“ĐLLV của người lao động là những nhân tố bên trong kích
thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất,
hiệu quả cao.”
1
“ĐLLV là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc.
Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có
thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng được
ưu tiên hơn các nhu cầu khác.”
2
Như vậy, về bản chất động lực là tất cả những gì kích thích con người
hoạt động để đạt được một mục tiêu nào đó. Biểu hiện của động lực là sự sẵn
sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như
bản thân người lao động. Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi
trường làm việc. Không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ
thể nào. Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Trong trường
hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực của người lao động sẽ làm
tăng năng suất, hiệu quả lao động.
Công tác quản lý đòi hỏi phải tạo ra và duy trì một môi trường mà ở
đó mọi người làm việc cùng nhau trong các nhóm để hoàn thành một mục tiêu
chung. Một nhà quản lý không thể làm được điều đó nếu không biết cái gì sẽ
thúc đẩy mọi người. Hành vi con người là một loạt các hành động. Một câu
hỏi đặt ra là con người sẽ thực hiện những hoạt động nào ở một thời điểm nào
đó và tại sao họ làm điều đó. Hay nói cách khác động lực của người lao động
sẽ bị tác động, chi phối bởi những nhân tố nào?
1
TS.Bùi Anh Tuấn, Giáo trình hành vi tổ chức, ĐH Kinh Tế Quốc Dân, NXB Thống Kê Hà Nội, 2003. Tr.89
2
HAROLD KOONTZ,CYRIL ODONNELL,HEINZ WEIHRICH – Những vấn đề cốt yếu của quản lý – Nhà
xuất bản Khoa Học Và Kỹ Thuật – Hà Nội, 2004, tr.468
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
5
1.1.2. Những nhân tố tác động tới động lực của người lao động.
ĐLLV là kết quả của rất nhiều nguồn lực, là sự tổng hợp các yếu tố
như nhu cầu, động cơ, mục đích, quan điểm về giá trị của bản thân người lao
động, văn hóa của tổ chức, quan niệm của lãnh đạo hay bản thân công việc,
máy móc… Các nhân tố này có thể chia thành ba nhóm: Những nhân tố thuộc
về bản thân người lao động; Những nhân tố thuộc về công việc; và những
nhân tố thuộc về tổ chức.
1.1.2.1. Những nhân tố thuộc về người lao động
Hệ thống nhu cầu cá nhân.
o Nhu cầu.
“Nhu cầu là một trạng thái tâm sinh lý mà con người thấy thiếu thốn
trống trải về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền
với sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng, tập thể và xã hội”
1
Nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất cho con người tồn tại
và phát triển thể lực, còn nhu cầu tinh thần là những đòi hỏi về điều kiện tinh
thần cho con người tồn tại và phát triển trí lực. Cả hai loại nhu cầu luôn tồn
tại song song trong mỗi con người, chúng có mối quan hệ biện chứng với
nhau, nhưng tại những thời điểm nhất định và những điều kiện cụ thể thì nhu
cầu vật chất có thể cao hơn nhu cầu tinh thần hoặc ngược lại nhu cầu tinh thần
cao hơn nhu cầu vật chất. Việc đáp ứng nhu cầu có thể được thông qua nhiều
phương thức khác nhau: cá nhân, tập thể,tổ chức, cộng đồng, xã hội. Từ đó
hình thành nên những lợi ích của con người.
1
TS.Đoàn Thị Thu Hà – TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa Học Quản Lý, Tập II, ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật, Hà Nội, 2002. Tr.114
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
6
o Lợi ích
“Là kết quả mà con người có thể nhận được thông qua hoạt động của
bản thân, tập thể, cộng đồng, xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Lợi ích bao gồm nhiều loại: Lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân,
lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng và lợi ích xã hội, lợi ích khu vực, lợi ích
quốc tế…”
1
Lợi ích có vai trò to lớn trong quản lý kinh tế và quản lý người lao
động trong các tổ chức, nó tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động nhất
định của con người. Nó buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm tòi các
phương thức thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của
mình. Đã là một con người trong xã hội, ai nấy đều phải có lợi ích. Lợi ích là
một thực tế khách quan nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người.
Vấn đề cần đề cập ở đây chính là động cơ và thủ đoạn thực hiện để đạt được
lợi ích như thế nào.
o Động Cơ
Động cơ thúc đẩy là thuật ngữ chung áp dụng cho toàn bộ nhóm các
xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc tương tự. Động
cơ là sinh lực thúc đẩy, định hướng và duy trì hành vi của con người hoạt
động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Điều đó có nghĩa động cơ thúc đẩy
phản ánh sự mong muốn, chúng là những phần thưởng, hoặc sự khuyến khích
nhất định làm tăng những nỗ lực để thỏa mãn những mong muốn đó. Khi nói
rằng nhà quản lý thúc đẩy nhân viên có nghĩa là các nhà quản lý làm những
1
TS.Đoàn Thị Thu Hà – TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa Học Quản Lý, Tập II, ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, NXB Khoa Học - Kỹ Thuật, Hà Nội, 2002. Tr.115
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
7
việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng những xu hướng và nguyện vọng đó và thúc
đẩy nhân viên hành động theo cách thức mong muốn.
1
Những động lực của con người đều dựa trên nhu cầu, dù đó là cảm
giác có ý thức hoặc giữ trong tiềm thức. Một số nhu cầu cấp thiết là những
nhu cầu về sinh lý như: nước uống, thức ăn, không khí, ngủ, nhà ở…Những
nhu cầu khác có thể xem như nhu cầu thứ cấp như lòng tự trọng, địa vị, sự
liên kết với những người khác, tình cảm, sự cống hiến, tài năng và sự tự
khẳng định.
Nhu cầu phụ thuôc vào môi trừơng hoạt động của người. Môi trường
có ảnh hưởng nhiều tới sự nhận thức của chúng ta về các nhu cầu thứ cấp. ví
dụ: việc thăng chức của đồng nghiệp có thể khơi dậy ham muốn của chúng
một vị trí cao hơn. Một sự thử thách có thể kích thích sự ham muốn của chúng
ta làm bằng được một việc nào đó.
o Quá trình con người thực hiện nhu cầu
2
Là một quá trình phức tạp, tác động chung tích cực phù hợp với các
đòi hỏi của các quy luật khách quan. Trong đó:
- Chuẩn mực xã hội. Là những yêu cầu, ràng buộc mà cộng đồng
xã hội định ra, đòi hỏi con người phải tuân thủ trong mỗi giai đoạn phát triển
nhất định của xã hội.
- Khả năng. Là toàn bộ sức mạnh mà con người có thể sử dụng
cho các hoạt động, nhằm thỏa mãn nhu cầu. Khả năng bao gồm năng lực cá
1
HAROLD KOONTZ,CYRIL ODONNELL,HEINZ WEIHRICH – Những vấn đề cốt yếu của quản lý –
NXB Khoa Học - Kỹ Thuật, Hà Nội, 2004, tr.468
2
Trần Thị Thúy Sửu – Lê Thị Anh Vân – Đỗ Hoàng Toàn, Giáo trình Tâm lý học Quản lý kinh tế, Khoa
Khoa học quản lý, Đại học kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 2003, tr.29
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
8
nhân, vị trí và mối quan hệ của họ trong cộng đồng, tập thể và xã hội ở mỗi
thời điểm.
- Mục tiêu. Là kết quả dự định cho các hoạt động của con người
trong những khoảng thời gian nhất định.
- Phương thức hành động. Là thủ đoạn, cách thức con người hoạt
động để đạt được mục tiêu đề ra
Sơ đồ 1.1. Quá trình thực hiện nhu cầu của con người
- Hiệu quả hành động. Là cách đánh giá phương thức hành động
của con người. Quá trình Quản lý kinh tế là quá trình Nhà nước và các chủ
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
Nhu cầu con người
Động cơ
Mục tiêu
Khả năng cụ thể
Chuẩn mực của hệ thống
Phương thức hoạt động
Hiệu quả
Môi trường xã hộiCon người
9
doanh nghiệp tác động lên các bước của quá trình của mỗi cá nhân, mỗi tập
thể, xã hội thực hiện nhu cầu; theo hướng tạo động lực mạnh và cùng chiều
cho tập thể và xã hội. Đó là việc hoàn thiện không ngừng các chuẩn mực xã
hội, đó là các hoạt động nhằm làm cho con người đánh giá được chuẩn xác
năng lực của mình và các ràng buộc, các quy định, các điều cần làm, được
làm trong phương thức hoạt động của con người
Mục tiêu và giá trị cá nhân
o Mục tiêu
Mục tiêu là kết quả dự định cho các hoạt động của con người trong
một khoảng thời gian nhất định. Mỗi một người đều đặt cho mình những mục
tiêu nhất định và mục tiêu đó bị chi phối bởi giá trị cá nhân. Vì mục tiêu khác
nhau nên mức độ làm việc, mức độ phấn đấu của mỗi người lao động là khác
nhau. Chính vì vậy nhà quản lý phải nhanh nhạy nắm bắt được mục tiêu của
các nhân viên của mình là gì, từ đó có chính sách, phương pháp tác động giúp
người lao động có thể thực hiện được mục tiêu cá nhân thông qua hoạt động
nào đó có lợi cho tổ chức. Như vậy có thể làm cho người lao động nỗ lực làm
việc hơn để đạt được mục tiêu của mình và mục tiêu của tổ chức cũng được
thực hiện.
o Giá trị cá nhân
Khi nói đến giá trị cá nhân của người lao động là nói đến:
- Thái độ, quan điểm của người lao động trong công việc và đối
với tổ chức. Thái độ là cách suy nghĩ, cách nhìn nhận và cảm xúc về sự vật
hiện tượng, là sự nhìn nhận về khách quan của cá nhân. Thái độ chịu sự chi
phối của tập hợp các giá trị mà một cá nhân tôn trọng, nhân sinh quan và thế
giới quan được hình thành và tích lũy trong quá trình sống và làm việc.
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
10
- Nhận thức của người lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân. Giá
trị là những nguyên tắc hay chuẩn mực đạo đức, tinh thần mà con người ta
trân trọng, đặt niềm tin của mình vào đấy hoặc cho là quan trọng trong cuộc
sống.
- Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân người lao động.
Mỗi một người lao động có những khả năng, năng lực khác nhau nên họ chỉ
phù hợp với những vị trí cụ thể.
- Đặc điểm tính cách của người lao động. Tính cách là tổng thể
những thuộc tính tâm lý cơ bản của con người, biểu hiện thành thái độ, hành
vi của họ trong thực thực tế và in dấu ấn vào mọi hành động của họ trong
cuộc sống. Tính cách thường phản ánh bản chất của cá nhân con người nên sẽ
cho phép người quản lý có thể đoán trước được cách cư xử của người lao
động trong một tình huống cụ thể nào đấy. Đồng thời biết được điều gì có thể
tác động mạnh mẽ tới hành vi của người lao động.
Tóm lại, mỗi một người có những kỹ năng, năng lực, quan điểm, thái
độ, tính cách khác nhau tức là mỗi người có một giá trị khác nhau. Những giá
trị cá nhân này nếu được tác động bằng những phương pháp và công cụ phù
hợp thì có thể tạo được động lực mạnh mẽ, chi phối được hành vi của người
lao động theo hướng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Những nhân tố thuộc về công việc
Nhiệm vụ và trách nhiệm mà công việc đòi hỏi.
Với những công việc khác nhau thì nhiệm vụ và trách nhiệm mà công
việc đòi hỏi người lao động phải thực hiện khác nhau. Có những công việc
không phải ai cũng có thể làm được mà đòi hỏi người lao động có khả năng
phù hợp mới có thể đảm nhận và làm việc có hiệu quả. Nhiệm vụ và trách
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
11
nhiệm của công việc cũng liên quan đến mức độ tự chủ trong thực hiện công
việc. Đây chính là sự chủ động ra quyết định công việc trong phạm vi quản lý
của người lao động.
Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
Bao gồm các yếu tố như:
- Mức độ phức tạp của công việc
- Yêu cầu kỹ năng lao động chân tay hay lao động trí óc
- Mức độ chuyên môn hóa của công việc
- Yêu cầu về kiến thức giáo dục, đào tạo cần thiết cho công việc
Sự cố gắng mà công việc đòi hỏi
- Mức độ hao phí về thể lực và trí lực
- Sự căng thẳng của công việc, sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của
công việc
- Sự quan tâm đến các chi tiết cụ thể
1.1.2.3. Những nhân tố thuộc về môi trường công việc
Mục tiêu chiến lược của tổ chức
Văn hóa tổ chức
“Văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin những quy
phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong một phạm vi tổ chức chính quy
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
12
tạo ra các chuẩn mực về hành vi trong công việc”
1
. Nói cách khác, văn hóa tổ
chức là tất cả những gì mà các thành viên trong tổ chức có, ngĩ và làm.
Văn hóa tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến bầu không khí của tổ chức.
“Bầu không khí của tổ chức là hiện tượng tâm lý biểu hiện mức độ hoạt động,
hòa nhập về các phẩm chất tâm lý cá nhân của con người trong tổ chức, nó
được hình thành từ thái độ của người lao động đối với công việc, đồng
nghiệp, và người lãnh đạo trong tổ chức”
2
Văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến việc tuyển mộ nhân viên, ảnh hưởng
đến cách cư xử của lãnh đạo đối với người lao động và các công tác đãi ngộ
của tổ chức. Chính vì vậy, văn hóa tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, tinh
thần, năng suất của người lao động, tác động mạnh mẽ tới ĐLLV và sự tận
tâm, gắn bó của họ đối với tổ chức.
Lãnh đạo
o Phong cách lãnh đạo
3
Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi của người đó
thể hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác. Là cách
thức làm việc của nhà lãnh đạo; là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của hoạt
động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi đặc điểm nhân cách của họ.
Nói cách khác, phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân
và sự kiện, và được biểu diễn bằng công thức:
1
TS.Bùi Anh Tuấn, Giáo trình hành vi tổ chức, ĐH Kinh Tế Quốc Dân, NXB Thống Kê Hà Nội, 2003.
Tr.240
2
TS.Đoàn Thị Thu Hà – TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa Học Quản Lý, Tập II, ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, NXB Khoa Học - Kỹ Thuật, Hà Nội, 2002. Tr.145
3
By CAUDUONG, Kỹ năng lãnh đạo theo tình huống, 17/10/2007.
http://my.opera.com/qtdn/nghe_thuat_lanh_dao/Lanh_dao_theo_tinh_huong
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
13
Phong cách lãnh đạo = Cá tính x Môi trường.
Phong cách lãnh đạo ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa lãnh đạo và
nhân viên trong tổ chức, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người lao
động, năng suất và văn hóa của tổ chức.
o Phương pháp lãnh đạo
1
Phương pháp lãnh đạo con người trong tổ chức là toàn thể các cách
thức tác động có thể có và có chủ đích của lãnh đạo lên người lao động cùng
với các nguồn lực khác của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý đề ra.
Phương pháp lãnh đạo có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý.
Trong những điều kiện nhất định, các phương pháp lãnh đạo tác động quan
trọng đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ.
Vai trò quan trọng của phương pháp lãnh đạo còn ở chỗ nó nhằm khơi dậy
những động lực, cũng như các tiềm năng, cơ hội có lợi ở bên ngoài.
Các chính sách nhân sự của tổ chức và sự thực hiện các
chính sách đó
Các chính sách nhân sự của tổ chức bao gồm: chính sách về trả thù lao
lao động; chính sách tuyển mộ; chính sách đánh giá việc làm…Những chính
sách này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người lao động. Do đó tác động
lớn tới ĐLLV của người lao động. Nhiệm vụ của người quản lý là làm sao
xây dựng được chính sách nhân sự phù hợp, vừa đảm bảo được lợi ích của tổ
chức, vừa đảm bảo lợi ích cho người lao động, khuyến khích, động viên được
người lao động cống hiến và gắn bó với tổ chức.
1
TS.Đoàn Thị Thu Hà – TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa Học Quản Lý, Tập II, ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, NXB Khoa Học - Kỹ Thuật, Hà Nội, 2002. Tr.111
Sinh viên thực hiện: Lô Minh Hải Lớp: Quản lý kinh tế 46B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét