Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
a. Đầu tư:
Thuật ngữ đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sự hy sinh cái
gì đó để tác động đến kết quả trong tương lai. Xuất phát nguồn gốc của đầu tư,
Paul Samuelson chỉ ra rằng: "Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu
dùng cho tương lai". Các nhà kinh tế vĩ mô lại cho rằng: "Đầu tư là đưa thêm
một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhập của quốc
gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn". Và David Begg cho rằng:
"Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất mới". Theo định nghĩa chung
nhất, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục
đích thu về lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế xã hội.
Dưới góc độ nào đi nữa thì mọi hoạt động đầu tư đều phải sử dụng các
nguồn lực ban đầu. Các nguồn lực này được sử dụng theo mục đích của chủ đầu
tư để tạo mới, mở rộng hoặc nâng cao chất lượng hiện có của các tài sản tài
chính (tiền vốn…), tài sản vật chất (như nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ
(như trình độ văn hoá, chuyên môn…) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Mục đích của công cuộc đầu tư là thu được những kết quả nhất định lớn hơn so
với nguồn lực đã bỏ ra.
Hoạt động đầu tư được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền
kinh tế quốc dân, nó không chỉ bó hẹp trong đầu tư tài sản vật chất và sức lao
động mà còn tham gia cả đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, với nhiều hình
thức đa dạng và phong phú.
b. Dự án đầu tư:
Theo quan điểm chung nhất, dự án đầu tư được hiểu là tài liệu tổng hợp ,
phản ánh kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về thị trường, về kinh tế,
về kỹ thuật, về tài chính,… có liên quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính
sinh lời của một công cuộc đầu tư.
Ở Việt Nam, theo nghị định số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và
xây dựng, dự án đầu tư được định nghĩa như sau: “ Dự án đầu tư là một tập hợp
những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng
nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao
chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.”
Bất cứ một dự án đầu tư nào kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc đều
phải trải qua giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Giai đoạn 1 có quy trình như sau:
5
Nghiên
cứu cơ hội
đầu tư
Báo cáo
NCKT
Lập dự án
đầu tư
Thẩm định
dự án đầu
tư
Quyết
định đầu
tư
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư.
Sau khi ra Quyết định đầu tư, công việc tiếp theo là cụ thể hoá nguồn vốn,
hình thành vốn đầu tư và triển khai dự án đầu tư.
Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động.
Đây là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và
đưa ra tiêu thụ trên thị trường.
Dự án đầu tư có một vai trò rất quan trọng trong bất cứ hoạt động đầu tư
nào, điều này được thể hiện:
- Dự án đầu tư là cơ sở để quyết định bỏ vốn ra đầu tư. Thông qua dự án
đầu tư, nhà đầu tư sẽ quyết định có bỏ vốn ra đầu tư hay không và từ số vốn
mình bỏ ra với dự án đầu tư này sẽ đem lại hiệu quả, lợi ích như thế nào?
- Dự án là cơ sở lập kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm
tra quá trình thực hiện đầu tư. Trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, thông qua
dự án nhà đầu tư có thể tự bố trí kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án đồng thời tổ
chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi quá trình thực hiện đầu tư.
- Dự án là cơ sở để thuyết phục các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho
dự án. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thông qua việc xem xét, thẩm định dự án
đầu tư để đánh giá hiệu quả của dự án, là lãi hay lỗ để từ đó đưa ra quyết định tài
trợ vốn cho nhà đầu tư hay không.
- Dự án là cơ sở để thuyết phục các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét
cấp giấy phép đầu tư. Điều này được xem xét trên cơ sở dự án có hiệu quả kinh
tế cao, không vi phạm quy định Pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến môi
trường, đến xã hội và qua đó sẽ đưa ra quyết định cho phép đầu tư hay không.
- Dự án là một trong những cơ sở Pháp lý để xem xét giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong quá trình liên doanh thực hiện đầu tư.
1.1.2.2. Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư.
Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham
gia, dự án đó phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Dự án phải có tính khoa học. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự
án đầu tư. Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện
thành công dự án. Tính khoa học của dự án được thể hiện: về số liệu thông tin
phải đảm bảo trung thực, chính xác; về phương pháp lý giải: các nội dung của
dự án không được tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể
thống nhất; về phương pháp tính toán phải đơn giản, chính xác,…
- Dự án phải có tính pháp lý, tức là dự án phải phản ánh quyền lợi quốc
gia trong dự án. Nói một cách khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc,
phù hợp với chính sách và Pháp luật của Nhà nước.
6
Đàm phán và ký
kết hợp đồng thi
công công trình
Xây dựng
công trình
Lắp đặt
máy móc
thiết bị
Vận hành
chạy thử
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Dự án phải có tính thực tiễn. Tính thực tiễn vủa dự án đầu tư thể hiện ở
chỗ, nó có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế. Mỗi dự án thuộc một
ngành nghề cụ thể, có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ
thể, cho nên các nội dung, các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể
được nghiên cứu một cách chung chung mà phải dựa trên những căn cứ hợp lý,
tức là dự án phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt
bằng, về thị trường vốn và các chỉ tiêu khác.
- Dự án phải có tính thống nhất. Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất
về lợi ích giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án. Để các bên đối tác có
quyết định tham gia dự án, các ngân hàng và tổ chức tài chính quyết định tài trợ
hay cho vay vốn với các dự án, và muốn được cơ quan có thẩm quyền xem xét
cấp giấy phép đầu tư thì việc xây dựng dự án từ các bước tiến hành đến nội
dung, hình thức, cách trình bày dự án cần phải tuân thủ theo những quy định
chung mang tính quốc tế.
- Dự án phải có tính phỏng định. Trong nhiều trường hợp, những nội
dung, những tính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận,… trong
dựa án chỉ có tính chất dự trù, dự báo do thực tế xảy ra khác xa với dự kiến ban
đầu trong dự án. Vì vậy, dự án phải có tính phỏng định, tuy nhiên, sự phỏng
định này phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quan nhằm
giảm thiểu rủi ro, hạn chế độ bất định trong dự án.
1.2. Thẩm định dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư.
a. Khái niệm.
Các dự án đầu tư sau khi được soạn thảo và thiết kế xong dù được nghiên
cứu tính toán rất kỹ lưỡng và chi tiết thì chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá
tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được
thực hiện hay không thì phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một
cách độc lập và tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Quá trình đó gọi là thẩm
định dự án. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẩm định tuỳ theo tính chất
của công cuộc đầu tư và chủ thể có thẩm quyền thẩm định, song đứng trên góc
độ tổng quát có thể định nghĩa như sau:
Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (Nhà nước
hoặc tư nhân) thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về
các mặt pháp lý, các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính
hiện thực của dự án, để quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép về đầu tư hay quy
định về đầu tư…
b. Ý nghĩa:
Thẩm định dự án đầu tư là một công việc quan trọng, nó đề cập đến tất cả
những vấn đề của bản thân dự án, và quan trọng hơn, qua quá trình thẩm định,
7
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dự án sẽ được tìm hiểu một cách sâu rộng hơn, chuyên môn hơn. Thẩm định dự
án có những ý nghĩa vô cùng quan trọng sau đây:
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư, với những kết quả thu được là một
trong những cơ sở quan trọng để có quyết định bỏ vốn đầu tư được đúng đắn.
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư, có cơ sở để kiểm tra việc sử dụng
vốn đảm bảo đúng mục đích và an toàn vốn.
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư có, với những kinh nghiệm và kiến
thức của mình sẽ bổ sung thêm những giải pháp góp phần nâng cao tính khả thi
của dự án.
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư có cơ sở tương đối vững chắc để xác
định kết quả đầu tư, thời gian hoàn vốn và trả nợ từ dự án của chủ đầu tư.
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư sẽ rút ra được những kinh nghiệm để
tiến hành thẩm định các dự án đầu tư sau tốt hơn.
1.2.2. Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án
đầu tư.
Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển
của các thành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân. Nhưng hoạt động đầu
tư sẽ không thể tiến hành được khi không có vốn hay không đủ vốn. Một câu hỏi
được đặt ra là: "Vốn lấy từ đầu?" Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các nhà đầu
tư thường kêu gọi sự tài trợ từ bên ngoài mà trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay
của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết
rằng vốn vay có được sử dụng an toàn và hiệu quả hay không. Do đó, không chỉ
riêng các nhà đầu tư, mà cả ngân hàng và các cơ quan hữu quan cũng phải tiến
hành thẩm định dự án đầu tư tức là đi sâu xem xét, nghiên cứu đánh giá hàng
loạt các vấn đề trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyết định đúng
đắn.
1.2.2.1. Đối với nhà đầu tư.
Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp là nhờ vào kế hoạch sản
xuất kinh doanh đúng đắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự
án. Với tư cách là chủ dự án và là bên lập dự án, chủ đầu tư biết khá rõ và tương
đối tỷ mỷ dự án đầu tư của mình, nắm được những điểm mạnh cũng như điểm
yếu, những khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện dự án của mình. Trên
thực tế, khi đưa ra một quyết định đầu tư, chủ đầu tư thường xây dựng và tính
toán các phương án khác nhau. Điều đó có nghĩa là có nhiều dự án khác nhau
được đưa ra nhưng không phải dễ dàng gì trong việc lựa chọn dự án này, loại bỏ
dự án kia vì nhiều khi khả năng thu thập, nắm bắt những thông tin mới của chủ
dự án bị hạn chế nhất là đối với các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và
điều này sẽ làm nguy cơ rủi ro tăng cao và làm giảm tính chính xác trong phán
đoán của họ. Thông qua việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lựa chọn
được dự án đầu tư tối ưu và thích hợp nhất với năng lực của mình.
8
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.2.2.2. Đối với ngân hàng.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi
và cho vay. Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào
cũng được ngân hàng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn
vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và ngân
hàng. Muốn vậy, ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp cho ngân hàng
dự án đầu tư. Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác ngân hàng sẽ
tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan hơn.
Việc thẩm định dự án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thòi
gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong tương lai.
Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư là rất quan
trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu
đầu tư thì đầu tư như thế nào? Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp
ngân hàng đạt được những chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn,
giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với
ngân hàng.
1.2.2.3. Đối với xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước.
Đầu tư luôn được coi là động lực phát triển nói chung và sự phát triển
kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia. Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là đầu tư
như thế nào cho có hiệu quả, bằng không tác động của đầu tư không hợp lý là rất
nguy hại và gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Hiệu quả ở đây không đơn
thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả các hiệu quả về mặt xã hội như vấn
đề giải quyết công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, tăng khả năng cạnh tranh
trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề đảm bảo môi trường sinh thái. Ngoài ra,
dự án được chọn đầu tư còn phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, của từng địa phương mà dự án này thực hiện và phải hoàn toàn
tuân thủ các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng và các quy chế
quản lý khác của Nhà nước.
1.2.3. Yêu cầu trong thẩm định dự án đầu tư.
Thẩm định được tiến hành với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn, của
mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu về nội dung thẩm định có khác nhau
về mức độ và chi tiết giữa các dự án, tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án,
nguồn vốn được huy động và chủ thể có thẩm quyền thẩm định. Tuy vậy, dù
đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, để có kết quả thẩm định có sức thuyết phục
thì chủ thể có thẩm quyền thẩm định phải đảm bảo các yêu cầu sau (hoặc một
phần trong số các yêu cầu sau):
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành,
của địa phương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và
9
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
xây dựng của nhà nước.
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình
và trình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới.
Nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp,
các quan hệ tài chính - tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các
doanh nghiệp khác hoặc chủ đầu tư khác, với các ngân hàng…
- Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nhgiệp
hoặc chủ đầu tư, các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt
động chung của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư, từ đó có thêm căn cứ vững chắc
để quyết định đầu tư.
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng
của dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định
mức kinh tế - kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm
định.
- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung của dự án, có
sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và
ngoài ngành có liên quan cả trong và ngoài nước.
- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ dự án.
- Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định, phối hợp phát huy được
trí tuệ tập thể, tránh gây phiền hà.
1.2.4. Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư.
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp
thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn
thông tin đáng tin cậy. Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương
pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu
đối với dự án. Sau đây là những phương pháp thẩm định thường gặp nhất.
1.2.4.1. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu.
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật
chủ yếu của dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt
động. Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do nhà nước
quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được.
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công
nghệ quốc gia, quốc tế.
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi.
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công,
tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật
chính thức hoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế.
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư.
- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo
10
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hiện hành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
- Các chỉ tiêu mới phát sinh…
Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng
để tiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm
cụ thể của từng dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ
quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược). Tránh khuynh hướng
so sánh máy móc, cứng nhắc, dập khuôn.
1.2.4.2. Phương pháp thẩm định theo trình tự.
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một
trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho
kết luận sau.
- Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung
cơ bản thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án. Thẩm định
tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng
của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các
căn cứ pháp lý của dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý
dự án dự kiến.
- Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi
tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính
hiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ,
môi trường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong
từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng
ý hay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được. Khi tiến hành thẩm định
chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác
bỏ toàn bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án.
1.2.4.3. Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích
độ nhạy của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài
chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất
trắc có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những
yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện
cụ thể. ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến
hiệu quả của dự án để xem xét. Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong
trường hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững
chắc, có độ an toàn cao. Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả
năng phát sinh bất trắc đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục
hay hạn chế.
1.2.4.4. Phương pháp dự báo.
11
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để
kiểm tra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của
công nghệ, thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả
thi của dự án.
1.2.4.5. Phương pháp triệt tiêu rủi ro
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện
dự án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro
phát sinh ngoài ý muốn chủ quan. Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người
ta thường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành
chính thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro
cho các đối tác có liên quan đến dự án.
Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo
hiểm xây dựng, bảo lãnh hợp đồng. Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro
quen thuộc nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính và uy tín, thế chấp tài sản. Để tránh tình trạng thế chấp tài sản
nhiều lần khi vay vốn nên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo
đảm.
1.2.5. Nội dung thẩm định dự án đầu tư.
Thẩm định điều kiện pháp lý của dự án và sự cần thiết phải đầu tư:
Nội dung này bao gồm việc thẩm định các văn bản, thủ tục hồ sơ trình
duyệt theo quy định, đặc biệt là xem xét đến tư cách pháp nhân và năng lực của
chủ đầu tư. Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án, nó được
xem như là điều kiện cần để tiến hành các nội dung thẩm định tiếp theo.
Dự án có cần thiết đầu tư hay không? Điều này được xác định dựa trên hai
khía cạnh: đó là dự án có ưu thế như thế nào trong quy hoạch phát triển chung;
đồng thời dự án được đầu tư sẽ đóng góp như thế nào cho các mục tiêu gia tăng
thu nhập cho nền kinh tế và doanh nghiệp, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên,
tạo công ăn việc làm…
Thẩm định dự án về phương diện thị trường:
Kiểm tra phân tích các vấn đề liên quan đến cung cầu về sản phẩm của dự
án. Tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản phẩm của dự án, tiến hành lập bảng cân đối về
nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng của các nguồn cung hiện có và xu hướng
biến động của nguồn đó, đánh giá mức độ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của
sản phẩm dự án, công cụ được sử dụng trong cạnh tranh… Từ đó đánh giá mức
độ tham gia thị trường mà dự án có thể đạt được. Kết quả phân tích này làm cơ
sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Thẩm định phương diện kỹ thuật và tổ chức của dự án:
- Về phương diện kỹ thuật.
Xem xét lựa chọn các phương án địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án.
Vị trí lựa chọn dự án cần được tối ưu hoá (về quy hoạch xây dựng kiến trúc của
12
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
địa phương ngành, thuận lợi về giao thông, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, bảo
đảm về môi trường…).
Xem xét lựa chọn các hình thức đầu tư và công suất dự án. Đây là nhiệm
vụ của chủ dự án, nhà thẩm định chỉ có trách nhiệm phát hiện sai sót, nhầm lẫn
mang tính chủ quan đồng thời kiểm tra loại bỏ dự án sử dụng công nghệ ô
nhiễm, lạc hậu so với chiến lược phát triển công nghệ.
Xem xét lựa chọn công nghệ và dây chuyền thiết bị, đảm bảo phù hợp với
điều kiện trong ngành, địa phương và nguồn nguyên liệu đáp ứng.
- Về phương diện tổ chức
Xem xét các đơn vị thi công về các khía cạnh tư cách pháp nhân, năng lực
thực hiện, khả năng đáp ứng yêu cầu dự án và kế hoạch phòng ngừa rủi ro cũng
như phương án tổ chức thực hiện, cơ cấu quản lý và thực hiện.
Thẩm định về phương diện tài chính: nội dung thẩm định tài chính
bao gồm thẩm định tài chính trong doanh nghiệp (hoặc chủ đầu tư) và thẩm định
tài chính đối với chính dự án đang được xem xét.
Thẩm định về phương diện lợi ích kinh tế xã hội: nhằm so sánh giữa
cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một
cách tốt nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế (chứ không chỉ
riền cho cơ sở sản xuất kinh doanh). Việc thẩm định kinh tế xã hội của dự án
được tính toán trên cơ sở một loạt các tiêu chuẩn đánh giá và chỉ tiêu đánh giá
như: Giá trị gia tăng thuần tuý, giá trị gia tăng thuần tuý quốc gia, các chỉ tiêu về
số lao động có việc làm, các chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đến phân phối
thu nhập và công bằng xã hội…
1.2.6. Một số rủi ro chủ yếu trong thẩm định dự án.
Một số dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện đầu tư đi vào sản
xuất có thể xảy ra nhiều loại rủi ro khác nhau, có thể là do nguyên nhân chủ
quan cũng có thể là do nguyên nhân khách quan. Việc tính toán khả năng tài
chính của dự án như đã giới thiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không
bị ảnh hưởng bởi một loại các rủi ro có thể xảy ra. Vì vậy, việc đánh giá, phân
tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của
phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động có biện pháp phòng ngừa, giảm
thiểu. Dưới đây là một số rủi ro chủ yếu:
Rủi ro về cơ chế chính sách:
Rủi ro này được xem là gồm tất cả những bất ổn về tài chính và chính
sách của nơi hoặc địa điểm xây dựng dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế
và chuyển tiền, quốc hữu hoá, tư hữu hoá hay các luật nghị quyết, nghị định và
các chế tài khác có liên quan đến dòng tiền của dự án.
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng nhiều cách:
- Khi thẩm định dự án, phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (theo hồ
sơ dự án), để đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh các luật và quy định hiện hành
có liên quan tới dự án.
13
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng quy định về vấn đề này.
- Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực tới dự án.
- Bảo hiểm tín dụng, xuất khẩu…
Rủi ro về tiến độ xây dựng, hoàn tất:
Rủi ro này được xem là việc hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không
phù hợp với các tiêu chuẩn và thông số thực hiện. Loại rủi ro này nằm ngoài khả
năng điều chỉnh, kiểm soát của ngân hàng, tuy nhiên nó có thể giảm thiểu bằng
cách đề xuất với chủ đầu tư thực hiện các biện pháp sau:
- Lựa chọn nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh tài chính và kinh nghiệm.
- Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh chất
lượng công trình.
- Giám sát chặt chẽ trong quá trình xây dựng.
- Hỗ trợ của cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khoa học trong
trường hợp vượt dự toán.
- Quy định rõ trách nhiệm, vấn đề đền bù, giải toả mặt bằng.
- Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khoá trao tay với sự phân chia rõ ràng
nghĩa vụ của mỗi bên.
Rủi ro thị trường, thu thập, thanh toán:
Rủi ro này bao gồm: Thị trường không chấp nhận hoặc không đủ cầu đối
với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; do sức ép cạnh tranh, giá bán sản phẩm
không đủ để bù đắp lại các khoản chi phí của dự án;…
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:
- Nghiên cứu thị trường, đánh giá phân tích thị trường, thị phần cẩn thận.
- Dự kiến cung cầu thận trọng, không nên có những dự báo quá lạc quan.
- Phân tích khả năng thanh toán, thiện ý, hành vi của người tiêu dùng
- Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng về
tài chính.
- Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm của Chính phủ
- Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra.
Rủi ro về cung cấp:
Đây là rủi ro khi dự án không có được nguồn nguyên liệu (đầu vào) với số
lượng, giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn
định, đảm bảo khả năng trả nợ vốn vay để đầu tư.
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:
- Trong quá trình xem xét dự án, cán bộ thẩm định phải nghiên cứu, đánh
giá cẩn trọng các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên nhiên liệu vật liệu
đầu vào trong hồ sơ dự án. Đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính
toán, xác định hiệu quả tài chính của dự án.
- Nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật
liệu.
- Linh hoạt về thời gian và số lượng nguyên nhiên vật liệu mua vào.
- Những thoả thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuối cùng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét