Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Ảnh hưởng của stress nhiệt đến một số chỉ tiêu sinh lý, sức sản xuất sữa ở đàn bò sữa nuôi tại xí nghiệp Dương Hà Gia Lâm Hà Nội trong mùa hè và biện pháp khắc phục

D: nhiệt độ của nhiệt kế khô tính bằng
0
C
Chỉ số này được Frank Wiersma (1990) sửa đổi như sau:
THI (
0
C) = Nhiệt độ bên khô (
0
C) + 0,36 x nhiệt độ bên ướt (
0
C) + 41,2
Bò sữa có vùng nhiệt - ẩm tối ưu để sinh trưởng, phát triển và cho năng
suất cao nhất (Frank Wiersma, 1990) .
Bảng 2.1 cho thấy bò HF sẽ không bị stress nhiệt nếu THI nhỏ hơn 72,
bị stress nhẹ khi THI trong khoảng từ 72 đến 78, stress nặng khi THI từ 79
đến 88, stress nghiêm trọng khi THI từ 89 đến 98 và sẽ bị chết khi THI lớn
hơn 98. Do vậy, THI là một chỉ số rất hữu ích cần phải tham khảo khi quyết
định chăn nuôi bò sữa nguồn gốc ôn đới trong một vùng nhiệt đới nào đó.
Đồng thời, chỉ số này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý chăm
sóc, nuôi dưỡng bò hàng ngày, vì nó có thể dự đoán được vào một giai đoạn
nào đó bò có thể bị stress hay không căn cứ vào. Chỉ số THI cũng phản ánh
được rõ ràng rằng trong điều kiện ẩm độ càng cao thì bò đòi hỏi phải được
sống trong điều kiện nhiệt độ càng thấp để không bị stress nhiệt. Đây là một
khó khăn lớn cho phần lớn các vùng sinh thái ở Việt Nam.
Vũ Chí Cương và cộng sự (2005) đã nghiên cứu tại Ba Vì trong mùa hè
ở điều kiện môi trường nhiệt độ chuồng nuôi luôn cao hơn nhiệt độ ngoài
chuồng nuôi, còn ẩm độ chuồng nuôi luôn thấp hơn môi trường ngoài. Chỉ số
nhiệt - ẩm trong chuồng nuôi luôn cao hơn giá trị này ở ngoài chuồng nuôi.
Nhiệt độ, ẩm độ và THI trong ngày rất khác nhau, độ ẩm cao nhất vào buổi
sáng và thấp nhất về buổi trưa, còn nhiệt độ và THI cao nhất vào buổi trưa,
thấp nhất vào buổi sáng.
5
Bảng 2.1. Bảng chỉ số nhiệt - ẩm (THI) dùng dự đoán stress nhiệt ở bò sữa
(Viersma, 1990)
Deg 0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50 55 60 65 70 75 80 85 90 95 100
C
22.2 72 72
22.8 72 72 73 73
23.3 72 72 73 73 74 74
23.9 72 72 73 73 74 74 75 75
24.4 72 72 73 73 74 74 75 75 76 76
25.0 72 72 73 73 74 74 75 75 76 76 77
25.6 72 73 73 74 74 75 75 76 76 77 77 77
26.1 72 73 73 74 74 75 76 76 77 77 78 78 79
26.7 72 72 73 73 74 74 75 76 76 77 78 78 78 79 80
27.2 72 72 73 73 74 74 75 76 77 77 78 78 79 80 80 81
27.8 72 73 73 74 75 75 76 77 77 78 79 79 80 81 81 82
28.3 72 73 73 74 74 75 76 77 78 78 79 80 80 81 82 82 83
28.9 72 73 73 74 75 75 76 77 78 78 79 80 80 81 82 83 83 84
29.4 72 72 73 74 75 75 76 77 78 79 79 80 81 81 82 83 84 84 85
30.0 72 73 74 74 75 76 77 78 78 79 80 81 81 82 83 84 84 85 86
30.6 72 73 73 74 75 76 77 77 78 79 80 81 81 82 83 84 85 85 86 87
31.1 72 72 73 74 75 75 76 77 78 79 80 81 81 82 83 84 85 86 86 87 88
31.7 72 73 74 75 76 76 77 78 79 80 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89
32.2 72 73 74 75 76 77 78 79 79 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89 90
32.8 73 74 75 76 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89 90 91
33.3 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 85 86 87 88 89 90 91 92
33.9 74 75 76 77 78 79 80 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93
34.4 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94
35.0 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95
35.6 75 76 77 78 79 80 81 82 83 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96
36.1 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 91 92 93 94 95 96 97
36.7 76 77 78 79 80 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 93 94 95 96 97 98
37.2 76 78 79 80 81 82 83 84 85 87 88 89 90 91 92 93 94 96 97 98 99
37.3 77 78 79 80 82 83 84 85 86 87 88 90 91 92 93 94 95 97 98 99
38.3 77 79 80 81 82 83 86 86 87 88 89 90 92 93 95 95 96 97 99
38.9 78 79 80 81 83 85 85 86 87 89 90 91 92 95 95 96 97 97
39.6 78 79 81 82 83 86 86 87 88 89 91 92 94 96 96 97
40.0 79 80 81 82 85 85 86 88 89 90 91 93 95 95 96
40.6 79 80 82 83 86 86 87 88 89 91 92 93 95 96 97
41.1 80 81 82 86 85 86 88 89 90 91 93 94 95 97 98
41.7 80 81 83 86 85 87 88 89 91 92 94 95 96 98
42.2 81 82 83 85 86 87 89 90 92 93 94 96 97
42.3 81 82 86 86 87 88 89 91 92 94 95 96 98
43.3 81 83 86 86 87 89 90 91 92 94 96 97
43.9 82 83 85 86 88 89 91 93 94 95 96 98
44.4 82 86 85 87 88 90 91 94 94 96 97
45.0 83 86 86 87 89 90 92 95 95 96 96
45.4 83 85 86 88 89 91 92 94 96 97
46.1 86 85 87 88 90 91 94 95 96 98
46.7 86 86 87 89 90 92 94 95 97
47.2 85 86 88 89 91 93 94 96 98
47.3 85 87 88 90 92 93 95 97
48.3 85 87 89 90 92 94 96 97
48.9 86 88 89 91 93 94 96 98
49.4 86 88 90 92 93 96 97
Relative Humidity (%)
6
STRESS nhẹ
Không bị
STRESS
STRESS
nghiêm
trọng
STRES
S nặng
Bò chết
Độ ẩm (%)

o
C
Bảng 2.2. Nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số nhiệt - ẩm (THI) trung bình
của một số địa phương
Địa phương
Nhiệt độ trung
bình tháng
(
0
C)
Ẩm độ trung
bình tháng
(%)
Chỉ số nhiệt - ẩm
(THI) trung bình
Hà Nội 23,0 84,0 73,0
Huế 25,0 88,0 75,0
TP Hồ Chí Minh 27,0 82,0 78,0
Lâm Đồng 17,9 84,0 <72,0
Mộc Châu 18,2 82,5 <72,0
Tuyên Quang 20,0 80,0 <72,0
Bảng 2.2 cho thấy các địa phương vùng cao như: Lâm Đồng, Mộc
Châu (Sơn La), Tuyên Quang nhờ có nhiệt độ bình quân (dưới 22
0
C) và chỉ số
nhiệt ẩm thấp (THI nhỏ hơn 72) nên nguy cơ bị tác động trực tiếp của stress
nhiệt sẽ là không lớn. Tuy nhiên, khả năng bị stress thực tế còn phụ thuộc vào
THI của từng tháng, từng ngày, thậm chí từng thời điểm trong ngày. Nói
chung ở Việt Nam, trong các tháng mùa hè nhiệt độ và THI vượt xa giới hạn
thích hợp đối với bò sữa. Căn cứ vào các thông số nhiệt độ và ẩm độ của
mình các địa phương có thể lường trước được mức độ ảnh hưởng của stress
nhiệt khi nuôi bò HF.
Stress nhiệt được đặc trưng bởi sự tăng nhịp thở và nhiệt độ trực tràng,
trao đổi chất sút kém, năng suất sinh sản giảm (Bandaranayaka và Holmes.,
1976). Coppock và cộng sự., (1982) cho rằng bò sữa năng suất cao chịu ảnh
hưởng của nhiệt nhiều hơn bò năng suất thấp; bởi vì, vùng nhiệt trung tính sẽ
thấp hơn khi năng suất sữa, lượng thức ăn thu nhận và sản xuất nhiệt do trao
đổi chất tăng lên.
7
2.2. Môi trường
Năng suất của bò sữa không chỉ phụ thuộc vào phẩm giống đơn thuần
mà còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường nuôi dưỡng. Nói cách khác, sức sản
xuất thực tế của bò sữa là do kết quả của sự tương tác giữa tiềm năng di
truyền của con vật và các yếu tố môi trường, kể cả chăm sóc nuôi dưỡng. Về
mặt khách quan, chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa, trong điều kiện khí hậu
nóng ẩm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn ở các nước ôn đới. Lee (1965) cho rằng
các yếu tố gây stress cho bò sữa bao gồm: nhiệt độ, ẩm độ tương đối, gió,
mưa, bức xạ mặt trời. Ảnh hưởng của stress nhiệt rất phức tạp và phụ thuộc
vào giống, loài, tính biệt, lứa tuổi, sự thích nghi, mức dinh dưỡng…và stress
có thể ảnh hưởng tới năng suất, sinh sản, sinh trưởng… Vì vậy, rất khó dự
đoán được ảnh hưởng của stress nhiệt lên gia súc. Trong các yếu tố nêu ở
trên, người ta thường quan tâm đến hai yếu tố chính gây nên stress nhiệt cho
bò sữa là nhiệt độ và ẩm độ.
2.2.1. Nhiệt độ
Theo James G. Linn (1997), hai nguồn nhiệt tác động đến bò sữa là:
nhiệt độ từ môi trường (do bức xạ mặt trời, sự bốc hơi nước và đối lưu của
không khí) và nguồn nhiệt sinh ra từ chính cơ thể gia súc trong quá trình trao
đổi chất. Nguồn nhiệt thứ hai ảnh hưởng ít hơn so với nguồn nhiệt từ môi
trường. Tuy nhiên, khi lượng thức ăn thu nhận và quá trình sản xuất sữa tăng
thì lượng nhiệt tỏa ra từ bò sữa cũng tăng, lượng nhiệt này làm tăng thêm
nhiệt độ môi trường.
Bò sữa cũng như các loại gia súc khác, có một khoảng nhiệt độ được
gọi là nhiệt độ trung tính. Vùng nhiệt này được xác định bởi hai giới hạn là
nhiệt độ nguy cận trên và nhiệt độ nguy cận dưới.
2.2.1.1. Vùng nhiệt trung tính
Vùng nhiệt trung tính là vùng mà tại đó nhiệt sản sinh trong trao đổi
8
chất là thấp nhất (Kadzere và cộng sự., 2002). Tại vùng này năng suất bò là
cao nhất, chi phí cho các hoạt động sinh lý của cơ thể là thấp nhất (Jonson,
1987). Thông thường VNTT thay đổi từ nhiệt độ nguy kịch cận dưới (NĐCD)
và nhiệt độ nguy kịch cận trên (NĐCT). Các cận này thay đổi phụ thuộc vào
tuổi gia súc, loài, giống, lượng thức ăn thu nhận, thành phần khẩu phần, khả
năng thích nghi, năng suất, kiểu chuồng trại (Yousef, 1985).
2.2.1.2. Nhiệt độ nguy cận dưới
Nhiệt độ môi trường mà dưới đó tốc độ sản xuất nhiệt của gia súc ở
trạng thái nghỉ phải tăng lên để duy trì cân bằng nhiệt chính là nhiệt độ nguy
kịch cận dưới (NĐCD). NĐCD ở bò sản xuất 30kg sữa có mỡ tiêu chuẩn
(4%) là từ 16 - 37
0
C (Kadzere và cộng sự., 2002).
2.2.1.3. Nhiệt độ nguy kịch cân trên
Nhiệt độ môi trường mà tại đó gia súc tăng sản xuất nhiệt, do nhiệt độ
cơ thể tăng lên vì thải nhiệt do bốc hơi không đủ chính là nhiệt độ nguy kịch
cận trên (NĐCT) (Yousef, 1985). Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể vượt quá khả
năng thải nhiệt do bốc hơi, nhiệt độ cơ thể tăng lên và gia súc có thể bị chết
do nhiệt độ quá cao (Hyperthermia) (Allan và Dan, 2005). Thông thường
nhiệt độ cơ thể bò là 38,5
0
C. Bò bị stress nhiệt khi nhiệt độ cơ thể cao hơn
39,2
0
C. Nhiệt độ cận trên thường là từ 25 - 26
0
C ở bò sữa không kể đến năng
suất sữa và khả năng thích nghi trước đó (Berman và cộng sự., 1968). Tuy
nhiên Yousef (1985): lại cho rằng NĐCT biến đổi phụ thuộc vào tình trạng
sinh lý và yếu tố môi trường khác. Igono và cộng sự., (1988) thấy rằng: bò sữa
năng suất cao mới dễ mẫn cảm hơn với stress nhiệt và năng suất sữa giảm
đáng kể khi nhiệt độ trực tràng vượt quá 39
0
C trong 16 giờ. Purwanto và cộng
sự., (1990) cho thấy bò sữa năng suất cao (36,6kg/ngày) và trung bình
(18,5kg/ngày) tạo ra nhiều nhiệt hơn (48,5 - 27,7%) so với bò cạn sữa. Lý do
là: bò sữa năng suất cao, lượng thức ăn thu nhận nhiều hơn, sản suất nhiều
9
nhiệt trao đổi hơn. Frisch và Vercoe (1977) cho thấy các giống gia súc nhai
lại đã thích nghi với các môi trường khô hạn, có khả năng chống chịu stress
nhiệt tốt hơn.
2.2.2. Ẩm độ tương đối
Cùng với nhiệt độ, độ ẩm cao cũng có ảnh hưởng tới trạng thái sức
khỏe và khả năng sản xuất của con vật. Ẩm độ môi trường quá cao hoặc quá
thấp đều ảnh hưởng bất lợi cho gia súc. Nếu ẩm độ quá cao, bò sữa không thể
thải được lượng nhiệt thừa từ cơ thể. Có thể nói ẩm độ cao luôn là yếu tố bất
lợi hàng đầu. Đối với bò sữa, ẩm độ cao thậm chí còn nguy hiểm hơn nhiệt độ
cao, ở người stress nhiệt 1/2 là do nhiệt độ đóng góp, 1/2 còn lại là do độ ẩm
nhưng ở bò sữa thì nhiều nghiên cứu cho thấy độ ẩm đóng góp 2/3 còn lại
nhiệt chỉ đóng góp 1/3.
2.3. Hệ số sinh học của gia súc
Chúng ta không thể nghiên cứu quan hệ giữa gia súc và môi trường nếu
thiếu hiểu biết về hằng số sinh học của gia súc. Các hằng số này được duy trì
bởi quá trình tự điều chỉnh của cơ thể: nhiệt độ cơ thể, tần số hô hấp, tần số tim.
2.3.1. Nhiệt độ cơ thể
Gia súc là động vật đẳng nhiệt, nhiệt độ cơ thể bình thường của gia súc
luôn nằm trong phạm vi nhất định mặc cho điều kiện môi trường sống như thế
nào. Điều này có nghĩa là vượt quá biến động về nhiệt độ chúng sẽ chết. Nhiệt
độ cơ thể là chỉ thị tốt nhất về sức khỏe của gia súc và biến động của nhiệt độ
cơ thể trên hoặc dưới mức bình thường là số đo khả năng chịu đựng của gia súc
với các môi trường khắc nghiệt. Mỗi loài gia súc có một phạm vi thân nhiệt
bình thường. Gia súc non thân nhiệt cao hơn gia súc trưởng thành 1 - 1,5
0
C.
Bảng 2.3: Phạm vi thân nhiệt bình thường của một số loài vùng nhiệt đới
(
o
C)
10
Loài Thân nhiệt Cao nhất
Bò Zebu (Bos Indicus) 37 41
Bò ôn đơi (Bos Taurus) 37,5 40
Trâu 38 39
Cừu 38 40
Dê 38 40
Ngựa 37,5 38,5
Lợn 38,5 39,5
(Theo Steven Rosen, 2004)
2.3.2. Nhịp thở
Tần số hô hấp là số lần thở/ phút. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ
trao đổi chất, tuổi và tầm vóc, trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi
trường, Tần số hô hấp của các loài gia súc khác nhau được đưa ra ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Tần số hô hấp của các loài (lần/phút)
Loài Tần số hô hấp Loài Tần số hô hấp
Ngựa 8 - 16 Lợn 20 - 30
Trâu 18 - 21 Chó 10 - 30
Bò 10 - 30 Mèo 10 - 25
Dê 10 - 18 Gà 22 - 25
(Theo Nguyễn Xuân Tịnh và công sự, 1996)
2.3.3. Tần số tim
Tần số tim hay chính là nhịp tim/phút có thể xác định bằng cách đùng
tay sờ hoặc nghe bằng tai nghe ở vùng ngực. Ở ta có thể xác định tần số tim
bằng cách bắt mạch ở tĩnh mạch đuôi.
Trong một loài gia súc thậm chí một cá thể nhịp tim cũng có sự thay
đổi. Ngoại cảnh và trạng thái bản thân đều ảnh hưởng đến nhịp tim. Trong
một ngày thì nhịp tim về sáng chậm. hơn. Khi nhiệt độ cao, thân nhiệt tăng
tinh thần hưng phấn, khi ăn, khi vận động đều làm cho nhịp tim tăng lên.
11
Nhịp tim của các loài gia súc khác nhau. Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự
(1996) nhịp tim của một số loài gia súc được thể hiện ở bảng 2.5.
Bảng 2.5: Nhịp tim một số loài (lần/phút)
Loài Nhịp tim Loài Nhịp tim
Bò 50 - 70 Trâu 45 - 50
Ngựa 32 - 42 Nghé 45 - 55
Dê, Cừu 70 - 80 Nghé 6 tháng tuổi 60 - 100
Lợn lớn 80 - 90 Chó 70 - 80
Lợn con 90 - 190 Thỏ 100
2.4. Khả năng thích nghi của gia súc, nguồn gốc và đặc điểm một số giống
bò nhập nội vào Việt Nam
2.4.1. Khả năng thích nghi của gia súc
Các yếu tố thời tiết khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của
cơ thể và do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, sức khoẻ và
sức sản xuất của bò. Các yếu tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, gió, bức xạ, thời
gian chiếu sáng và lượng mưa. Trong các yếu tố này nhiệt độ và ẩm độ là
những yếu tố quan trọng nhất. Nhiệt độ không khí từ 10 - 20
0
C, ẩm độ tương
đối từ 55 - 65%, tốc độ gió trung bình khoảng 5 - 7 km/giờ và mức độ ánh
sáng mặt trời trung bình được xem là điều kiện khí hậu, thời tiết lý tưởng cho
sự tăng trưởng và sản xuất của bò. Khi nhiệt độ không khí tăng cao hơn 27
0
C,
hiệu quả sinh học trong các hoạt động của bò sữa đều giảm xuống. Trong điều
kiện khí hậu, thời tiết của vùng nhiệt đới như Việt Nam, thường thì nhiệt độ
không khí vượt mức 25
0
C và ẩm độ tương đối vượt mức 80% là tác nhân bất
lợi, gây nhiều tác động xấu đến khả năng sản xuất của bò sữa.
Các giống bò nhóm Zêbu - Bos indicus (Sindhy, Sahiwal) sống trong
môi trường khí hậu nhiệt đới (Kadzere và cộng sự., 2002), nhiệt độ, ẩm độ cao
nên đã có những biến đổi về mặt cơ thể như tăng diện tích da (phát triển u,
yếm) để thích nghi với nhiệt độ môi trường cao. Trong khi các giống bò Bos
Taurus (như Holstein Friesian) vốn sống trong điều kiện môi trường khí hậu
12
ôn đới, đã có những biến đổi cơ thể như phát triển hệ thống lông, giảm diện
tích bề mặt cơ thể (không u, yếm) để giảm sự thoát nhiệt, thích nghi với môi
trường nhiệt độ thấp. Vì vậy khi các giống bò ôn đới, được nuôi trong điều
kiện nhiệt độ môi trường cao khó thể hiện được các tính năng sản xuất cao
của mình. Hiện nay, đã có nhiều tiến bộ trong việc chọn lọc những giống bò
thích nghi với điều kiện nhiệt độ cao, nhưng để có một giống bò Holstein
Friesian cao sản, thích nghi tốt cần phải có những biện pháp chăm sóc,
chuồng trại, chăm sóc, thú y phù hợp để khai thác hết tiềm năng sản xuất của
con giống .
2.4.2. Nguồn gốc và đặc điểm một số giống bò nhập nội vào Việt Nam
2.4.2.1. Bò Holstein Friesian
Bò Holstein Friesian (HF) là giống bò chuyên sữa nổi tiếng thế giới
được tạo ra từ thế kỷ thứ XIV ở tỉnh Fulixon của Hà Lan, là nơi có khí hậu ôn
hoà, mùa hè kéo dài và đồng cỏ rất phát triển (Nguyễn Xuân Trạch và Mai
Thị Thơm, 2004).
Ảnh 2.1. Bò cái HF Ảnh 2.2. Bò đực HF
Bò HF có 3 dạng màu lông chính: lang trắng đen (chiếm ưu thế), lang
trắng đỏ (ít), và toàn thân đen riêng đỉnh trán và chót đuôi trắng; các điểm
13
trắng đặc trưng là: điểm trắng ở trán, vai có vệt trắng kéo xuống bụng, 4
chân và chót đuôi trắng; toàn thân có dạng hình nêm đặc trưng của bò sữa;
đầu con cái dài, nhỏ, thanh, đầu con đực thô; sừng nhỏ, ngắn, chỉa về phía
trước; trán phẳng hoặc hơi lõm; cổ thanh, dài vừa phải, không có yếm; vai -
lưng - hông - mông thẳng hàng; bốn chân thẳng, đẹp, hai chân sau doãng;
bầu vú rất phát triển; tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo, nổi rõ (Nguyễn Xuân Trạch
và Mai Thị Thơm, 2004). Tầm vóc bò HF khá lớn: khối lượng sơ sinh
khoảng 35 - 45 kg, trưởng thành 450 - 750kg/cái, 750 - 1.100kg/đực. Bò này
thành thục sớm, có thể phối giống lúc 15 - 20 tháng tuổi. Khoảng cách lứa
đẻ khoảng 12 - 13 tháng.
Năng suất sữa trung bình khoảng 5.000 - 8.000 kg/chu kỳ (10 tháng), tỷ
lệ mỡ sữa thấp, bình quân 3,3 - 3,6%. Năng suất sữa biến động nhiều tuỳ theo
điều kiện nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu, cũng như kết quả chọn lọc của từng
nước. Bò HF chịu nóng và chịu đựng kham khổ kém, dễ cảm nhiễm bệnh tật,
đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh sản khoa. Bò HF chỉ
nên nuôi thuần tốt ở những nới có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân năm
dưới 21
o
C (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004)
2.4.2.2. Bò Jersey
Bò Jersey là giống bò sữa của Anh, được tạo ra từ gần 300 năm trước
trên đảo Jersey là nơi có khí hậu ôn hoà, đồng cỏ phát triển tốt quanh năm
thích hợp cho chăn nuôi bò theo phương thức chăn thả. Nó là kết quả tạp
giao giữa giống bò Bretagne (Pháp) với bò địa phương, về sau có thêm máu
bò Normandie (Pháp).
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét