Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư
nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt
Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
-H oạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm
các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư.
-Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các
-Chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chủ sở hữu
hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư.
I.2.Mối quan hệ giữa FDI và các loại hình vốn khác
Vai trò của vốn là sử dụng để đầu tư ,tuy nhiên mỗi nguồn vốn khác nhau đòi hỏi
cách thức huy động,sử dụng khác nhau.Xong chúng có mối quan hệ với nhau thể hiện ở
việc nguồn vốn này giúp tăng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn vốn khác .Với
nguồn vốn trong nước ,ta đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng,vật chất kỹ thuật để phục vụ
cho các ngành nghề khác nhau,các ngành nghề này ,dựa trên nền tảng đó sẽ thu được
năng suất ,hiệu quả cao hơn .Nhìn vào nước ta,với những yếu tố về chất lượng đó đáp
ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài ,việc thu hút đầu tư của nước ta sẽ cao
hơn.Ngược lại ,với số vốn huy động được từ các nhà đầu tư nước ngoài ta tạo ra một
lượng vốn mới và lại tiếp tục quay lại đầu tư
Như vậy mối quan hệ giữa các nguồn vốn là mối quan hệ thúc đẩy ,tương hỗ
nhau.Vậy nên chúng ta phải đẩy mạnh huy động các nguồn vốn đặc biệt là luôn có một
lượng vốn lớn trên thị trường sẵn sàng cho việc đầu tư.
I.3.Vai trò của FDI
Qua thực tế thu hút ,sử dụng FDI ta nhận thấy khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Trước hết,
FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư xã hội và góp phần cải thiện cán
cân thanh toán trong giai đoạn vừa qua. Các nghiên cứu gần đây của Freeman (2000), Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (2003), Nguyễn Mại (2004) đều rút ra nhận định chung rằng khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng tăng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khu vực này góp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều
ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá), đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao
động. Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công
nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất. Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng
cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việc trong các dự án FDI, tạo ra
kênh truyền tác động tràn tích cực hữu hiệu. Phần dưới đây sẽ khái quát vai trò của FDI
đến tổng thể nền kinh tế.
*Về mặt kinh tế:FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát
triển kinh tế - xã hội. Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là
vốn trong nước và vốn ngoài nước. Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm
và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp
và hoạt động FDI. Với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt
quan trọng đối với phát triển kinh tế. Những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu
vốn đầu tư, hoạt động sản xuất và đầu tư ở những nước này như là một “vòng đói nghèo
luẩn quẩn” (theo Paul A. Samuelson). Để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, các nước nghèo và
đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà biện pháp hữu hiệu là tăng vốn cho
đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn
đến thu nhập tăng.
*Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của nước tiếp nhận theo nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ
cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu theo nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư…Phần lớn vốn FDI đầu tư
cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, trong đó có những ngành chủ chốt như xây dựng cơ
sở hạ tầng, khai thác chế biến dầu khí, hóa chất và sản xuất thiết bị và hàng tiêu dùng.
FDI góp phần làm tăng tỉ trọng của những ngành này trong nền kinh tế đồng thời tạo điều
kiện để hiện đại hóa nền sản xuất .Mặt khác ,thông qua đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy
hình thành một số khu công nghiệp ,khu chế xuất ,góp phần phân bổ công nghiệp hợp lý
trong cả nước và nâng cao hiệu quả đầu tư.Khu vực có vốn FDI còn giúp hình thành các
ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại như điện tử, tin học, viễn thông, lắp ráp ô tô và xe
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
máy, giúp chuyển giao công nghệ và kĩ năng quản lí tiên tiến nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế.
*Tạo việc làm :Với việc tạo ra các khu công nghiệp ,khu chế xuất,tạo ra một số
ngành nghề mới thì việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo việc làm cho một số địa
phuơng ,vùng lãnh thổ.
*Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực :trình độ quản lý ,kỹ năng làm việc của các
doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài cao ,tạo ra hiệu suất lao động lớn ,do vậy người Việt
Nam khi làm việc cho các doanh nghiệp này cần phải có trình độ cao ,kỹ năng chuyên
môn,tính chủ động trong công việc ,trong quá trình làm việc một phần chúng ta tự học hỏi
một phần chúng ta được đào tạo .Như vậy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có
tạo viêc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II :THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG FDI TẠI
VIỆT NAM TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY
II.1.Các nhân tố ảnh hưởng tới huy động và sử dụng vốn FDI
Ngoài các nhân tố như điều kiện tự nhiên,vị trí địa lý,địa vị chính trị ,kinh tế thì
Việt Nam còn tạo các yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài như :
*Môi trường đầu tư và kinh doanh của Việt Nam : nếu đánh giá môi trường
kinh doanh theo các tiêu chí như mức độ tự do hóa thương mại, tự do tiền tệ, bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ, tình trạng quan liêu, mức độ
bảo vệ nhà đầu tư, tình trạng tham nhũng, tự do cá nhân, gánh nặng thuế má… thì môi
trường kinh doanh được đánh giá là yếu kém,đặc biệt là yếu tố bảo vệ nhà đầu tư.Trong
khi đây là một yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài đặc biệt là đầu tư trực
tiếp từ bên ngoài.Trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu “Best countries for
business” năm nay của tạp chí Forbes, Việt Nam đã tụt 5 bậc, xuống vị trí 118 trong tổng
số 128 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.HạVới sự tụt hạng này, Việt Nam thiếu
chút nữa thì rơi vào top 10 đứng từ dưới lên, theo đánh giá của Forbes môi trường kinh
doanh của Việt Nam chỉ hơn một số quốc gia châu Phi được xếp vào top 10 quốc gia có
môi trường kinh doanh thấp nhất trong số 128 quốc gia được xếp hạng đó là gồm
Zimbabwe, Chad, Burundi, Cameroon, Bolivia, Cote d’Ivoire, Tajikistan, Syria và
Gambia.
+Môi trường pháp luật :hệ thống pháp luật nước ta đã ban hành các văn bản luật
như Bộ luật dân sự ,Luật doanh nghiệp 2005,Luật đầu tư 2005, Luật thương mại 2005,
Luật chuyển giao công nghệ ,Luật sở hữu trí tuệ ,Luật cạnh tranh,Luật đầu tư nước ngoài
…như vậy là đã đầy đủ điều luật liên quan tới những điều kiện khi tham gia đầu tue vào
kinh doanh ,cách giải quyết tranh chấp nếu có những ngành nghề kinh doanh được ưu
tiên khuyến khích,những ưu đãi .
Tháng 11/ 2006 (7/11/2006) ,việc Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương
mại thế giới đòi hỏi Việt Nam phải có một số chính sách mở cửa về mọi mặt đăc biệt là
về kinh tế càng làm cho hệ thống pháp luật của nước ta trở nên thuận lợi hơn cho môi
trường đầu tư và kinh doanh của nước ta.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cải cách hành chính ở Việt Nam :trong đề án 30 của chính phủ ban hành năm
2009,có nội dung về cải cách quy định hành chính trong cả nước cho tới hết 2010 ,nhưng
điểm nóng về vấn đề này được quan tâm hơn cả từ trung ương cho tới địa phương đó là
các thủ tục hành chính thuộc 28 lĩnh vực, như: đầu tư tại Việt Nam, thành lập và hoạt
động doanh nghiệp, đấu thầu, xây dựng, đất đai, tài nguyên, môi trường, tài nguyên
khoáng sản địa chất, bổ trợ tư pháp…với một số thủ tục có tiếng là nhiều phiền hà, nhũng
nhiễu như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng, giấy phép khai
thác tài nguyên khoáng sản…Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thì Việt Nam đã gặp
phải rất nhiều khó khăn và trong buổi hội thảo về cải cách thủ tục hành chính giữa OECD
và đại diện các nước ASEAN, diễn ra ngày 26/11 vừa qua,ông Mario Amano, Phó tổng
thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nói trong việc thực hiên đề án 30
của nước ta thời gian qua đã có có sự nỗ lực lớn trong việc đơn giản hóa thủ tục hành
chính ,tuy nhiên việc thực hiện này mới chỉ được ghi nhận trên phương diện cải thiện văn
bản pháp luật là chính.Tại cuộc họp báo này, những quan ngại về tính hiệu quả, hiệu lực
của văn bản pháp luật, cũng như chất lượng nguồn nhân lực thực thi đã dấy lên.Như vậy
là vấn đề thủ tục hành chính của nước ta là một vấn đề còn rất nhiều hạn chế ở nhiều
mặt ,nhiều lĩnh vực chứ không chỉ trong vấn đề các thủ tục hành chính liên quan đến
mảng kinh tế.Đây là một yếu tố rất quan trọng trong quyết định có nên đầu tư vào Việt
Nam hay không của các nhà đầu tư nước ngoài ,nhất là khi mục đích của các nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài chính là lợi nhuận
+Tính chuyển đổi của tiền tệ :
Ở nước ta, tiền đồng là loại tiền tệ chính thức duy nhất được sử dùng như một đơn
vị trong thanh toán và trao đổi hàng hóa. Tuy nhiên đồng USD vẫn được phép dùng làm
phương tiện lưu giữ giá trị nên không ít tiền gửi trong hệ thống ngân hàng là USD.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chính sách quản lý tỷ giá hối đoái
theo hướng thả nổi có kiểm soát. Trong vòng vài ba năm trở lại đây (giai đoạn 2003-
2005) đồng Việt Nam có tỷ giá khá ổn định so với đồng đô la Mỹ do chính sách của
Ngân hàng Nhà nước chỉ cho đồng giảm giá khoảng 1% một năm. Sau khi đồng đô la của
Zimbabwe đổi giá vào đầu tháng 8 năm 2006, đơn vị đồng trở thành đơn vị tiền thấp giá
nhất trên thế giới.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
VND hiện vẫn là tiền tệ có khả năng tự do chuyển đổi thấp, chưa trở thành đồng
tiền dùng trong thanh toán quốc tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện các
biện pháp để nâng cao khả năng tự do chuyển đổi của VND bằng cách trước mắt nâng
cao tỷ trọng thanh toán xuất khẩu bằng VND (mục tiêu đến năm 2010 đạt 30%) tiến tới
sử dụng VND trong thanh toán nhập khẩu song song với việc tự do hóa hoàn toàn giao
dịch vãng lai.
Tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ : đồng tiền Việt Nam so với đô la Mỹ ngày
càng có sự chênh lệch lớn.cho tới thời điểm ngày 29/11/2010 thì đồng USD mua vào là
19,495.000 và đồng USD bán ra là 19000
Đối với thị trường ngoại hối, việc áp dụng biên độ giao động tương đối chặt đối
với tỷ giá VND/USD do Ngân hàng Nhà nước ấn định (cũng như việc cơ quan này tuyên
bố giảm biên độ vào cuối tháng 11/2009) có nghĩa là đồng VND tiếp tục không được tự
do chuyển đổi, trong khi đó vẫn tiếp tục tồn tại sự chênh lệch giữa tỷ giá giao dịch chính
thức và tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do .
+Các thủ tục hành chính liên quan tới các khâu của quá trình đầu tư ,trong việc
thành lập dự án ,nhà đầu tư quan tâm tới việc phải hoàn thành những gì trong bộ hồ sơ
xin giấy phép đầu tư ,các ngành các cấp nào sẽ tham gia vào việc cấp phép đầu tư ,nhà
đầu tư có nhận được thông tin trợ giúp từ Chính phủ và các tổ chức môi giới hay không
,thời gian trung bình để nhận được một giấy phép đầu tư là bao lâu các thủ tục hành chính
thuận lợi hay phiền hà
+Việc giải phóng mặt bằng ở Việt Nam trong các dự án đầu tư nước ngoài còn một
số bất cập,cụ thể :
-Thủ tục hành chính :còn phải qua nhiều cửa
-Chính quyền địa phương : sự lo ngại của chính quyền địa phương về hiệu quả sử
dụng vốn ngân sách, vì nếu hiệu quả của các dự án đầu tư không cao như dự kiến, thì
khoản tiền thường rất lớn chi cho giải phóng mặt bằng sẽ rất lâu được thu hồi… Khi lỗi
chậm trễ dự án thuộc về trách nhiệm của địa phương, thì các giải pháp đẩy nhanh tiến độ
dường như đều lệch hướng.
-Những vấn đề xã hội phát sinh trong hoạt động giải phóng mặt bằng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+Chất lượng lao động :Thực tế, nước ta hiện có nguồn lao động rất dồi dào nhưng
chất lượng lao động lại thấp so với các nước trong khu vực. Lực lượng lao động chủ yếu
vẫn là lao động giản đơn với hơn 65 % lao động chưa qua bất kỳ trường lớp đào tạo nào.
Trong khi đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ khá nhanh trong thời gian qua
nhưng khả năng tạo việc làm mới còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nguồn lao động có
trình độ, chuyên môn cao còn ít; ý thức kỷ luật của người lao động chưa cao; cơ cấu
ngành nghề chưa hợp lý; cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, tỷ trọng lao động nông
nghiệp vẫn ở mức cao;
Tuy nhiên chất lượng lao động tại Việt Nam ngày càng được nâng cao do có sự cải
thiện lâu dài thể hiện ở hệ thống giáo dục phát triển,các trường đại học ,cao đẳng,trung
tâm dạy nghề…mở rộng trên khắp cả nước .
+Chi phí nhân công:giá nhân công Việt Nam rẻ và vẫn là ưu thế so với các nước
trong khu vực ,chỉ đứng sau Trung Quốc
+Giá thuê đất của Việt nam hiện nay đã được điều chỉnh thấp hơn nhiều nước
trong khu vực (giá thuê đất của Việt nam là 2,62 USD/năm/m
2
- khu công nghiệp Sài
Đồng, thấp hơn nhiều so với Philippin: 85 USD/năm/m
2
trong khu công nghiệp., hay như
Singapore: 6,9 USD/năm/m
2
trong khu công nghiệp). Tuy nhiên, thủ tục thuê đất, cấp đất,
giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà
đầu tư. Việc giao đất nhất là các dự án có đền bù và giải tỏa kéo dài, nhiều dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp phải mất hàng năm để thực hiện việc đền bù.
Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, thu hút được
nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây
chính là yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam
cũng như làm giảm tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, do thiếu quy
hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI, một số địa phương tùy tiện xử lý vấn đề đất đai áp
dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
*Các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
Từ năm 2006, Chính phủ có chủ trương phân cấp khá triệt để cho UBND cấp tỉnh,
Ban quản lý các khu công nghiệp – khu chế xuất, khu kinh tế trong việc thẩm định và cấp
phép các dự án đầu tư FDI. Tuy nhiên, khi thực hiện phân cấp, chúng ta chưa tính toán kỹ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các điều kiện bảo đảm để UBND các tỉnh, thành phố thực hiện được nhiệm vụ mới; chưa
chú ý đến mức độ thu hút vốn FDI cũng như trình độ, năng lực và kinh nghiệm quản lý
của các địa phương. Các địa phương có ít dự án FDI, trình độ và kinh nghiệm quản lý còn
hạn chế cũng được trao quyền giống như các địa phương có nhiều dự án và có kinh
nghiệm quản lý như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương Mặt khác, sau khi
phân cấp cho địa phương, cơ quan quản lý ở Trung ương cũng chưa đưa ra được những
chỉ tiêu, tiêu chí, yêu cầu nhằm hạn chế lợi ích cục bộ của các địa phương, bảo đảm lợi
ích quốc gia. Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương cũng chưa chú trọng công tác
kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các địa phương nên có tình trạng như chỉ một thời
gian ngắn sau khi thực hiện phân cấp, cả nước đã có tới gần 200 dự án sân golf, cá biệt,
có tỉnh có đến 14 dự án sân golf.
+Chính sách thuế và các khuyến khích tài chính : đã đạt được mục tiêu đặt ra
trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế này đã hấp dẫn đối với đầu tư nước
ngoài nhưng ở một khía cạnh nào đó lại ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Các văn bản
về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và luôn thay đổi. Vì lợi nhuận
của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay đổi gây khó khăn
cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi tức tỏ ra ưu đãi đối với các
nhà đầu tư nước ngoài hiện nay la 28%,tuy nhiên lại có một số khoản mà các nhà đầu tư
nước ngoài phải chi nhưng lại không được tính vào chi phí,như vậy nên dù mức thuế là
28% nhưng có những dự án tính ra lên tới 40%.Việc quy định mức thuế như vậy cũng
gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các
loại thuế áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà
đầu tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều loại lệ
phí khác.
+Chính sách tỷ giá và chính sách ngoại hối : của Việt nam đang bộc lộ một số tác
động tiêu cực đối với thu hút FDI. Điều 75 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 quy định "tỷ giá
chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt nam và ngược lại áp dụng trong quá trình tiến
hành đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên
nước ngoài hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam
tại thời điểm chuyển đổi", nhưng Luật năm 2000 không sửa đổi bổ sung điều này. Như
vậy, do tỷ giá hối đoái đồng Việt nam được ấn định hàng ngày bởi Ngân hàng Nhà nước
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mà không phải là được ấn định bởi tỷ giá trên thị trường nên hầu hết tỷ giá của Ngân
hàng thường cao hơn và việc này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp do sự chênh lệch lớn
này gây ra. Việc định giá đồng Việt nam quá cao đi đôi với việc kiểm soát quá nghiêm
ngặt các khoản vay nước ngoài trên một năm của các doanh nghiệp mà Ngân hàng Nhà
nước đưa ra có thể dẫn đến việc thiếu hoặc không có khả năng cung ứng ngoại tệ cho các
nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Hiện nay, tỷ lệ kết hối quy định cho các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn cao (hiện nay là 50%)., ảnh hưởng tới việc chủ
động sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+Chính sách đất đai: Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và
hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu
tư lâu dài ở Việt nam. Điểm đặc thù ở Việt nam là đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở
hữu toàn dân nên các nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu về đất đai. Cho đến
nay đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn liền với Luật Đầu tư nước
ngoài như: Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, Quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày
31/12/1994 của Bộ Tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt biển
áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài Tuy nhiên nhìn chung chính sách đất
đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định.
+chính sách lao động :Về chế độ tuyển dụng lao động, Luật Đầu tư nước ngoài
sửa đổi bổ sung đã có một vài thay đổi theo hướng nới lỏng hơn, chẳng ạn như các doanh
nghiệp có quyền được trực tiếp tuyển lao động Việt nam sau 15 ngày kể từ ngày nộp đơn
yêu cầu cung ứng lao động cho các tổ chức cung ứng lao động Việt nam (trước đây là 30
ngày); hay các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu và lương của lao động
Việt nam nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất. Tuy
nhiên quy định thì như vậy nhưng thực tế các công ty nước ngoài rất khó tuyển dụng
được lao động có chất lượng như mong muốn, ở địa phương hầu như chỉ có một tổ chức
cung ứng lao động và do đó chiếm vị trí độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ này.
Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuy đã được đặt ra nhưng chưa giải quyết
được nhiều hoặc có tính chất tạm thời.
+Chính sách công nghệ: Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án phát huy
tác dụng tốt trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đặc biệt là lĩnh vực dầu khí, viễn
thông, tin học, điện tử. Tuy nhiên công nghệ tiến tiến tiếp nhận chưa nhiều, mức độ hiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Dây truyền công nghệ hiện đại
nhập vào còn ít, phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả
công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Mặt khác,
giá cả công nghệ được chuyển giao vào Việt nam chưa thật hợp lý. Nhiều công nghệ lạc
hậu, công nghệ đã qua sử dụng nhưng giá tình vào góp vốn được các nhà đầu tư cố ý
nâng cao hơn từ 10 - 15% so với mặt bằng giá thế giới. Việc tăng giá công nghệ góp vốn
vào dự án còn thông qua việc khai tăng chi phí đào tạo nhân công làm cho cơ quan quản
lý Nhà nước khó thẩm định được chính xác giá công nghệ. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn
hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ còn kém.
Công tác quản lý về tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
gặp nhiều khó khăn do chưa ban hành được các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp
với thông lệ quốc tế.
II.2.thực trạng thu hút
NĂM 2006 : Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục phát triển. Tính từ đầu năm
đến 18/12/2006, cả nước có 797 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số
vốn đăng ký 7,57 tỷ USD, bình quân 1 dự án đạt 9,5 triệu USD. Cũng đến thời điểm trên,
còn có 486 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 2,36 tỷ USD; tính chung cả
cấp mới và tăng vốn đến 18/12/2006 đạt 9,9 tỷ USD và như vậy cả năm 2006 sẽ đạt trên
10 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là một trong những sự kiện kinh tế
nổi bật nhất trong năm 2006. Trong tổng vốn đăng ký thuộc các dự án ĐTNN được cấp
phép năm nay, công nghiệp và xây dựng chiếm 68,4%; dịch vụ chiếm 30%; nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản chiếm 1,6%. Có 43 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài mới cấp
phép trong năm 2006, trong đó có 12 tỉnh, thành phố có số vốn đăng ký từ 100 triệu USD
trở lên. Có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam trong
năm 2006.
NĂM 2007 : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007
đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó
vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD.
NĂM 2008 :Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tiếp tục đạt kết quả
cao. Trong tháng 12/2008, cả nước có 112 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới
với tổng số vốn đăng ký 1254 triệu USD, nâng tổng số dự án cấp phép từ đầu năm đến
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét