Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phẩm ở Công ty Công nghệ Thanh Hải

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản
tiền sử dụng cho nhu cầu sản xuất của phân xởng sản xuất.
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm, công
việc lao vụ sản xuất trong kỳ
Theo cách phân loại này toàn bộ CPSX chia làm 2 loại:
- Chi phí khả biến ( biến đổi )
- Chi phí bất biến ( cố định )
Ngoài các cách phân loại trên thì có thể phân loại chi phí sản xuất theo
phơng pháp tập hợp chi phí cấu thành giá thành sản xuất của sản phẩm và mối
quan hệ đối tợng chịu chi phí ( chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp ) Do vậy tuỳ
theo mục đích mà ta tiến hành phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau.
Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng phục vụ cho
từng yêu cầu quản lý và từng đối tợng cung cấp thông tin cụ thể nhng chúng
luôn bổ xung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về tất cả chi phí sản xuất
phát sinh trong phạm vi toàn công ty ở từng thời kỳ.
Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng cho công tác quản lý
chi phí sản xuất theo định mức và giá thành kế hoạch cho kỳ sau.
1.1.1.3. Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất phát sinh gắn liền với nơi diễn ra
hoạt động sản xuất sản phẩm, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến
hành ở nhiều địa điểm, nhiều phân xởng khác nhau; ở từng địa điểm sản xuất lại
có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm theo các qui trình công nghệ sản xuất khác
nhau. Do đó chi phí sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp cũng phát sinh ở
nhiều địa điểm, nhiều bộ phận liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc khác
nhau và thực chất của việc xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là
xác định nơi phát sinh chi phí và đối tợng chịu chi phí.
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Do đó để xác định đúng đắn đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất tr-
ớc hết phải căn cứ vào đặc điểm công dụng của chi phí trong sản xuất . Tuỳ theo
cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp mà đối
tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể là tất cả qui trình công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp hay từng giai đoạn, từng phân xởng, tổ đội sản xuất. Tuỳ theo qui
trình công nghệ, đặc điểm của sản phẩm mà đối tợng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất có thể là từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm hay từng đơn hàng.
Nh vậy: đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi ( giới hạn ) mà chi
phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm để kiểm tra giám sát chi phí sản xuất và
phục vụ công tác tính giá thành sản phẩm.
Xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của
công tác kế toán chi phí sản xuất. Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản
xuất thì mới có thể đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, tổ chức tốt công
tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ khâu ghi chép ban đầu, mở sổ và ghi sổ
kế toán, tổng hợp số liệu.
1.1.1.3. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất :
Tuỳ thuộc vào điều kiện và khả năng tập hợp chi phí sản xuất vào các đối
tợng có liên quan, kế toán sẽ áp dụng phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất phù
hợp.
- Phơng pháp tập hợp trực tiếp : áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên
quan trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí đã xác định.
- Phơng pháp tập hợp gián tiếp : áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên
quan tới nhiều đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, không thể tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng chịu chi phí đợc.
1.1.2. Giá thành sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm:
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động
vật hoá có liên quan đến khối lợng sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thể hiện các mặt
hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, là thớc đo mức tiêu hao để
bù đắp trong quá trình sản xuất , là một căn cứ xây dựng giá cả sản phẩm hàng
hoá. Chỉ tiêu giá thành đợc tính toán, xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ
cụ thể và chỉ tính toán với số lợng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành toàn bộ
quá trình sản xuất hoặc kết thúc một số giai đoạn sản xuất chứ không tính cho
sản phẩm còn nằm trên dây truyền sản xuất.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là
chi phí sản xuất đã chi ra và lợng giá trị sử dụng thu đợc cấu thành khối lợng
sản phẩm hay công việc đã hoàn thành. Nh vậy, bản chất của giá thành là sự
dịch chuyển của các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc đã hoàn
thành.
Nh vậy, Giá thành có hai chức năng chủ yếu là chức năng thớc đo bù đắp
chi phí và chức năng lập giá. Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn
thành một khối lợng sản phẩm,, công việc phải đợc bù đắp bằng chính số tiền
thu về tiêu thụ, bán sản phẩm, lao vụ. Việc bù đắp các chi phí sản xuất và
nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp phải bảo
đảm trang trải bù đắp đợc mọi chi phí đầu t vào quá trình sản xuất và phải có
lãi.
Giá thành sản phẩm chính là xuất phát điểm để xác định giá cả thị trờng
và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Việc phân loại giá thành sẽ giúp phân tích đợc những biến động của chỉ
tiêu giá thành và chiều hớng của chúng để có biện pháp thích hợp nhằm hạ giá
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thành sản phẩm. Căn cứ các tiêu thức khác nhau ngời ta phân giá thành sản
phẩm thành các loại sau:
Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành:
Theo tiêu thức này, giá thành sản phẩm đợc chia làm 3 loại:
Giá thành kế hoạch: Việc tính toán xác định giá thành kế hoạch sản
phẩm đợc tiến hành trớc khi bắt đầu quá trình sản xuất dựa trên chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch và đợc xem là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành và kế hoạch giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: Việc tính giá thành định mức đợc thực hiện trớc
khi quá trình sản xuất dựa trên các định mức, dự toán chi phí tiến hành và chi
phí cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức đợc xem là thớc đo chính xác để
xác định kết quả sử dụng tài sản, vật t, tiền vốn của doanh nghiệp trong sản xuất
giúp cho việc đánh giá đúng các giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp áp dụng
trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chi phí.
Giá thành thực tế: Khác với 2 loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ
đợc xác định khi quá trình sản xuất đã hoàn thành và dựa trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ và sản lợng sản phẩm thực tế đã
sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết
quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp
kinh tế tổ chức kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh
hởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp.
Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán:
Theo cách này giá thành đợc chia thành:
Giá thành sản xuất: bao gồm các chi phí có liên quan đến việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất ( chi phí nguyên vật
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung ). Gtsx là
căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.
Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ( chi phí quản lý và chi phí
bán hàng ). Giá thành toàn bộ chỉ đợc tính toán khi sản phẩm đã đợc tiêu thụ, là
căn cứ để tính toán xác định lãi trớc thuế lợi tức của mỗi doanh nghiệp.
Trên đây là 2 cách phân loại chủ yếu. Chúng ta cần phải sử dụng các chỉ
tiêu trên để đảm bảo quản lý đợc kịp thời, chính xác và có kết quả kinh tế cao.
1.1.2.3. Đối tợng tính giá thành:
Đối tợng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ
do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải tính đợc tổng giá thành và giá thành đơn
vị. Xác định đối tợng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên trong tất cả
công việc tính giá thành sản phẩm. Bộ phận Kế toán tính giá thành phải căn cứ
vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và yêu
cầu trình độ quản lý để xác định đối t ợng tính giá thành cho thích hợp.
- Về mặt tổ chức:
+ Nếu sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm, từng công việc sản xuất là
đối tợng tính giá thành.
+ Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt hoặc theo đơn đặt hàng
thì từng loạt sản phẩm hay từng đơn đặt hàng là đối tợng tính giá thành.
+ Nếu tổ chức sản xuất nhiều loại sản phẩm, khối lợng sản xuất lớn thì
mỗi loại sản phẩm là một đối tợng tính giá thành.
- Về mặt qui trình sản xuất
+ Nếu qui trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục thì đối tợng tính giá thành
có thể là thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng hoặc cũng có thể là nửa
thành phẩm ở từng giai đoạn sản xuất.
+ Nếu qui trình sản xuất giản đơn thì đối tợng tính giá thành chỉ có thể là
sản phẩm hoàn thành ở cuối qui trình sản xuất.
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song thì đối tợng
tính giá thành có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc sản phẩm lắp ráp hoàn
chỉnh.
Việc xác định đối tợng tính giá thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ
chức các bảng tính giá thành sản phẩm, lựa chọn phơng pháp tính giá thành
thích hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lý.
1.1.2.4. Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công
việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành đã sản xuất hoàn thành.
Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tợng tính giá thành thích hợp sẽ
giúp cho việc tổ chức tính giá thành sản phẩm đợc khoa học, hợp lý, đảm bảo
cung cấp số liệu về giá thành thực tế của sản phẩm kịp thời, phát huy đầy đủ
chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế
toán. Mỗi đối tợng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản
phẩm và chu kỳ sản xuất của chúng để xác định cho thích hợp.
Trong trờng hợp tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn xen kẽ,
liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng tháng.
Trong trờng hợp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt, theo từng
đơn đặt hàng, chu kỳ sản phẩm dài sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ
sản xuất sản phẩm đó thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời điểm kết thúc chu
kỳ sản xuất và sản phẩm đã hoàn thành.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí là biểu hiện mặt hao
phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là 2 mặt
thống nhất của một quá trình vì vậy chúng giống nhau về chất. Cả chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm đều bao gồm lao động sống và hao phí lao động vật
hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành đợc
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tính trên cơ sở chi phí sản xuất đã đợc tập hợp và số lợng sản phẩm đã đợc hoàn
thành. Nội dung giá thành sản phẩm chính là chi phí sản xuất đợc tính cho số l-
ợng sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Nh vậy, chi phí sản xuất và giá thành đều
có nội dung cơ bản là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã bỏ
ra cho hoạt động sản xuất. Sự tiết kiệm hay lãng phí của doanh nghiệp về chi
phí sản xuất đều có ảnh hởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm hạ hoặc cao. Do
vậy, việc quản lý giá thành phải gắn với việc quản lý chi phí sản xuất.
Tuy nhiên, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên
giá thành và chi phí sản xuất khác nhau về mặt lợng. Đợc tính vào chỉ tiêu giá
thành chỉ có những chi phí gắn liền với sản phẩm hay khối lợng công việc hoàn
thành, không kể chi phí đợc chi ra trong kỳ nào. Do lợng chi phí sản xuất kỳ tr-
ớc chuyển sang kỳ này thờng không thống nhất với lợng chi phí sản xuất kỳ
này chuyển sang kỳ sau nên tổng giá thành trong kỳ thờng không bằng tổng chi
phí chi ra trong kỳ đó. Hơn nữa:
Chi phí sản xuất là những chi phí đã chi ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm không kể sản phẩm đó đã hoàn thành hay cha và thờng gắn với một thời
kỳ nhất định. Còn tổng sản phẩm là những chi phí sản xuất đợc tính cho một đối
tợng tính tổng cụ thể đã hoàn thành không kể chi phí đó chi ra trong thời kỳ
nào.
Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trớc trong kỳ
nhng cha phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả trớc trong kỳ trớc nhng
kỳ này mới thực tế phát sinh, nhng không bao gồm chi phí trả trớc của kỳ trớc
phân bổ cho kỳ này nhng thực tế cha phát sinh. Ngợc lại, giá thành sản phẩm lại
chỉ liên quan trực tiếp đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trớc đợc phân
bổ trong kỳ.
Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn dở dang cuối kỳ và sản phẩm
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hỏng. Song giá thành sản phẩm lại không liên quan đến chi phí sản xuất của
sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng mà chỉ liên quan đến chi phí sản
xuất của sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang kỳ này.
Ta có thể khái quát mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm qua đẳng thức sau:
Tổng giá thành Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất
sản phẩm dở dang đầu kỳ trong kỳ dở dang cuối kỳ
Khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau trong các
ngành không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng chi phí sản
xuất trong kỳ.
1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
1.1.3.1 Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Khi nền kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp cần phải quản lý chặt chẽ
hơn về chi phí sản xuất, tìm cách giảm thiểu chi phí nhng vẫn phải đảm bảo tiêu
chí thu đợc nhiều lợi nhuận. Muốn thực hiện đợc điều đó thì một mặt phải cải
tiến kĩ thuật để tăng năng suất, mặt khác phải tăng cờng quản lý kinh tế mà
trọng tâm là quản lý chi phí sản xuất. Điều này chỉ có kế toán mới thực hiện đợc
vì đây là một công cụ quản lý kinh tế tài chính quan trọng. Với chức năng là ghi
chép, tính toán, phản ánh và giám đốc một cách thờng xuyên liên tục sự biến
động của vật t, tài sản, tiền vốn. Kế toán sử dụng cả thớc đo giá trị và thớc đo
hiện vật để quản lý chi phí. Vì vậy, kế toán có thể cung cấp kịp thời những tài
liệu cần thiết về các chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, đáp
ứng kịp thời nhu cầu quản lý chi phí sản xuất đối với từng hoạt động, loại sản
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
12
= +
-
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phẩm, lao vụ dịch vụ. Nhờ đó mà chủ doanh nghiệp biết đợc tình hình sử dụng
các yếu tố chi phí là tiết kiệm hay lãng phí khi so sánh chi phí định mức với chi
phí thực tế; từ đó đề ra các biện pháp thích hợp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm, có quyết định phù hợp với sự phát triển kinh doanh và
yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trờng nếu tiết kiệm đợc chi phí sản xuất, giá thành sản
phẩm hạ trong khi chất lợng sản phẩm không thay đổi thì uy tín cũng nh chỗ
đứng của doanh nghiệp trên thị trờng ngày càng đợc khẳng định. Nh vậy kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần không thể
thiếu đợc khi thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong doanh nghiệp sản xuất.
1.1.3.2. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan
trọng phản ánh chất lợng sản xuất của sản phẩm. Do đó các doanh nghiệp cần tổ
chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Để làm đợc điều đó kế toán cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
+ Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
+ Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm phù hợp với phơng pháp kế toán hàng tồn kế hoạch (Kê
khai thờng xuyên hoặc Kiểm kê định kỳ ) mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
+ Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng
đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định theo các yếu tố chi phí và
khoản mục giá thành, xác định đúng đắn trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
+ Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho các
cấp quản lý doanh nghiệp ,tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định mức
và dự toán chi phí , phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế
hoạch hạ giá thành sản phẩm đồng thời tổ chức tốt công tác kiểm kê và đánh giá
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khối lợng sản phẩm dở dang trong kỳ một cách khoa học đầy đủ và chính xác
để từ đó phát hiện các hạn chế và khả năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp để
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
1.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.2.1. Tổ chức chứng từ ban đầu
Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ các nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành. Tổ chức chứng từ kế toán là sự vận
dụng của phơng pháp chứng từ trong thực tiễn , nhằm hoàn thành nên hệ thống
thông tin ban đầu cho doanh nghiệp. Trong hạch toán chi phí sản xuất các
chứng từ đợc sử dụng là:
- Phiếu thu, Phiếu chi
- Hóa đơn thuế GTGT, hóa đơn mua hàng
- Bảng phân bổ tiền lơng
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu
- Bảng phân bổ khấu hao
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Bảng thanh toán lơng
Các chứng từ đợc sử dụng phải tiêu chuẩn hóa về biểu mẫu, việc tạo lập và
luân chuyển chứng từ phải đảm bảo đợc tính hợp lệ, hợp pháp. Để tính đợc giá
thành sản xuất của sản phẩm kế toán phải mở đợc hệ thông sổ kế toán chi tiết
để tập hợp chi phí sản xuất và lập đợc các bảng tính giá thành sản xuất của sản
phẩm.
1.2.2. Tài khoản kế toán sử dụng
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành việc sử dụng các tài khoản
kế toán để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất của sản phẩm cần
đợc tập hợp theo những phạm vi nhất định có mức độ tổng hợp theo tài khoản
SV: Lê Thị Lộc Lớp: cđkt4-K4 Luận văn tốt nghiệp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét