Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
Tổng quan về định giá chuyển giao và chuyển giá trong các công ty đa quốc gia
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số doanh nghiệp FDI có kết quả kinh doanh lãi, lỗ
Bảng 2.2 Số liệu doanh thu, chi phí của Công ty Coca Cola năm 2006
Bảng 2.3 Số liệu giá bán của Công ty Coca Cola
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ALP Nguyên tắc căn bản giá thò trường
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
MNC Công ty đa quốc gia
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) là sự kiện nổi bật hàng đầu cùng với việc Mỹ thông qua Quy chế thương
mại bình thường vónh viễn (PNTR) với Việt Nam và tổ chức thành công Hội nghò
cấp cao APEC đã tạo nên vò thế mới cho nước ta trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh là những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài hơn 15 năm qua, giờ
đây làn sóng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2006 cao nhất từ trước tới nay.
Điều này là tin vui cho nước ta mở đường phát triển kinh tế, tăng nguồn thu ngân
sách đồng thời hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Song đi đôi với vấn đề này, có một điều mà chính phủ đau đầu đó là
chuyển giá. Chuyển giá không còn là vấn đề mới mẻ và có nhiều báo cáo khoa
học đề cập đến việc kiểm soát hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI
nhưng bản thân tôi nghiên cứu với góc nhìn mới là làm thế nào để có thể quản lý
và sử dụng luồng vốn này sao cho hiệu quả cao nhất mà không bò ảnh hưởng đến
nguồn thu ngân sách chính phủ, vì thế tôi chọn đề tài “Các giải pháp kiểm soát
hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” cho luận văn tốt
nghiệp cao học của mình.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề cơ bản mà đề tài mong muốn giải quyết là nghiên cứu, phân tích
hiện tượng chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam trong thời gian qua, qua đó đề ra các giải pháp chống chuyển giá
phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
và hiện tượng chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
7
ngoài. Tuy nhiên, do các số liệu về hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp
FDI tại Việt Nam là một vấn đề khá tế nhò và phức tạp nên các số liệu chỉ trình
bày trong khả năng cho phép, rất khó có thể cập nhật. Việc nghiên cứu sẽ tập
trung chủ yếu đối với TPHCM – nơi tập trung đầu tư trực tiếp nước ngoài với số
lượng lớn và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của TPHCM nói riêng và Việt
Nam nói chung.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện trên cơ sở áp dụng nghiên cứu theo phương pháp
duy vật biện chứng nhận thức thực tại khách quan kết hợp với phương pháp tổng
hợp, quy nạp, diễn dòch cùng với phương pháp thống kê, phân tích các nguồn dữ
liệu thu thập được. Các nghiên cứu về chuyển giá trong luận văn này sẽ được
xem xét trước hết trên cơ sở lý thuyết về chống chuyển giá phổ biến hiện nay,
sau đó sẽ được đối chiếu, kiểm nghiệm qua các ví dụ thực tế trước khi khái quát
thành các nhận đònh làm cơ sở cho việc đưa ra các kết luận và các giải pháp xử lý
cụ thể.
4. Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được thể hiện 03
chương :
- Chương 1 : Lý luận tổng quan về đònh giá chuyển giao và chuyển giá
trong các công ty đa quốc gia.
- Chương 2 : Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài ở TPHCM trong thời gian qua.
- Chương 3 : Các giải pháp chống chuyển giá của Việt Nam trong giai đoạn
hội nhập.
8
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ
CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.1 Công ty đa quốc gia và nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC
1.1.1 Khái niệm, vai trò của các MNC trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài là các công ty đa quốc gia. Công ty
đa quốc gia (Multinational Corporation - MNC) là công ty có sở hữu hay có quyền
kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dòch vụ ở bên ngoài biên giới của một quốc gia
mà công ty đó có trụ sở chính.
Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các MNC là nguyên nhân
trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (Foreign direct invesment – FDI).
Các MNC phát triển rất nhanh và có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh
tế thế giới, sản xuất ra khoảng từ 20% đến 25% tổng sản lượng của toàn thế giới
và chiếm 90% tổng khối lượng đầu tư nước ngoài trên toàn cầu.
Các MNC như Coca Cola, Pepsi, Nestle, Unilever, … cũng hoạt động kinh
doanh trên thò trường Việt Nam. Cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi của
chính quốc (home country) bằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các MNC sẽ tạo ra
một mạng lưới các công ty con (subsidary company) trên phạm vi toàn thế giới.
Chính bản thân công ty mẹ (parent company) ở chính quốc và các công ty con
được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới sẽ tạo nên vô vàn
những giao dòch phức tạp qua lại, mối quan hệ ràng buộc, cùng với tồn tại các
nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong
bản thân nội bộ của từng MNCù.
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia
9
Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực
nhất thế giới.
Các MNC là những công ty có tầm cỡ quốc tế, thiết lập hệ thống chi nhánh
hoặc công ty con ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua
việc bành trướng thế lực quốc tế.
Các MNC hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tòch của một nước và
vốn sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà tư bản của nước đó. Vốn được xuất
khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi
nhánh hoặc công ty con.
Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ
và một hoặc nhiều công ty con hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Với cơ cấu tổ chức
này, cho dù những công ty con có tồn tại dưới hình thức này hoặc hình thức khác
thì quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn thuộc
về những công ty mẹ.
1.1.3 Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC
Do quy mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi đòa lý bao gồm
nhiều quốc gia với nhiều chính sách, phong tục tập quán kinh doanh khác nhau
mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC là rất đa dạng và khó kiểm
soát. Tuy nhiên, ta cũng có thể nhận dạng một số nghiệp vụ chuyển giao nội bộ
qua các dòch chuyển về tài sản hữu hình và vô hình, dòch chuyển nguồn vốn bằng
cách thức đi vay hay cho vay, sự cung cấp các dòch vụ tư vấn quản lý hay các
nghiệp vụ, dòch vụ tài chính khác. … Vì tính chất quan trọng liên quan đến chiến
lược hoạt động của cả MNC, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này có tính bảo
mật và tập trung cao mà các cơ quan thuế rất khó có thể đưa ra được bằng chứng
về hành vi chuyển giá của MNC.
10
Nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thực chất là các nghiệp vụ mua bán, trao
đổi, giao dòch được thực hiện giữa công ty mẹ với các công ty con và ngược lại,
hoặc giữa các công ty con với nhau.
1.2 Đònh giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia
1.2.1 Khái niệm
Các MNC theo đuổi chiến lược toàn cầu hóa đã ngày càng mở rộng hoạt
động đầu tư và kinh doanh ra nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới. Do đó,
một sản phẩm có thể được thiết kế tại một số nước, một số bộ phận cấu thành của
nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở
nước thứ ba, tất cả sẽ được lắp rắp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ
được bán rộng rãi trên toàn cầu. Vấn đề này làm phát sinh các nghiệp vụ nội bộ
công ty rất phong phú và đa dạng. Giá mà tại đó hàng hóa và dòch vụ được
chuyển giao gọi là giá chuyển giao - price transfering. Như vậy, khi thực hiện một
nghiệp vụ chuyển giao qua lại giữa các MNC, phải tính toán giá chuyển giao giữa
các bộ phận. Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là đònh giá
chuyển giao (price transfering ).
Đònh giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác đònh giá cả
của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc
tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt
động. Với mức giá xác đònh cao hay thấp trong từng giao dòch lại tác động trực
tiếp đến nghóa vụ nộp thuế cho các quốc gia và sự di chuyển ngoại tệ giữa các
nước.
Ví dụ sản phẩm điện tử tivi Sony (Nhật Bản), sản xuất bóng đèn hình do
công ty con của Sony tại Thái Lan sản xuất theo đơn đặt hàng từ Nhật Bản, các
linh kiện khác được thực hiện theo đơn đặt hàng tại Singapore và công đoạn sản
xuất hoàn chỉnh tại Công ty điện tử Sony Việt Nam. Tivi Sony này có thể tiêu thụ
tại Việt Nam hay xuất khẩu sang thò trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào hợp
11
đồng đã ký kết của Sony Nhật Bản hoặc do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này. Chính
vì các công đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tách rời mà giữa các công ty
con và công ty mẹ của một MNC bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao
nội bộ. Đây chính là nguyên nhân hình thành các hoạt động đònh giá chuyển giao.
Để đảm bảo nguyên tắc thương mại công bằng – cơ sở quan trọng nhất cho
việc trao đổi mua bán và lưu thông hàng hóa, dòch vụ giữa tất cả quốc gia, tránh
các thiệt hại phát sinh do các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ gây ra, một nguyên
tắc chung đã được tất cả các quốc gia thống nhất áp dụng. Đó là nguyên tắc xác
đònh giá trò của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC dựa trên căn
bản giá thò trường (The Arm’s Length Principle – ALP).
1.2.2 Nguyên tắc dựa trên giá thò trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ
(Arm’s Length Principle - ALP)
Nguyên tắc căn bản giá thò trường là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức
hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co-operation and
Development – OECD) đưa ra nhằm đề cập tới giá cả của hàng hóa, dòch vụ
trong hoạt động thương mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập – không có sự
liên kết. Khi các công ty hoàn toàn độc lập có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau
thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa,
dòch vụ, điều khoản về tín dụng, …) đều được đònh hướng và chi phối bởi các tác
động khách quan của thò trường. Ngược lại, khi các công ty có liên kết thực hiện
quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa và dòch vụ, các tác động thò trường không
nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản thương mại và tài chính của
hợp đồng và do đó chắc chắn sẽ có sự sai lệch, thiếu khách quan trong quan hệ
chuyển giao này.
Do tính khách quan của căn bản thò trường phản ánh đúng bản chất của thò
trường và các quy luật giá trò, quy luật cung cầu hàng hóa dòch vụ, quy luật cạnh
tranh, do đó tất cả các thành viên của OECD đều nhất trí sử dụng căn bản giá thò
12
trường làm cơ sở để tính toán trong khi xác đònh giá chuyển giao và các vấn đề
liên quan đến các loại thuế.
Tuy nhiên, trong thực tế các hoạt động mua bán diễn ra rất phức tạp và có
rất nhiều các yếu tố kinh tế và phi kinh tế khác cùng tham gia vào các quá trình
này làm cho rất khó xác đònh được các nghiệp vụ chuyển giao tương đương có thể
so sánh được trong các điều kiện nhất đònh tương ứng. Chẳng hạn như ALP thực
sự khó có thể áp dụng cho sự chuyển giao diễn ra trong một MNC gồm nhiều
công ty liên kết thực hiện một dây chuyền công nghệ sản xuất khép kín và sản
phẩm của nó lại có tính đặc thù rất cao, liên quan tới giá trò tài sản vô hình đặc
biệt nào đó.
Chính vì thế trong một số trường hợp nhất đònh, ALP có thể trở thành gánh
nặng về quản lý cho cả phía các MNC và cho cả cơ quan thuế khi phải đối diện
với các giao dòch trao đổi, mua bán xuyên quốc gia. Mặc dù công nghệ thông tin
và mạng internet đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, nhưng còn lâu thì các
MNC và các cơ quan thuế mới tìm được đầy đủ thông tin phục vụ cho việc áp
dụng nguyên tắc căn bản giá thò trường.
Tuy có những hạn chế trên nhưng cho đến nay OECD và các thành viên
vẫn tiếp tục công nhận sự đúng đắn của nguyên tắc ALP trong việc xác đònh giá
chuyển giao giữa các công ty liên kết và các cơ quan thuế vẫn tiếp tục thừa nhận
sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc ALP trong các hoạt động mua bán trao đổi
hàng hóa và dòch vụ đặc biệt là khi các giao dòch vượt qua ranh giới đòa lý của
một quốc gia. Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong đònh giá chuyển giao
các sản phẩm, hàng hóa và dòch vụ có thể tạo nên rủi ro cho MNC là phải chòu
đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập.
Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động
thực sự lên các chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so
sánh giá chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các
13
chuyển giao có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều
kiện tương ứng. Tuy vậy trong thực tế hầu hết như chúng ta không tìm ra được các
chuyển giao tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP,
do đó chúng ta phải tìm ra những cách tiếp cận khác mang tính gián tiếp để vẫn
có thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ
MNC. Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp (hay lãi ròng) trong nhiều
trường hợp chúng ta có thể xác đònh các chuyển giao đang đề cập có thể tuân thủ
nguyên tắc ALP hay không ?
1.2.3 Các phương pháp đònh giá chuyển giao trong các MNC
1.2.3.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled
Price Method – CUP)
Phương pháp CUP là phương pháp so sánh giữa giá cả phải trả cho các
hàng hóa, dòch vụ được chuyển giao trong các giao dòch có kiểm soát với giá cả
phải trả cho các hàng hóa, dòch vụ được chuyển giao trong các giao dòch tự do có
thể so sánh được.
Phương pháp CUP được xem là phương pháp đònh giá chuyển giao trực
tiếp, có độ chính xác cao so với các phương pháp khác theo nguyên tắc giá thò
trường.
Điều quan trọng trong phương pháp này là việc lựa chọn các nghiệp vụ
tương đồng nhau để so sánh. Do hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều loại hình
phong phú và đa dạng nên thông thường rất ít gặp các nghiệp vụ so sánh hoàn
toàn giống nhau mà có thể xảy ra trường hợp các giao dòch không hoàn toàn
tương đồng nhau làm ảnh hưởng đến giá cả chuyển giao như chất lượng hàng hóa,
nhãn hiệu hàng hóa, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, … Khi đó chúng
ta chỉ áp dụng phương pháp CUP sau khi đã điều chỉnh để loại trừ các yếu tố ảnh
hưởng.
14
Tuân theo nguyên tắc ALP, phương pháp CUP cần phải so sánh giữa giá
chuyển giao nội bộ bên trong MNC với các giá có thể so sánh sau :
- Giá bán của một công ty thành viên của MNC cho một công ty không liên
kết.
- Giá bán giữa hai công ty không là thành viên của MNC và hoàn toàn độc
lập với nhau.
- Giá bán của một công ty không liên kết cho một công ty thành viên của
MNC.
Kết quả so sánh sẽ xác đònh giá bán chuyển giao nội bộ giữa các thành
viên của MNC có tuân thủ nguyên tắc giá cả thò trường hay không. Nếu có hiện
tượng chuyển giá cơ quan thuế có quyền áp đặt giá trên để thay thế giá chuyển
giao nội bộ.
Trong thực tế, phương pháp CUP là phương pháp thích hợp nhất đối với cả
bên mua và bên bán vì giá cả do bên thứ ba tham gia vào quá trình chuyển giao
phản ánh được lợi nhuận mà bên mua và bên bán đều chấp nhận được.
1.2.3.2 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method – RPM)
Phương pháp RPM là phương pháp để xác đònh giá thò trường của nghiệp
vụ chuyển giao bằng cách lấy giá bán thực tế trừ bớt đi một khoản chiết khấu
thích ứng cho người bán lại. Khoản chiết khấu này bao gồm các chi phí bán hàng,
các chi phí hoạt động liên quan đến việc bán hàng và lợi nhuận tương ứng hợp lý
dành cho công ty thương mại. Như vậy, phần còn lại sau khi đã trừ chiết khấu từ
giá mua hàng hóa, sau khi điều chỉnh chi phí mua hàng tương ứng, có thể được
xem như là giá cả theo nguyên tắc thò trường (ALP) cho nghiệp vụ chuyển giao
giữa các công ty con tương ứng của MNC.
Phương pháp này thích hợp với các hoạt động trong ngành thương mại - có
các nghiệp vụ mua đi bán lại các sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, khi sử dụng
phương pháp RPM, chúng ta không thể lấy tỷ lệ lãi gộp bình quân của toàn ngành
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét