kín đáo, nhưng cũng hết sức thâm thuý. Đó là một dòng
thơ trào phúng của nhà nho, rất đậm nét và sinh động.
9
Có khi nhà thơ tự trào một cách trực tiếp : Tự trào, Tự giễu mình, Tự
thuật, Than nghèo, Than nợ…
Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng
(Tự trào)
Dù trong hoàn cảnh nào thơ tự trào của Nguyễn Khuyến cũng thể
hiện khá rõ hình ảnh: một ông già tự cười mình. Nụ cười xem ra rất nhỏ
nhẹ mà chứa chan suy tư. Chẳng hạn khi cười về hành dáng của mình:
- Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe
- Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây
- Tóc bạc lòng son chửa dám già
- Thêm tuổi thêm được tóc râu phờ
Đôi khi là nụ cười hối tiếc, thâm trầm:
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già
(Ngày xuân dặn các con)
Kiểu cười tưởng như nhẹ nhàng nhưng hết sức thâm thuý và có sức
công phá mãnh liệt. Đặc biệt khi ông cười về vai trò lịch sử của mình trong
chốn quan trường, kiểu cười chua chát, xót xa, ân hận.
10
Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
(Vịnh tiến sỹ giấy II)
Còn đây là giọng cười chua chát thấm đượm sự khinh bỉ đối với cái
địa vị cao sang mà Nguyễn Khuyến đã từng ngồi. Khinh bỉ vì hiểu được
bản chất thật của nó. Chua chát khi nghĩ đến mình thế mà đã từng ngồi trên
địa vị đó:
-Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
-Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi
(vịnh tiến sĩ II)
Nhiều khi Nguyễn Khuyến cũng buông những lời lẽ bông lơi, những
giọng cười tưởng như sảng khoái để diễn đạt những cơn sóng lòng hết sức
dữ dội:
- Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu
Khi buồn ngâm láo một câu thơ
(Đại lão)
- Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời
(Vịnh tiến sĩ giấy II)
11
Nhiều lúc ông cũng muốn buông xuôi vì đã nặng lòng lắm rồi:
“Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác”. Chính vì thế những nụ cười xem ra nhỏ
nhẹ ấy nhưng chứa chan suy tư: Đại sự thì đã hỏng cả rồi mà mình thì gàn
dở vô tích sự. Nói như nhà nghiên cứu Đoàn Hồng Nguyên thì đó là một
kiểu tự trào “ngôn chí” có sự khẳng định bản ngã, nhưng đó vẫn là sự
khẳng định của một nhà nho theo những chuẩn mực đạo đức nhà nho. Vì
vậy tựu trung lại giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến vẫn còn mang tính
chất giáo hoá, có khi chưa thoát ra khỏi quy phạm văn chương nhà nho.
Suốt quãng đời còn lại của mình ông luôn sống trong dằn vặt và ân
hận vì cái sự đỗ đạt và con đường danh vọng của mình. Vì vậy ông đã tự
giễu mình với một giọng điệu hết sức chua chát:
Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi
(Vịnh tiến sỹ giấy II)
Ông còn đem cả lỗi lầm của mình ra để châm biếm, để nhạo báng:
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng
(Tự trào)
Và ông luôn đắng cay khi nghĩ đến xã hội từ trên xuống dưới chẳng
khác chi bọn phường chèo. Tưởng rằng là oai phong lắm, là tự hào lắm
nhưng thực ra cũng chỉ là sân khấu hề mà thôi.
Nguyễn Khuyến cũng sớm nhận ra mình chẳng qua cũng chỉ là một
vai nhọ. Về mặt này ông đã giễu mình với giọng điệu chua chát hơn.
Nhưng kiểu tự trào với giọng điệu chua chát bao nhiêu thì càng chứng tỏ
phẩm chất cao đẹp của nhà thơ bấy nhiêu. Và đây cũng là kiểu tự bôi nhọ,
tự giễu mình là để chứng tỏ phẩm chất đẹp của mình, khẳng định mình và
12
cũng để đề cao mình. Chính vì vậy đây chính là điểm khác biệt rõ nét nhất
trong giọng điệu tự trào của cụ Tam nguyên Yên Đổ và giọng điệu tự trào
của Tú Xương.
Một điểm nữa trong giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến đó chính
là danh vị xã hội và môi trường sống. Có lẽ cũng là một phần do tuổi đời
của nhà thơ đã cao mà giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến có phần kín
đáo hơn, ý nhị hơn, thâm trầm hơn, tất nhiên cũng không kém phần sâu sắc.
Khi ông đả kích, châm biếm bản thân mình ông không nói một cách trực
tiếp mà kín đáo ý nhị thông qua hình ảnh “ông tiến sĩ giấy”. Hay khi
Nguyễn Khuyến giễu mình, cười cợt mình trở thành một kẻ vô tích sự,
không còn có ích gì nữa ông cũng chỉ nhẹ nhàng:
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ
Có rượu thời ông chống gậy ra
(Lên lão)
Góp phần để tạo nên một giọng điệu thâm trầm nhẹ nhàng kín đáo
của Nguyễn Khuyến phải chăng do môi trường sống của nhà thơ là ở vùng
nông thôn, ít nhiều cũng không xô bồ như nơi đô thị. Sự thanh bình của
cảnh sắc nơi thôn dã cũng làm cho tâm hồn con người được dịu bớt những
lo toan căng thẳng. Chính vì thế mà giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến
phải chăng có phần nhẹ nhàng và thâm trầm cũng là nhờ lẽ đó.
2.3. Nghệ thuật biểu hiện tự trào
Trong “Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến”, tác giả đã công phu
sưu tập, hệ thống hoá và khảo sát chi tiết nội dung các tác phẩm thơ ca theo
nhiều bình diện cốt lõi khác nhau như "cái nhìn về con người", “cái nhìn về
thế giới”, “sự đa dạng, năng động và uyển chuyển trong bút pháp”, “nét
riêng trong giọng điệu”, “đặc sắc ngôn ngữ nghệ thuật thơ”…”… Điều này
tạo nên tính đồng tuyến giữa các vấn đề, sự rành mạch giữa các chương
13
mục và tạo dựng những cách hình dung khác nhau về thơ Nguyễn Khuyến,
đưa đến những cách lý giải mới mẻ hơn về mối quan hệ giữa thơ chữ Hán
và chữ Nôm cũng như những sắc thái trữ tình sâu lắng gắn với các giai
đoạn sáng tác khác nhau trong cuộc đời Yên Đổ
Trong Tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến xây dựng hình ảnh ông nghè
tháng Tám rất đặc sắc.
Nhân vật có vẻ bề ngoài vừa uy nghi, vừa phô trương tự đắc. Tuy
nhiên, điệp từ cũng xuất hiện với mật độ dày đặc và ẩn chứa ý vị mỉa mai
bắt đầu bộc lộ thái độ của tác giả, khiến cho ta thấy có điều gì đó bất
thường ở vị tiến sĩ này. Từ cũng được nhấn mạnh, được đưa lên đầu câu,
chỉ sự giống nhau, lặp lại của hiện tượng, kết hợp với ba từ có kém ai khiến
cho con người có học vị cao này có cái vẻ của sự giả dối, học đòi. Đến hai
câu sau mọi việc đã trở nên rõ ràng hơn. Nhân vật cũng biển cũng cân
đai kia hóa ra chỉ là một ông tiến sĩ giấy, bề ngoài giống hệt như tiến sĩ thật
nhưng thực chất bên trong lại rỗng tuếch chẳng có gì. Cái chất liệu làm nên
con người ông đơn giản chỉ là từ mấy mảnh giấy và một ít son diêm dúa:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Trong hai câu thực này, nghệ thuật đối được Nguyễn Khuyến sử
dụng hết sức đắc địa. Mảnh giấy đối với thân giáp bảng, nét son đối
với mặt văn khôi. Tam nguyên Yên Đổ đã táo bạo đưa vào trong thơ mình
những hư từ, lời nói khẩu ngữ kiểu như: cũng cũng, kém ai, sao mà nhẹ,
ấy mới hời, tưởng rằng , đưa chất văn xuôi, chất thế tục vào trong một thể
thơ có tính ước lệ, tượng trưng cao như thơ Đường luật, khiến cho thể thơ
này trở nên gần gũi hơn, giàu giá trị hiện thực hơn. Lối trào phúng của ông
già Yên Đổ là lối trào phúng gián tiếp, kín đáo và thâm thúy, ý định trào
phúng của người viết không bộc lộ trên bề mặt văn bản mà chìm sâu sau
những hình ảnh và từ ngữ. Muốn hiểu được tiếng cười của ông, buộc phải
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét