Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NH Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng

Luận văn tốt nghiệp
Cho vay đợc coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm
mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng
là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng - một quĩ sinh lời đợc gửi tại ngân
hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi đợc hởng
mức lãi suất tơng đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn
các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất tới 16% một năm để thu hút các khoản tiết
kiệm nhằm mục đích huy động vốn để cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung
Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.
2.1.4 Bảo quản vật có giá
Ngay từ thời Trung cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lu giữ vàng
và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp dẫn là
các giấy chứng nhân do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản
đang đợc lu giữ) có thể đợc lu hành nh tiền - đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ
tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá cho khách hàng do phòng Bảo
quản của ngân hàng thực hiện.
2.1.5 Tài trợ hoạt động của Chính phủ
Vào những năm đầu của cách mạng công nghiệp, khả năng huy động và
cho vay với khối lợng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các
Chính phủ Âu - Mĩ. Thông thờng, ngân hàng đợc cấp giấy phép thành lập với điều
kiện là họ phải mua trái phiếu của Chính phủ theo môt tỷ lệ nhất định trên tổng l-
ợng tiền gửi mà ngân hàng huy động đợc. Ví dụ: Ngân hàng Bank of North
America đợc Quốc hội Mỹ cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này đợc thành
lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xoá bỏ sự đô hộ của nớc Anh và đa Mỹ trở thành
quốc gia có chủ quyền
2.1.6 Cung cấp các tài khoản giao dịch
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
5
Luận văn tốt nghiệp
Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời
những hoạt động dịch vụ tiền gửi giao dịch (Demand deposit) - một tài khoản giao
dịch cho phép ngời gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ.
Việc đa ra loại tài khoản tiền gửi mới này đợc xem là một trong những bớc đi quan
trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của
quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh
chóng hơn và an toàn hơn.
2.1.7 Cung cấp dịch vụ uỷ thác
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản
lý hoạt động tài chính cho các nhân và doanh nghiệp thơng mại. Theo đó ngân
hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị tài sản hay quy mô vốn mà ngân hàng quản lý.
Chức năng quản lý tài sản này đợc gọi là dịch vụ uỷ thác. Hầu hết các ngân hàng
đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ uỷ thác thông thờng cho cá nhân, hộ gia đình, và
uỷ thác thơng mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua Phòng Uỷ thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các
khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu t khoản tiền đó cho đến
khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là ngời đ-
ợc uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách
công bố tài sản, bảo quản tài sản có giá, đầu t có hiệu quả và đảm bảo cho ngời
thừa kế hợp pháp việc nhận đợc khoản thừa kế. Trong Phòng Uỷ thác thơng mại,
ngân hàng quản lý danh mục đầu t chứng khoán và kế hoạch tiền lơng cho các
công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò nh những ngời đại lý cho các công ty
trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi Phòng Uỷ thác
phải trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi
đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những ngời nắm giữ chứng khoán.
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
6
Luận văn tốt nghiệp
2.2 Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
2.2.1 Cho vay tiêu dùng.
Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân
và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô
rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tơng đối cao và do đó làm cho chúng có mức sinh lời thấp.
Đầu thế kỷ trớc các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều vào tiền gửi của khách
hàng để tài trợ cho những món cho vay thơng mại lớn. Nhng sự cạnh tranh khốc
liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hớng tới
ngời tiêu dùng nh là một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho tới những năm
1920 và 1930, những ngân hàng lớn đã thiết lập những phòng tín dụng tiêu dùng
lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới II, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình tín dụng có mức tăng trởng nhanh nhất. Tốc độ tăng trởng này gần
đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt hơn
trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, ngời tiêu dùng vẫn tiếp tục
là khách hàng chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu
quan trọng nhất.
2.2.2 T vấn tài chính
Các ngân hàng từ lâu đã đợc khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động t vấn
tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu t. Ngân hàng ngày nay cung cấp những
dịch vụ t vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các
cá nhân đến t vấn về các cơ hội thị trờng trong nớc và nớc ngoài cho các khách
hàng kinh doanh của họ.
Một lý do làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vợng là khả năng thẩm
định thông tin. Các dữ liệu đúng đắn về đầu t, tài chính bao giờ cũng vừa ít, vừa
đắt. Tình trạng thông tin không cân xứng làm giảm tính hiệu quả của thị trờng
nhng lại tạo ra khả năng phát triển những dịch vụ sinh lợi cho ngân hàng, nơi có
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
7
Luận văn tốt nghiệp
chuyên môn và kinh nghiệp đánh giá các công cụ tài chính, các thông tin tài chính
với những yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất. Một trong các loại dịch vụ đó là
dịch vụ t vấn tài chính.
2.2.3 Quản lý tiền mặt
Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ
làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong số những ví
dụ nổi bật là dịch vụ quản lý tiền mặt. Trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu
và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu t phần thặng d tiền mặt tạm
thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng
cần tiền mặt để thanh toán.
Trong khi các ngân hàng có khuynh hớng chuyên môn hoá vào dịch vụ quản
lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hớng đang gia tăng về việc cung
cấp các dịch vụ tơng tự cho ngời tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hớng này đang lan rộng
là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cung cấp cho
ngời tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan.
2.2.4 Dịch vụ thuê mua thiết bị
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân
hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các quy định yêu cầu khách
hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để
trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế. Sau đó,
các ngân hàng đã đợc phép sở hữu một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê
mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng nh khách hàng bởi vì với t
cách là một ngời chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao
chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.
2.2.5 Cho vay tài trợ dự án
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
8
Luận văn tốt nghiệp
Các ngân hàng ngày nay càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi
phí xây dựng nhà máy mới, đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro
trong loại hình tín dụng này nói chung là cao nên chúng thờng đợc thực hiện qua
một công ty đầu t, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham
gia của các nhà đầu t khác để chia sẻ rủi ro. Những dịch vụ nổi bật về loại hình
công ty đầu t này là Bankers Trust Venture Capital và Citicorp Venture, Inc.
2.2.6 Bán các dịch vụ bảo hiểm.
Việc ngân hàng bảo hiểm tín dụng cho khách hàng đảm bảo việc hoàn trả
trong trờng hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định
thờng cấm các ngân hàng thơng mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều
ngân hàng mong muốn có thể đa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thờng và
hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản nh ô tô hay nhà cửa trong tơng lai. Hiện nay,
ngân hàng thờng bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc thoả
thuận đại lý kinh doanh độc quyền, theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một
văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu
nhập từ các dịch vụ ở đó.
2.2.7 Cung cấp các kế hoạch hu trí
Phòng Uỷ thác của ngân hàng sẽ thực hiện công việc quản lý kế hoạch hu trí
mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho ngời lao động, đầu t vốn vào phát lơng hu
cho những ngời đã nghỉ hu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền
gửi hu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi đến khi ngời sở hữu kế hoạch này
cần đến.
2.2.8 Cung cấp dịch vụ môi giới đầu t chứng khoán
Trên thị trờng tài chính hiện nay, các ngân hàng đang phải đối mặt với sự
cạnh tranh gay gắt của các định chế tài chính trung gian khác. Để tồn tại vững
chắc, các ngân hàng một mặt cố gắng hạn chế không cho các tổ chức tài chính
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
9
Luận văn tốt nghiệp
trung gian cung cấp những dịch vụ ngân hàng, mặt khác ngày càng mở rộng cung
cấp các dịch vụ tài chính khác. Các ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một
bách hoá tài chính thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách
hàng thoả mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính
khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không
phải nhờ đến ngời kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trờng hợp, các ngân
hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động hoặc thành lập một công ty môi
giới để thực hiện chức năng này.
2.2.9 Cung cấp dịch vụ quỹ tơng hỗ và trợ cấp
Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá
thấp, nhiều khách hàng đã hớng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu t, đặc biệt
là các tài khoản của quỹ tơng hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp
triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi nhng cũng kèm theo những rủi ro
cao hơn.
Hợp đồng trợ cấp bao gồm các kế hoạch tiết kiệm dài hạn cam kết thanh
toán một số tiền hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong t-
ơng lai.
Ngợc lại, quỹ tơng hỗ bao gồm các chơng trình đầu t đợc quản lý một cách
chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù với
mục tiêu của quỹ (tối đa hoá thu nhập hay đạt đợc sự tăng giá trị vốn)
2.2.10 Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu t và ngân hàng bán buôn
Ngân hàng đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung
cấp các dịch vụ ngân hàng đầu t và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn
lớn. Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại công
ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
10
Luận văn tốt nghiệp
khoán), cung cấp công cụ marketing chiến lợc, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo
vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng đi sâu vào thanh toán bảo đảm, hỗ trợ các
khoản nợ do Chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay
vốn với chi phí thấp nhất từ thị trờng tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.
Trên đây là các loại dịch vụ phổ biến nhất mà các ngân hàng đã từng và
đang thực hiện. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp những
dịch vụ tài chính nh danh mục dịch vụ đã nêu ở trên, nhng quả thật danh mục dịch
vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản
tiền gửi mới đang đợc phát triển, các loại dịch vụ mới nh giao dịch qua Internet và
thẻ thông minh đang đợc mở rộng và các dịch vụ mới (nh bảo hiểm và kinh doanh
chứng khoán) đợc tung ra hàng năm. Nhìn chung, danh mục các dịch vụ đầy ấn t-
ợng do ngân hàng cung cấp tạo ra một sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng. Khách
hàng có thể hoàn toàn thoả mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình
thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thanh
bách hoá tài chính ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân
hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán dới một mái nhà chính là xu hớng mà ng-
ời ta thờng gọi là Universal Banking.
3. Các khuynh hớng ảnh hởng tới hoạt động ngân hàng
Kết quả của một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng gợi ký rằng các ngân
hàng đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng và hình thức. Thực tế
những thay đổi ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày nay quan trọng
đến mức rất nhiều nhà phân tích coi đó là một cuộc Cách mạng ngân hàng - điều
có thể làm các thế hệ cho ngân hàng tiếp theo sẽ khác rất nhiều so với ngân hàng
ngày nay.
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
11
Luận văn tốt nghiệp
3.1 Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ
Nh chúng ta đã thấy ở phần trớc, các ngân hàng đang mở rộng dịch vụ tài
chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã
tăng tốc trong những năm gần đây dới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài
chính phi ngân hàng khác từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ
sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến rủi ro phá
sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hởng tốt đến ngành công nghiệp này
thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng - các khoản lệ phí của
dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hớng tăng trởng nhanh hơn so với các
nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.
3.2 Sự gia tăng cạnh tranh
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết
liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng dịch vụ. Các ngân hàng địa
phơng cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hu trí, dịch vụ t vấn tài
chính cho các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối
mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các
công ty kinh doanh chứng khoán, các công ty tài chính và các tổ chức bảo hiểm.
áp lực cạnh tranh đóng vai trò nh một lực đẩy tạo ra sự phát triển cho dịch vụ tơng
lai.
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
12
Luận văn tốt nghiệp
II. hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thơng
mại
1. Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng đợc hình thành từ sau Đại chiến Thế giới II trên cơ sở
việc giải quyết hai mâu thuẫn: Một là mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả
năng thanh toán của các cá nhân ngời tiêu dùng. Hai là mâu thuẫn giữa nhu cầu
vốn ngân hàng của các hãng kinh doanh và việc mở rộng quy mô hoạt động của
ngân hàng thơng mại.
ở mâu thuẫn thứ nhất, ngời tiêu dùng luôn có nhu cầu đối với một số hàng
hoá nhất định. Nhu cầu tiêu dùng của ngời tiêu dùng là vô hạn nhng khả năng
thanh toán lại có hạn bởi vì khả năng thanh toán còn phụ thuộc vào thu nhập của
ngời tiêu dùng. Muốn có tiêu dùng thì phải có thu nhập. Nhng thu nhập của ngời
tiêu dùng thờng đến rải rác, không phải đến ngay trong một lần. Và với những nhu
cầu tiêu dùng hàng hoá có giá trị lớn (nhà cửa, ô tô) thì rất ít ngời tiêu dùng có đủ
tiền ngay tại thời điểm có nhu cầu tiêu dùng. Do vậy, cho vay tiêu dùng ra đời để
giải quyết mâu thuẫn này, giúp ngời tiêu dùng lựa chọn thời điểm tiêu dùng thích
hợp nhất, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ. Điều này có nghĩa là ngân hàng đã cho
phép ngời tiêu dùng đợc sử dụng trớc hàng hoá khi cha có khả năng thanh toán.
Mâu thuẫn thứ hai, hoạt động cho vay thơng là hoạt động truyền thống và
chủ yếu đối với mỗi ngân hàng thơng mại. Tuy nhiên, ngày nay các công ty lớn th-
ờng giảm việc vay vốn ngân hàng và thay vào đó là huy động vốn trên thị trờng
chứng khoán. Ngoài ra ngân hàng còn phải chịu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
của các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính trung gian khác. Việc mở rộng
quy mô ngân hàng và việc ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính đợc thành lập
đã dẫn đến sự tăng trởng của nhu cầu của các doanh nghiệp đối với vốn của ngân
hàng không đủ đáp ứng đợc nhu cầu tăng quy mô hoạt động. Do vậy, ngân hàng
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
13
Luận văn tốt nghiệp
phải tìm cách chuyển sang những hoạt động khác. khi đó, hoạt động cho vay tiêu
dùng lại trở thành một mảng hấp dẫn đối với các ngân hàng thơng mại và sự xuất
hiện của cho vay tiêu dùng là một điều tất yếu.
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, hệ thống ngân hàng thơng mại đã phải
tiến hành cải cách với lý do sức ép cạnh tranh. Đồng thời những thay đổi trong lĩnh
vực công nghệ, dân số học, luật pháp đã góp phần tạo ra nhng thay đổi về dịch vụ
mà ngân hàng cung cấp. Những thay đổi đó đòi hỏi các ngân hàng phải đổi mới
công nghệ để thích ứng và để nâng cao khả năng cạnh tranh. Đầu tiên là việc ngân
hàng sử dụng hệ thống máy vi tính nhằm giảm thời gian giao dịch và chi phí quản
lý. Kế đến là sự xuất hiện của các máy rút tiền tự động tại các trung tâm buôn bán,
phi trờng, các trung tâm vận tải nhằm tạo thuận lợi cho ngời sử dụng dịch vụ ngân
hàng và giảm chi phí xây dựng ngân hàng mới.
Hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng đã thay đổi. Nếu nh trớc đây các
ngân hàng chỉ giới hạn phạm vi hoạt động cho vay trong cho vay thơng mại thì
ngày nay họ đã mở rộng thêm hoạt động cho vay tiêu dùng đặc biệt là sau cuộc
khủng hoảng vào những năm 1980.
Hệ thống ngân hàng thơng mại Mỹ là những ngân hàng đầu tiên trong việc
triển khai dịch vụ cho vay tiêu dùng. Đến năm 1987 các ngân hàng Mỹ đã cung
cấp 80% khối lợng tín dụng tiêu dùng, trong đó 45% dựa trên cơ sở cho vay trả
góp. Sau các ngân hàng Mỹ, các ngân hàng Nhật, rồi đến các ngân hàng khác ở các
nớc trên thế giới cũng lần lợt triển khai dịch vụ cho vay tiêu dùng. Ngày nay, cho
vay tiêu dùng đã phát triể mạnh theo xu thế chung của nền kinh tế thế giới.
2. Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà ngân hàng cung cấp cho ngời tiêu
dùng ( bao gồm các cá nhân và hộ gia đình). Đây là nguồn tài chính quan trọng
SV: Đặng Việt Dũng - Ngân hàng 42B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét