Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Bệnh Đái tháo đường

5

b. Glucose niệu: Ở người bình thường, trong nước tiểu khơng có đường. Ngưỡng
đường thận trung bình là 160-180mg/ml (8,9-10mmol/l). Khi đường huyết tăng
cao vượt q ngưỡng đường thận tức là vượt q khả năng tái hấp thu glucose
của thận, glucose sẽ có trong nước tiểu. Ngưỡng đường thận thay đổi khác
nhau đối với từng cá thể. Trong một số trường hợp bệnh lý của thận mặc dù
đường huyết bình thường nhưng vẫn có đường trong nước tiểu. Ngược lại, ở
người cao tuổi thường có ngưỡng đường thận cao nên ít thấy đường niệu trong
khi đường huyết khá cao. Do đó xét nghiệm glucose niệu chỉ có giá trị khi tiến
hành đồng thời với xét nghiệm glucose huyết.
c. Ceton niệu: Thể ceton được hình thành trong cơ thể là do tăng phân hủy lipid
tạo ra. Thể ceton gồm 3 thành phần: Acetoacetat, Aceton, β-
Hydroxybutyrat; các thành phần này được đào thải qua nước tiểu. Ở người bình
thường khơng có ceton trong nước tiểu. Trong trương hợp nhiễm toan chuyển
hóa do ĐTĐ, cơ thể đào thải nhiều ceton ra nước tiểu. Đây là dấu hiệu rất có giá
trị báo trước cho tình trạng hơn mê nhiễm toan.
*Hiện nay, có thể xác định glucose huyết, glucose niệu hay ceton niệu một cách
nhanh chóng, chính xác bằng các dụng cụ như que thử glucose niệu, ceton niệu,
máy và kit đo glucose huyết.
d. Định lượng Insulin và C-peptit trong máu: Insulin và C-peptit huyết được
định lượng bằng phương pháp RIA (Radioimmuno Assay-Định lượng miễn
dịch phóng xạ) hoặc ELISA. C-peptit được bài tiết cùng tiền Insulin
(Proinsulin) từ tế bào β tiểu đảo tụy, đây là yếu tố liên kết giữa nhánh A và B
của Proinsulin. C-peptit được bài tiết qua thận ở trạng thái ngun vẹn, khơng
bị biến đổi. Định lượng C-peptit sẽ đánh giá chính xác khả năng bài tiết Insulin
của tụy.
e. Các xét nghiệm khác: Ngồi các xét nghiệm trên còn có các xét nghiệm khác
để chẩn đốn xác định và theo dõi tiến triển bệnh trong điều trị như: HbA
1
c
(Glycosylated hemoglobin), Albumin glycosylated và protein huyết thanh,
protein niệu, β
2
-Microglobulin
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6

1.1.6 Biến chứng: [28, 45, 46]
a. Biến chứng tim: đây là biến chứng nặng, thường là xơ cứng mạch vành gây cơn
đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.
b. Biến chứng ngồi da: ngứa tồn thân, ngứa sinh dục, mụn nhọt ngồi da, u mỡ
vàng, hoại tử mỡ, viêm da thể cứng bì teo.
c. Biến chứng mắt: nhiễm khuẩn mắt, liệt nhãn cầu gây nhìn đơi, viêm đỏ mống
mắt, bệnh võng mạc, thiên đầu thống chảy máu, trường hợp nặng có thể mù.
d. Hoại tử do ĐTĐ: đây là biến chứng muộn của bệnh do lâu ngày bị bỏ qua
khơng điều trị. Thường là hoại tử ở chi dưới nhưng cũng có thể ở các tạng như:
tim, võng mạc, não, thận.
e. Biến chứng thần kinh: đau dây thần kinh tọa, trụ; rối loạn cảm giác sâu, mất
phản xạ gân xương; liệt cơ.
f. Biến chứng thận: gây protein niệu, đái máu vi thể, hội chứng thận hư.
g. Biến chứng răng: là một trong các biến chứng sớm, thường là viêm lợi và rụng
răng.
h. Biến chứng phổi: áp xe phổi, đây là biến chứng rất dễ gặp.
i. Hơn mê: là biến chứng nặng nhất và thường gây tử vong. Bệnh nhân có thể hơn
mê do ĐTĐ như hơn mê do nhiễm toan, ceton, do tăng thẩm thấu hoặc có thể
hơn mê do hạ glucose huyết vì q liều Insulin.
1.1.7. Điều trị ĐTĐ:
Chế độ khơng dùng thuốc: [4, 17, 26, 32, 36, 37]
Chế độ ăn uống: việc điều trị ĐTĐ bằng chế độ ăn cần tn theo ngun
tắc: tổng số calo đưa vào phải cung cấp một năng lượng tương xứng để đạt tới duy
trì cân nặng tối ưu cho bệnh nhân và giữ tình trạng sức khỏe tốt nhất. Cần chia
khẩu phần ăn ra làm nhiều bữa, giờ giấc ăn đều đặn. Tránh dùng ruợu bia và các
chất kích thích khác.
Vận động thể lực: vận động thể lực làm tăng nhạy cảm của Insulin do tăng
số lượng và chất lượng của receptor Insulin của tế bào. Thể dục làm giảm một số
biến chứng của bệnh.
Chế độ dùng thuốc: [9, 12, 20, 22, 24, 30, 33]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7

ĐTĐ là một bệnh nguy hiểm do có thể gây ra nhiều biến chứng trầm trọng. Do
đó, cần kết hợp hài hòa giữa chế độ dùng thuốc và khơng dùng thuốc nhằm duy trì
chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, làm giảm nhẹ các triệu chứng bệnh và tránh
biến chứng . Ở Việt Nam có hai hướng sử dụng thuốc là:
1) Sử dụng thuốc tân dược: Có rất nhiều chế phẩm tân dược được sử dụng trong
điều trị ĐTĐ. Các thuốc này được xếp thành 2 nhóm:
▪ Insulin
▪ Các thuốc hạ glucose huyết đường uống
a. Insulin: Insulin ngoại sinh được sử dụng khi tụy khơng sản xuất đủ Insulin để
điều hòa chuyển hóa glucid. Insulin dùng trong điều trị ĐTĐ type I hoặc type II
khi dùng thuốc uống hạ đường huyết khơng còn tác dụng. Cơ chế tác dụng của
Insulin bao gồm:
 Tăng cường vận chuyển glucose từ máu vào tế bào, tăng cường oxyhóa
glucose tạo năng lượng và chuyển glucose thành glycogen dự trữ.
 Tăng cường tổng hợp protein bằng cách chuyển acid amin vào tế bào.
 Tăng cường chuyển hóa glucose thành chất béo dự trữ.
Insulin được sản xuất theo 2 phương pháp:
- tách chiết từ tụy lợn, bò.
- tái tổ hợp ADN, sử dụng tế bào nấm men làm cơ thể sinh sản.
Các chế phẩm Insulin thơng thường gồm có 4 loại:
Insulin khởi đầu cực nhanh: Insulin lispo.
Insulin tác động nhanh: Regular, Crystalline zinc, Prompt zinc suspension
Insulin.
Insulin tác dụng trung bình: Isophan Insulin suspension, Protamin zinc
suspension.
Insulin tác dụng chậm: Ultralente Insulin.
b. Các thuốc hạ glucose huyết đường uống: [9, 24, 38, 40, 46]
 Sulphonylurea: (tolbutamid, gliclazid) là thuốc dùng đầu tiên ở bệnh nhân
ĐTĐ type II khơng béo phì. Trong cơ thể, Sulphonylurea được gắn lên thụ thể đặc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8

hiệu nằm ở màng tế bào β tiểu đảo Langerhan và kích thích giải phóng Insulin.
Khả năng kích thích giải phóng Insulin của Sulphonylurea trên tế bào β phụ thuộc
vào khả năng gắn với các thụ thể. Do đó Sulphonylurea chỉ có tác dụng khi tế bào
β khơng bị tổn thương.
 Biguanide: (metformin) dùng cho bệnh nhân béo phì. Thuốc làm tăng tác
dụng của Insulin tại thụ thể và sau thụ thể, tăng sử dụng glucose ở tổ chức ngoại
vi, đặc biệt là ở tế bào cơ. Thuốc làm giảm tạo glucose ở gan, giảm hấp thu
glucose ở ruột. Tuy nhiên, nhóm này khơng có tác dụng đối với sự bài tiết Insulin
ở tụy. Do đó, nên phối hợp với Sulphonylurea hoặc với Insulin trong điều trị. [52]
 Các thuốc ức chế men α-glucosidase: (acarbose, miglitol) là
pseudotetrasaccharide có nguồn gốc từ vi khuẩn. Ở niêm mạc ruột non, thuốc ức
chế cạnh tranh men tiêu hóa tinh bột α-glucosidase, do đó làm chậm sự hấp thu
carbohydrate. Thuốc được dùng trong bữa ăn để làm giảm nồng độ glucose huyết
sau ăn.
 Meglitinide: (repaglinide) thuốc làm giảm glucose huyết bằng cách kích
thích tiết Insulin từ tế bào β tụy còn hoạt động.
 Thiazolidinedione hay Glitazon: (troglitazone, rosiglitazone). Trong nhân tế
bào của những mơ nhạy cảm với Insulin (mơ mỡ, mơ cơ, mơ gan) có một loại thụ
thể là PPARγ (Per-oxisome proliferator-activated receptor gamma). Các glitazon
tạo phức hợp với thụ thể PPARγ, qua đó thúc đẩy sự điều hòa sao chép gen giúp
tổng hợp một số protein làm tế bào tăng đáp ứng với hoạt tính của Insulin. Thuốc
có tác dụng làm giảm trực tiếp tình trạng đề kháng Insulin, cải thiện chức năng tế
bào , làm giảm đáng kể nồng độ Insulin nội sinh do đó gây hạ glucose huyết.
Ngồi ra, thuốc còn làm giảm tỉ lệ cholesterol tồn phần của HDL-cholesterol,
giảm nồng độ triglycerid máu, vì vậy làm thuốc làm giảm được nguy cơ tim mạch-
biến chứng thường thấy ở bệnh nhân ĐTĐ. Thuốc được sử dụng đơn độc hoặc
hoặc kết hợp với thuốc hạ đường huyết khác như metformin, sulfonylurease. Liều
2-4mg/lần/ngày. Hiện nay, thuốc đã được giới thiệu và lưu hành ở nước ta.
2) Sử dụng thuốc có nguồn gốc dược liệu:
 Đái tháo đường theo quan niệm Đơng Y [6, 7, 15, 35]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9

Đại cương: Đái tháo đường thuộc chứng “tiêu khát”, đó là loại chứng trạng có đặc
điểm: thèm ăn, ăn nhiều mà vẫn gầy, khát nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều.
Ngun nhân và cơ chế bệnh sinh:
- Do ăn nhiều thức ăn béo, ngọt liên tục gây tích trệ lâu ngày ảnh hưởng đến
chức năng thăng thanh giáng trọc, uất trệ lâu ngày hóa hỏa tổn thương tân
dịch gây ra khát, uống nhiều.
- Do sang chấn tinh thần gây uất kết hóa hỏa.
Hai ngun nhân trên đều gây uất nhiệt hóa hỏa làm phần âm của các tạng phủ bị
hao tổn: phế, vị, thận. Hỏa làm phế âm hư gây khát, vị âm hư gây đói nhiều, người
gầy. Thận là nguồn gốc của âm dịch. Thận âm hư khơng tàng trữ được tinh hoa ngũ
cốc, khơng chủ được thủy, thủy dịch bị bài tiết ra ngồi nhiều gây đái nhiều và
nước tiểu có đường.
Pháp trị: dưỡng âm thanh nhiệt, sinh tân dịch.
 Các thuốc Đơng y sử dụng trong điều trị ĐTĐ:
Sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật trong phòng và chữa bệnh là thói quen,
kinh nghiệm và truyền thống của người dân Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Một nghiên cứu về vấn đề sử dụng thảo dược thường xun cho bệnh nhân ĐTĐ ở
Marốc đã cho thấy liệu pháp thực vật là kinh tế nhất và hiệu quả hơn thuốc hiện
đại. [5] Có rất nhiều lồi cây đã được dùng theo kinh nghiệm dân gian để làm giảm
nhẹ triệu chứng cũng như biến chứng của bệnh ĐTĐ: Cải xoong (Nasturium
officinale Brassicaceae); Mướp đắng (Mormordica charantia Cucurbitaceae); Bồ
cơng anh (Taraxacum officinale Asteraceae); Râu mèo (Orthosiphon spiralis
Lamiaceae); Cỏ lồng đèn (Physalis minima Solanaceae); Dứa (Ananas sativus); Ổi
(Psidium guajava); Rau má (Celltela asiatica); Ngò tàu (Eryngium foetidum
Apiaceae); Quỉ trâm thảo (Bidens pilosa Asteraceae); Củ cải trắng (Ravanus
sativus); Bạch truật (Atractiloides macrocephala Asteraceae); Cam thảo nam
(Scoparia ducis Scrophulariaceae); Dừa cạn (Catharanthus roseus Apocynaceae);
Hồi sơn (Dioscorea persimilis Dioscoreaceae); Khiếm thực (Euriale ferox
Nyphaeaceae); Khởi tử (Lycium sinence Solanaceae); Ngọc trúc (Polygotanum
officinale Liliaceae), Chuối hột (Musa balbisiana Musaceae),… [11, 13, ]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, một số cây đã và đang được nghiên cứu
để chứng minh tác dụng hạ glucose huyết như Mướp đắng (Mormordica charantia
Cucurbitaceae); Thổ phục linh (Smilax glabra Smilacaceae); Hương nhu tía
(Ocimum sanctum Lamiaceae); Kha tử (Terminalia chebula); Tri mẫu
(Anemarrhena asphodeloides); Tỏi (Alium sativa Liliaceae); Mỏ quạ (Cudnaria
tricuspidata Moraceae); Dừa cạn (Catharanthus roseus Apocynaceae); Lơ hội (Aloe
vera Liliaceae); Cỏ mực (Eclipta alba Asteraceae); Đơn kim (Bidens polisa var.
radiata Asteraceae); Nhân sâm (Panax ginseng Araliaceae),…Các nghiên cứu này
đã cho thấy kết quả khá khả quan, có thể dần dần đưa vào sử dụng trên lâm sàng.
1.2.Chuối hột[14]
Chuối hột (còn gọi chuối hạt, chuối chát) có tên khoa học là: Musa
balbisiana L.A.Colla, hay Musa brachycarpa, Musa seminifera Musaceae (họ
Chuối).
1.2.1. Đặc điểm thực vật và phân bố:
Chuối hột thuộc cây thân giả, cao 2-4m, to, màu xanh. Lá to có phiến dài,
xanh hơi mốc mốc, bẹ xanh. Buồng hoa nằm ngang, mo đỏ sẫm, khơng quấn lên.
Quả có cạnh, thịt quả nạc chứa nhiều hạt to 4-5mm. Mỗi quả chứa trung bình 15-25
hạt. Bộ phận thường dùng là củ, quả, thân. Có thể thu hái các bộ phận của cây
quanh năm. Cây mọc hoang hoặc được trồng ở nhiều nơi trên đất nước ta, đặc biệt
là vùng rừng núi phía Bắc và các tỉnh miền Trung. Người dân ở đây thường dùng
lá để gói bánh, quả để ăn và làm gia vị, thân để ni gia súc. Theo kinh nghiệm dân
gian, một số người đã sử dụng các bộ phận khác nhau của cây để làm thuốc.
1.2.2. Thành phần hóa học:
Năm 1987, J.Horry và M.Ray (Pháp) đã nghiên cứu và xác định trong lá bắc
của cây có anthocianin. Trong đó, delphinidin và cyanidin là các anthocianidin
chính. [55]
Năm 1995, Kong. L & cộng sự (Trung Quốc) đã nghiên cứu phân lập enzym
polyphenol oxydase trong vỏ quả chuối. [57]
Năm 1998, T.Kamo & cộng sự (Nhật Bản) xác định được phytoalexin;
1,2,3,4-tetrahydro-6,7-dihydroxy-1-(4'-hydroxycinnamyliden)naphthalen-2-on; 2-
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11

(4'-methoxyphenyl)-1,8-naphthalic anhydrid; 2-phenyl-1,8-naphthalic anhydrid
trong quả. [56]
Năm 1991 M.Ali (Ấn Độ) cơng bố ba Neo-clerodan Diterpenoid phân lập
được từ hạt Musa balbisiana là: musabalbisian A, B, C. Cấu trúc của các thành
phần này cũng đã được xác định bằng phương pháp phân tích quang phổ và
phương pháp hóa học. [49]
Ở Bộ mơn Dược liệu-khoa Dược, Đại học Y Dược, TP Hồ Chí Minh,
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và Bùi Mỹ Linh đã nghiên cứu xác định thành phần hóa học
của hạt chuối hột. Kết quả cho thấy, trong hạt chuối hột có các chất: saponin,
coumarin, tanin, flavonoid anthocianosid và hợp chất uronic, tinh dầu,
phytosterol [47]
1.2.3. Tác dụng của cây chuối hột: [4, 10, 11, 37, 39, 41]
 Trị đau răng, lợi có mủ: Vỏ hoặc củ chuối hột, da trăn, cam thảo nam đồng
lượng đốt tồn tính cùng phèn phi, tán bột, trộn dầu dừa bơi vào chân răng.
 Trị nóng sốt phát cuồng, nói sảng: Thân chuối xẻ đơi, bỏ giun đất vào nướng kĩ,
ép lấy nước uống.
 Trị sỏi đường niệu: ▪ Hạt, quả xanh sắc nước uống.
▪ Nước trích từ thân cây, uống mỗi sáng một chén, dùng 1-2
tháng.
 Trị chứng viêm lt dạ dày: Chuối hột già thái mỏng, phơi khơ, tán bột uống
với nước nóng.
 Trị chứng trĩ ra máu: ▪ Nõn chuối hột nướng nóng chườm vào hậu mơn.
▪ Nõn chuối tiêu, bột khơ của trái chuối hột đem giã nát
gói vào lá chuối non, nướng cho nóng đắp vào hậu mơn.
 Trị mụn nhọt: Khi nhọt đã hình thành, sưng, nóng, đỏ, đau nhức nhiều; củ chuối
rửa sạch giã nát với muối rồi đắp lên nhọt mỗi ngày.
 Giải độc thực phẩm: quả xanh thái mỏng, ăn sống cùng với các rau sống khác,
trừ được các chất độc trong rau sống hay trong thịt cá.
 Trị bệnh đường ruột : ▪ Ăn quả chín, nhai cả hạt trị giun.
▪ Vỏ quả 4-8g sắc uống trị kiết lị.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12

 An thai: Củ chuối, rễ móc mỗi thứ 20g sắc uống.
 Chữa sản hậu tê thấp, chân tay tê dại: Hoa chuối thái nhỏ, sao vàng hạ thổ, sắc
lấy nước uống, bã đắp vào nơi tê đau.
 Cầm máu: Thân cây giã nát đắp vào vết thương chảy máu.
 Trị tiểu đường: ▪ Uống nước trích từ thân cây chuối hột mỗi sáng.
▪ Trái chuối hột già hoặc vừa chín, xát mỏng, phơi khơ, sắc uống
thay nước trong ngày.
▪ Củ chuối giã nát lấy nước uống.
▪ Ốc bươu rửa sạch bung với củ chuối ăn chữa bệnh đái tháo
đường.








THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13

PHẦN II - THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
2.1. Ngun vật liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
2.1.1. Ngun liệu:
- Cây Chuối hột (Musa balbisiana (L.) Musaceae) tươi đang được trồng ở Định
Cơng-Hà Nội.
- Hạt chuối hột mua ở phố Hải Thượng Lãn Ơng.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu:
Chuột cống trắng thuần chủng, trọng lượng 100-120g, 100% là chuột đực -mua
tại Học viện qn y và được ni bằng thức ăn tổng hợp của Viện Vệ sinh dịch
tễ trung ương. Chuột được chia thành các lơ, mỗi lơ 5-6 con.
2.1.3. Hóa chất và máy móc thí nghiệm:
- Adrenalin, ống tiêm 1mg/ml.
- Heparin 5ml.
- Máy cất quay.
- Nồi đun cách thủy.
- Máy li tâm Clay Adams (3000 vòng/phút).
- Máy đo mật độ quang UV-vis (752-Trung Quốc).
- Các hóa chất thí nghiệm đạt tiêu chuẩn tinh khiết và định lượng do Bộ mơn
Hóa sinh cung cấp: Glucose, thuốc thử đồng, thuốc thử phosphomolipdic, Natri
tungstat, Acid sulphuric, Acid phosphoric, cồn 90
o
.
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu:
a. Điều chế dạng thuốc nghiên cứu.
 Nước từ thân cây: Chặt ngang thân cây cách mặt đất chừng 5cm để thấy rõ phần
thân thật. Kht thân cây tạo thành hố sâu 7-10cm, đường kính 10cm, đậy miệng
hố lại, sáng ra lấy dịch tiết ra ở trong hố, gọi là dịch A. Bốc hơi nước ở nhiệt độ
thường bằng máy cất quay tạo dịch cơ 10 lần là dịch B.
Dịch chiết từ hạt: Hạt khơ đem nghiền mịn vừa, ngâm lạnh bằng cồn 45
o
trong
48 giờ, rút dịch chiết với tốc độ 60 giọt/phút. Thêm dung mơi chiết đến khi lượng
dịch chiết thu được tương ứng là 1lít dung mơi/100g dược liệu. Cất quay dịch chiết
để bốc hơi dung mơi đến dạng cao lỏng, để tủ lạnh đến khi thành cắn khơ. Cắn pha
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14

thành hỗn dịch với nồng độ 0,05g/ml gọi là hỗn dịch C, nồng độ 0,2g/ml là hỗn
dịch D (100g dược liệu thu được 7,5g cắn).
b. Định lượng glucose huyết bằng phương pháp Folin-Wu:
Ngun tắc: khử tạp máu tồn phần bằng thuốc thử sulphotungstic, cho
dịch li tâm tác dụng với thuốc thử đồng ở nhiệt độ sơi, thêm thuốc thử
phosphomolipdic để lên màu. Cường độ màu được xác định bằng phương pháp đo
quang tương ứng với lượng glucose trong máu cần định lượng.
Tiến hành: Dùng micropipet đã tráng Heparin lấy máu từ tĩnh mạch đi
chuột, tiến hành định lương glucose huyết theo trình tự sau:





Bảng 1: Các bước tiến hành thí nghiệm.
Mẫu trắng (ml) Mẫu chuẩn (ml) Mẫu thử (ml)
Nước cất 1,80 1,75 1,75
Dung dịch glucose 1‰ 0,00 0,05 0,00
Máu tồn phần 0,00 0,00 0,05
Na tungstat 10% 0,10 0.10 0.10
Lắc đều.
Acid sulfuric 2/3N 0,10 0,10 0.10
Lắc kỹ 1 phút, để n 3-5 phút, li tâm 10 phút.
Dịch ly tâm
(nước trong)
1,00 1,00 1,00
Thuốc thử đồng 1,00 1,00 1,00
Lắc đều, cách thủy sơi 10 phút, làm nguội dưới vòi nước lạnh.
Phosphomolipdic 1,00 1,00 1,00
Nước cất 2,00 2,00 2,00
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét