tố "đầu vào" và giải quyết "đầu ra" cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh
nghiệp, thị trờng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sức sống và
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào chiến lợc củng cố và phát triển
thị trờng.
Thị trờng bao gồm các chức năng cơ bản sau đây :
Một là - Chức năng thừa nhận và thực hiện
Đây là chức năng quan trọng nhất. Khi quá trình mua bán và trao đổi diễn ra thì nó
đồng nghĩa với việc thị trờng thực hiện chức năng thừa nhận và thực hiện. Thị trờng
thừa nhận tính hai mặt của hàng hoá đem trao đổi là giá trị và giá trị sử dụng. Về mặt
giá trị, sự chấp nhận của thị trờng về giá cả hàng hoá tiêu thụ có nghĩa là thị trờng
chấp nhận các chi phí cho việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ
của nhà kinh doanh. Việc thừa nhận giá trị của hàng hoá cũng bao hàm cả sự thừa
nhận của ngời tiêu dùng với các sản phẩm hàng hoá dịch vụ cung ứng. Đó chính là sự
phù hợp giữa chất lợng sản phẩm , giá bán và khả năng tanh toán của khách hàng. Về
mặt giá trị sử dụng, thị trờng thừa nhận những lợi ích do sản phẩm mang lại và nó
phản ánh ở thị hiếu, tập quán và tâm lý tiêu dùng.
Hai là - Chức năng điều tiết và kích thích
Thị trờng thực hiện chức năng điều tiết và kích thích thông qua các quy luật kinh
tế. Quá trình điều tiết này diễn ra cả ở hai thái cực điều tiết sản xuất và điều tiết iêu
dùng. Với sản xuất, thị trờng tự phát điều tiết việc di chuyển vốn và lao đống sang
các ngành sản xuất có nhu cầu xã hội lớn và lợi nhuận cao; đông thời có thể khuyến
khích hoặc hạn chế sự phát triển của một ngành hàng nào đó. Từ đó tạo ra sự cân đối
cung - cầu về một loại hàng hoá, thay đổi cơ cấu sản xuất của các ngành, các vùng
lãnh thổ. Với tiêu dùng, thị trờng làm thay đổi mặt hàng tiêu dùng cũng nh cơ cấu
dân c từ đó họ sẽ cân nhắc, tính toán để gia tăng lợi ích của mìnhvà sử dụng tiết kiệm,
có hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Ba là - Chức năng thông tin
Thị trờng là nơi chứa đựng các thông tin cần thiết cho cả nhà kinh doanh và ngời
tiêu dùng. Đối với nhà kinh doanh, thị trờng giúp họ nắm bắt các thông tin cần thiết
nh : số lợng và cơ cấu của cung cầu hàng hoá, những đặc điểm về nhu cầu tiêu dùng
của dân c, khả năng thanh toán của khách hàng, giá cả thị trờng,tình hình cạnh tranh
thị trờng, môi trờng chính trị, pháp luật có ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh từ
đó giúp nhà kinh doanh có thể tận dụng cơ hội và tránh đợc rủi ro kinh doanh. Đối
với ngời tiêu dùng, thị trờng cung cấp các thông tin về hàng hoá dịch vụ, về giá cả, về
các dịch vụ của nhà kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trờng có rất nhiều quy luật hoạt động đan xen và có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Sau đây là các quy luật kinh tế của thị trờng :
5
- Quy luật giá trị : quy định hàng hoá đợc sản xuất ra và trao đổi trên cơ sở hao phí
lao động xã hội cần thiết, tức chi phí bình quân trong xã hội.
- Quy luật cung - cầu : Nêu lên mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng cung ứng
trên thị trờng. Quy luật này quy định cung cầu luôn luôn có xu thế chuyển dịch xích
lại gần nhau để tạo ra sự cân bằng trên thị trờng.
- Quy luật lu thông tiền tệ : Xác định số lợng tiền cần thiết trong lu thông. Theo quy
luật này, số lợng tiền cần thiết trong lu thông bằng tổng số giá cả của toàn bộ hàng hoá
chia cho số lần luân chuyển trung bình của đơn vị tiền tệ cùng loại.
- Quy luật cạnh tranh :
Đây là quy luật đặc thù của nền kinh tế thị trờng. Không chỉ nền kinh tế t bản chủ
nghĩa mới tồn tại cạnh tranh mà bất kỳ nền kinh tế nào phát triển theo xu hớng thị tr-
ờng với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu
thì đều tồn tại cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một sản phẩm nào đợc đa ra thị trờng cũng chịu
sức ép cạnh tranh nhất định bởi các sản phẩm khác cùng loại hoặc các sản phẩm thay
thế. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, số lợng các nhà cung ứng cũng nh các doanh
nghiệp càng nhiều, hàng hoá bán ra càng tăng thì cạnh tranh càng mạnh mẽ và ác liệt.
Kết quả của các cuộc cạnh tranh là một số doanh nghiệp bị thu hẹp thị trờng của
mình hoặc thậm chí bị gạt ra khỏi thị trờng, trong khi đó một doanh nghiệp khác lại
mở rộng thị trờng và ngày càng phát triển. Tuy nhên không có cơ sở nào khẳng định
kết quả này là vĩnh cửu. Rất có thể trong những cuộc cạnh tranh tiếp theo, những
doanh nghiệp tởng nh ngày càng phát triển ấy lại sẽ bị các doanh nghiệp khác thôn
tính. Có nghĩa là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể coi là cuộc chạy đua
"Maratông kinh tế" không có đích cuối cùng. Doanh nghiệp nào cảm nhận thấy đích,
doanh nghiệp đó sẽ trở thành nhịp cầu cho đối thủ vợt lên phía trớc.
Mọi doanh nghiệp không thể lẩn tránh cạnh tranh, vì nh vậy cầm chắc phá sản, mà
thay vì đó phải chấp nhận cạnh tranh, đón trớc cạnh tranh, sẵn sàng và linh hoạt sử
dụng những công cụ cạnh tranh hữu hiệu.
2- Cạnh tranh - Nhìn từ góc độ tổng thể nền kinh tế
Cạnh tranh là cuộc đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng
nhằm giành giật lợi ích kinh tế về mình.
Các chủ thể kinh tế ở đây chính là các bên mua và bên bán các loại hàng hoá và
dịch vụ. Đối với bên mua, họ muốn tối đa hoá lợi ích của những mặt hàng mà họ mua
đợc đem lại hay nói cách khác là họ muốn mua đợc những hàng hoá có chất lợng cao,
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng mà giá lại rẻ. Ngợc lại, bên bán bao giờ cũng hớng tới tố
đa hoá lợi nhuận bằng cách bán đợc thật nhiều hàng với giá cao. Nh vậy, các bên
cạnh tranh nhau để giành phần lợi về mình.
6
Nói đến cạnh tranh không thể không nói đến các nhân tố cấu thành cạnh tranh.
Sự cạnh tranh chỉ có thể xảy ra khi có đủ 3 yếu tố sau :
- Các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh, tức là những ngời có cung, có cầu về
hàng hoá, dịch vụ (bên mua và bên bán)
- Đối tợng để thực hiện cạnh tranh, tức là các loại hàng hoá và dịch vụ.
- Môi trờng cho việc cạnh tranh, tức là thị trờng cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể đợc phân loại theo nhiều cách khác nhau, ngời ta phân loại dựa
vào các căn cứ sau :
a. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trờng, ngời ta chia ra:
- Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo
- Thị trờng cạnh tranh độc quyền
- Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo :
Là thị trờng bao gồm rất nhiều ngời mua, ngời bán song không ai có u thế trong
việc cung ứng hay mua sản phẩm để có thể làm thay đổi đợc giá trên thị trờng. Các
sản phẩm bán ra trên thị trờng này đợc xem nh là đồng nhất, tức chúng khác nhau
không nhiều về quy cách, phẩm chất, mẫu mã ( VD nh : lúa mì, chứng khoán có
giá). Ngời bán cung ứng sản phẩm ra thị trờng với những điều kiện tơng đối giống
nhau kể cả về phơng thức bán hàng, giao dịch, giao hàng và dịch vụ hàng hoá Các
tin tức về thị trờng, giá cả, cả ngời mua và ngời bán đều nắm rõ. Điều kiện tham gia
cũng nh rút lui khỏi thị trờng là dễ dàng.
Thị trờng cạnh tranh độc quyền tuyệt đối
Thị trờng cạnh tranh độc quyền tuyệt đối là một thái cực khác hẳn với thị trờng
cạnh tranh hoàn hảo. Nếu nh cạnh tranh hoàn hảo có vô số ngời bán thì trong độc
quyền chỉ có duy nhất một hãng sản xuất và bán ra một loại hàng hoá,dịch vụ nào đó
mà không có hành hoá thay thế. Trên thị trờng, các nhà độc quyền hoàn toàn có thể
quyết định và định đoạt giá cả bao nhiêu cũng đợc. Giá cả có thể đợc xác định với ý
đồ bù đắp chi phí hay có đợc thu nhập khá. Cũng có thể là giá cả đợc xác định rất cao
để giảm tố đa mức tiêu dùng. Tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm (thuộc nhu
cầu cứng hay nhu cầu mềm) và cơ chế quản lý giá của Nhà Nớc mà nhà độc quyền
định giá cao hay thấp để cuối cùng thu đợc lợi nhuận tối đa.
Nói chung độc quyền trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối với nhà độc
quyền, song về mặt xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển của sản xuất, làm hại ngời
tiêu dùng. ở nớc ta, tình trạng độc quyền rất phổ biến thời bao cấp. Đến nay, chỉ còn
một số doanh nghiệp Nhà Nớc đợc phép độc quyền nh : Tổng Công ty Điện Lực,
7
Công ty Nớc Sạch, Tổng Công ty Bu Chính Viễn Thông, Tổng Công ty Đờng Sắt Việt
Nam, Hãng Hàng Không Việt Nam
Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo :
Đây là loại thị trờng phổ biến hiện nay. Trên thị trờng này, phần lớn các sản phẩm
không đồng nhất. Cùng một loại sản phẩm có thể chia ra nhiều thứ loại sản phẩm
( loại 1, loại 2 hoặc loại A, loại B ). Chẳng hạn nh các loại thuốc lá, các loại dầu
nhờn, các loại rợu, bia, nớc giải khát Thậm chí cùng loại nh ng lại có các nhãn hiệu
khác nhau. Mỗi nhãn hiệu lại có hình ảnh và uy tín khác nhau, mặc dù xét về thực
chất chúng không có sự khác biệt đáng kể.
Trên thị trờng này, điều kiện mua và bán hàng rất khác nhau, vì nhiều lý do (chẳng
hạn nh : khách quen, sản phẩm đã gây đợc lòng tin, các dịch vụ trớc và sau bán
hàng ). Việc mua bán đ ợc thực hiện khác hẳn với thị trờng cạnh tranh. ở đây bằng
những thủ pháp quảng cáo, chiêu hàng, sử dụng giá khác biệt , ng ời bán có thể định
giá linh hoạt tuỳ theo khu vực bán sản phẩm, tuỳ theo khách hàng cụ thể và mức lợi
nhuận mong muốn.
b. Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng, ngời ta chia ra :
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau
Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua :
Là cuộc cạnh tranh diễn ra trên cơ sở quy luật mua rẻ - bán đắt. Ngời mua luôn
muốn mua đợc rẻ, ngời bán có tham vọng bán đắt. Sự cạnh tranh này đợc thực hiện trong
quá trình "mặc cả" và giá cả đợc hình thành để việc mua bán đợc thực hiện.
Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau :
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loạt hàng hoá hay dịch
vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh trở nên gay
gắt và giá hàng hoá, dịch vụ đó sẽ ngày càng tăng. Kết quả cuối cùng là ngời bán thu
lợi nhuận cao, còn ngời mua thì phải mất thêm một số tiền. Đây là cuộc cạnh tranh
mà những ngời mua tự làm hại chính mình.
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau :
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau chủ yếu là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh trên chính vũ đài thị trờng, đồng thời cũng là cuộc
cạnh tranh khốc liệt nhất có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
Vì vậy, phần dới đây xin đợc đề cập đến những vấn đề về loại hình cạnh tranh
này.
8
II- Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1- Nhận thức cơ bản về doanh nghiệp
Khái niệm về doanh nghiệp có thể đợc xem xét trên một số các góc độ khác nhau :
Hiểu một cách chung nhất, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế tập thể, một tập
hợp ngời và vốn có nhiệm vụ sản xuất và lu thông hàng hoá hoặc cung ứng hàng hoá,
dịch vụ cho xã hội.
Trên khía cạnh pháp luật thì doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập đúng luật,
hoạt động trong các ngành của nền kinh tế quốc dân thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành
phần kinh tế không phân biệt quy mô nhằm sản xuất, chế tạo, gia công sản phẩm
hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ có lãi.
Có nhiều cách phân loại khác nhau nhng nếu căn cứ vào hình thức sở hữu thì có
các loại doanh nghiệp nh doanh nghiệp Nhà Nớc, doan nghiệp t nhân, Công ty trách
nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty liên doanh, công ty 100% vốn
nớc ngoài.
Trong nền kinh tế, mọi loại hình doanh nghiệp đều có hai chức năng cơ bản :
Một là- Doanh nghiệp có chức năng sản xuất và cung ứng các loại hàng hoá và
dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên và hết sức quan trọng.
Hai là- Doanh nghiệp phải làm chức năng phân phối theo hai hớng có lợi nhất.
+ Tìm ra các kênh và các luồng để tiêu thụ hàng hoá của mình một cách có lợi nhất.
+Phân phối một cách công bằng và hợp lý mọi kết quả sản xuất kinh doanh đạt đợc.
Ngoài ra, đối với doanh nghiệp Nhà Nớc còn có một chức năng riêng - Đó là :
Doanh nghiệp Nhà Nớc là công cụ trong tay Nhà Nớc để ổn định thị trờng, là công cụ
điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân, tạo môi trờng và điều kiện kinh doanh thuận lợi
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
2- Cạnh tranh của các doanh nghiệp
ở nớc ta, trong cơ chế tập trung bao cấp trớc đây, cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp đợc hiểu một cách cứng nhắc. Trong một thời kỳ dài, chúng ta chỉ nhìn thấy
mặt trái của cạnh tranh là "cá lớn nuốt cá bé", doanh nghiệp mạnh đè bẹp doanh
nghiệp yếu mà không biết đến những tính u việt của cạnh tranh.
Ngày nay, nớc ta và hầu hết các nớc trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi
cạnh tranh là môi trờng và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể đợc quan niệm nh sau :
Cạnh tranh của các doanh nghiệp là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa các nhà
sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất
9
nhằm giành đợc những điều kiện có lợi nhất đồng thời thúc đẩy phát triển sản xuất
kinh doanh.
Hay theo ý chung nhất, cạnh tranh của các doanh nghiệp đợc hiểu là sự ganh đua
giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật khách hàng hoặc thị trờng mà kết quả
cuối cùng là để tiêu thụ đợc ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.
Xét theo phạm vi ngành kinh tế thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đợc chia
thành 2 loại :
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành (Cạnh tranh giữa các ngành với nhau).
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành (Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong nội bộ ngành).
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm
giành lấy lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này, các doanh nghiệp luôn say mê với
những ngành đầu t có lợi nhất nên đã có xu hớng chuyển vốn từ ngành có ít lợi nhuận
sang ngành đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Sự điều chuyển vốn theo tiếng gọi của lợi
nhuận này sau một thời gian nhất định, vô hình chung hình thành nên sự phân phối
vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rrồi kết quả cuối cùng là các doanh nghiệp
đầu t ở cac ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu đợc lợi nhuận bình quân.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng
hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp luôn tính lẫn
nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi của mình trên thị trờng ,
còn những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản.
Vậy vai trò của cạnh tranh có ảnh hởng nh thế nào tới các doanh nghiệp ?
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây, hầu nh không tồn tại phạm trù cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất cái gì ? sản xuất nh thế nào ? với
số lợng bao nhiêu ? và sản xuất cho ai ? hoàn toàn do Nhà Nớc quy định. Sản phẩm
do doanh nghiệp sản xuất ra vẫn mang đúng nghĩa của nó, tức là vẫn bán ra thị trờng
nhng các doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà khách hàng phải tự
tìm đến doanh nghiệp. Vì lẽ đó mà dẫn tới tình trạng mua nh "cớp", bán nh "cho".
Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà Nớc, ngợc lại nếu bị
thua lỗ thì đợc Nhà Nớc bù lỗ và doanh nghiệp vẫn tồn tại mà không bị phá sản.
Khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trờng với sự bung ra của
hàng loạt các loại hình doanh nghiệp khác nữa thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
bắt đầu xuất hiện. Cạnh tranh nói chung cũng nh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối
với ngời tiêu dùng cũng nh đối với nền kinh tế quốc dân nói chung.
10
Đối với doanh nghiệp :
- Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Bởi vì cạnh tranh tác động trực tiếp tới hiệu quả tiêu thụ. Mà tiêu thụ
sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh có vai trò quyết định
trong việc doanh nghiệp có tiếp tục sản xuất hay không.
- Cạnh tranh tạo ra môi trờng, động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy
mỗi doanh nghiệp tự tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng thông qua thị phần
mà doanh nghiệp chiếm giữ.
- Kết quả cạnh tranh tốt hay xấu sẽ làm tăng thêm hoặc suy giảm uy tín của doanh
nghiệp trên thị trờng.
Đối với ngời tiêu dùng :
Nhờ có cạnh tranh, ngời tiêu dùng có thể nhận đợc các hàng hoá và dịch vụ ngày
càng đa dạng, phong phú với chất lợng cao hơn cùng với những mức giá phù hợp với
khả năng của họ. Cạnh tranh làm cho ngời tiêu dùng thực sự đợc tôn trọng hơn, thúc
đẩy việc nâng cao và đảm bảo lợi ích của ngời tiêu dùng.
Đối với nền kinh tế quốc dân :
- Cạnh tranh là môi trờng, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lợng sản xuất, nâng cao tiến
bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội.
- Cạnh tranh góp phần xoá bỏ những bất hợp lý và bất bình đẳng trong kinh doanh.
- Cạnh tranh còn là điều kiện phát huy tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo của
các nhà doanh nghiệp, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi, chân chính.
- Cạnh tranh góp phần gợi mở nhu cầu thông qua việc thiết kế, chế tạo ra nhiều loại
sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát
triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội
và phát triển nền văn minh nhân loại.
Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận những mặt tiêu cực của cạnh tranh:
+ Cạnh tranh tạo ra sự phân hoá giàu nghèo.
+ Cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới những hậu quả tiêu cực nh : hàng giả, hàng
nhái, hàng nhập lậu gây rối loạn thị trờng, làm thiệt hại cho ngời tiêu dùng và làm
ảnh hởng đến những doanh nghiệp làm ăn chính đáng.
+ Cạnh tranh có thể dẫn tới xu thế độc quyền.
11
+ Cạnh tranh cuốn hút các doanh nghiệp đi theo tiếng gọi của lợi nhuận mà không
giành chi phí cho xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trờng cũng nh các vấn đề xã hội
khác.
Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy vai trò tích cực và hạn chế các tiêu
cực của cạnh tranh. Để giải quyết vấn đề này, vai trò của Nhà Nớc là vô cùng quan
trọng. Nhng trớc sự cạnh tranh gay gắt ấy đã dẫn tới một tất yếu là bất kỳ doanh
nghiệp nào dù là lớn hay nhỏ đều phải có mục tiêu để giành đợc lợi thế cạnh tranh
trên thị trờng.
Mục tiêu cơ bản nhất, bao trùm nhất của doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh bao
giờ cũng là lợi nhuận. Tất cả các mục tiêu cạnh tranh cụ thể của doanh nghiệp đều h-
ớng tới ttối đa hoá lợi nhuận. Tuỳ theo từng điều kiện sản xuất kinh doanh và khả
năng của mỗi doanh nghiệp mà có các mục tiêu cạnh tranh cụ thể khác nhau :
- Tăng thị phần hoặc tăng doanh thu.
-Thâm nhập thị trờng mới.
- Nâng cao uy tín của sản phẩm cũng nh uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng.
3- Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp
Cuộc cạnh tranh gay gắt nhất bao giờ cũng là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành hàng, tức cùng sản xuất và cung cấp một loại hàng hoá,
dịch vụ nào đó ra thị trờng. Vì vậy, các công cụ cạnh tranh ở đây chỉ xem xét ở góc
độ các doanh nghiệp cạnh tranh trong cung một ngành hàng.
Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố, các kế hoạch, các
chiến lợc, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm v ợt lên
trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng đẻ thoả mãn mọi nhu cầu của
khách hàng, từ đó tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm và thu lợi nhuận cao.
Mỗi công cụ cạnh tranh không sử dụng độc lập mà có sự kết hợp hay yểm trợ của
công cụ khác, các điều kiện khác.
a. Công cụ cạnh tranh là sản phẩm hàng hoá
Xem xét công cụ cạnh tranh là chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể
hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với
công dụng của sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp
trên thị trờng, bởi nó biểu hiện sự thoả mãn nhu cầu khách hàng của sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm càng cao tức là mức độ thoả mãn càng tăng, dẫn tới sự thích
thú tiêu dùng sản phẩm của khách hàng tăng lên, do đó làm tăng khả năng thay thế
trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt là trong điều kiện ngày nay, khi thu
12
nhập của mỗi ngời dân đang từng bớc ợc tăng lên, tức nhu càu có khả năng thanh
toán của ngời tiêu dùng cũng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu h-
ớng nhờng vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lợng.
Chất lợng sản phẩm còn là các đặc tính của sản phẩm nh về nhãn hiệu, bao bì, mẫu
mã và tính hữu dụng. Trớc đây chúng ta thờng xem nhẹ các yếu tố hình thức này. Nh-
ng ngày nay, trong sự cạnh tranh khốc liệt của vô số các loại hàng hoá thì các yếu tố
này trở nên vô cùng quan trọng vav có thể coi là một bộ phậncông cụ cạnh tranh
không kém phần lợi hại. Cụ thể là khách hàng khi quyết định mua hàng thờng bắt đầu
bằng tâm lý theo tri giác. Nếu khách hàng đã quen dùng một loại sản phẩm với nhãn
hiệu và bao bì nào đó rồi thì các lần sau sẽ tiếp tục mua loại đó. Nếu mẫu mã của sản
phẩm đẹp, mang tính độc đáo mới lạ thì càng làm tăng sức cuốn hút của khách hàng.
Hơn nữa, tính hữu dụng của sản phẩm đạt đến mức độ nào? Khách hàng luôn thích
những sản phẩm có tính hữu dụng cao, tức là phải thuận tiện và đa năng trong sử
dụng thì khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp càng tăng lên bấy
nhiêu.
Xem xét công cụ cạnh tranh là số lợng sản phẩm
Bên cạnh chất lợng và giá cả thì số lợng sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng ra
thị trờng cũng trở thành công cụ cạnh tranh vì nó cũng biêủ hiện sự thoả mãn nhu cầu
khách hàng về số lợng. Một doanh nghiệp biết sử dụng số lợng sản phẩm làm công cụ
cạnh tranh khi doanh nghiệp đó cung ứng ra thị trờng một lợng sản phẩn tơng ứng với
số lợng mà thị trờng có nhu cầu (với mức chất lợng và giá cả đã đợc thị trờng chấp
nhận). Tức doanh nghiệp phải dự báo đợc mức cầu về sản phẩm để có kế hoạch sản
xuất hợp lý đáp ứng nhu cầu sao cho không bị bỏ lỡ thị trờng khi cầu tăng hoặc ế thừa
sản phẩm khi cầu về sản phẩm suy giảm.
b. Công cụ cạnh tranh là giá cả sản phẩm
Giá cả sản phẩm đợc hiểu theo một ý nghĩa chung nhất, đó là : lợi ích kinh tế đợc
xác định bằng tiền. Giá cả là biến số trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế.
Đối với ngời mua, giá hàng hoá luôn đợc coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần
"đợc" và chi phí bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá. Vì vậy, giá cả luôn giữ vai trò
quyết định.
Giá cả đợc sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện qua các chính sách giá bán
mà doanh nghiệp áp dụng đối với thị trờng và có sự kết hợp với một số điều kiện
khác. Chính sách bán sản phẩm của doanh nghiệp là ý đồ, là chủ trơng của doanh
nghiệp trong việc dự kiến về hệ thống giá cả trong tơng lai sẽ đợc thị trờng chấp
nhận. Công cụ giá cả đợc thể hiện qua các chính sách giá bán sau :
- Với mức giá thấp hơn giá thị trờng : doanh nghiệp sử dụng vũ khí cạnh tranh để thu hút
khách hàng nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh nhng với điều kiện là chất lợng và hình
thức sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ là tơng đơng.
13
- Với mức giá bán cao hơn giá thị trờng : Doanh nghiệp sử dụng giá cả làm vũ khí
cạnh tranh để thu hút một bộ phận khách hàng cao cấp nhng với điều kiện chất lợng
và hình thức sản phẩm của doanh nghiệp phải hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh
khác, đồng thời phải là những sản phẩm đã trở nên quen thuộc với ngời tiêu dùng.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể sử dụng giá bán đối với những sản phẩm mới khi mà
ngời tiêu dùng cha biết rõ chất lợng của nó, hơn cũng cha có cơ hội để so sánh và xác
định mức giá của loại sản phẩm mới này là đắt hay rẻ.
- Với mức giá phân biệt : Nếu các đối thủ cạnh tranh cha có chính sách giá phân
biệt thì đây cũng là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh
nghiệp. Chính sách giá phân biệt của doanh nghiệp đợc thể hiện là với cùng một loại
sản phẩm nhng có nhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó đợc xác định theo
nhiều tiêu thức khác nhau :
Phân biệt theo lợng mua : Ngời mua nhiều phải đợc u đãi giá hơn so với ngời
mua ít.
Phân biệt theo chất lợng : Chất lợng loại 1, chất lợng loại 2,
Phân biệt theo hình thức thanh toán : Mức giá đối với ngời thanh toán ngay phải
đợc u đãi hơn so với ngời trả chậm.
Phân biệt theo thời gian mùa vụ : Giá của thời vụ này khác so với giá của thời vụ
kia, tuỳ thuộc vào tình hình biến động của thị trờng và thời điểm cụ thể.
- Với chính sách bán phá giá (giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trờng, thậm chí
còn thấp hơn giá thành) : Doanh nghiệp sử dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh đánh
bại đối thủ, loại đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trờng. Nhng bên cạnh vũ khí này,
doanh nghiệp phải có thế mạnh về tiềm lực tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ và
uy tín của sản phẩm trên thị trờng. Việc bán phá giá chỉ nên thực hiện trong một thời
gian nhất định và chỉ có thể loại bỏ một số đôí thủ nhỏ có khó khăn về tài chính và
các nguồn lực khác, chứ khó mà có thể đánh bại đợc những đối thủ lớn. Tuy nhiên
doanh nghiệp không nên bán phá giá với mục đích tiêu diệt đối thủ canh tranh .Có thể
hôm nay doanh nghiệp tiêu diệt đợc đối thủ của mình nhng không phải là vĩnh cửu.
Vì rất có thể một ngày mai, doanh nghiệp lại bị đối thủ khác tiêu diệt và cũng chính
bằng chính sách phá giá mà doanh nghiệp đã sử dụng.
c. Công cụ cạnh tranh là mạng lới tiêu thụ sản phẩm
Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là tập hợp các kênh đa sảnphẩm từ
nơi sản xuất của doanh nghiệp đến nơi tiêu thụ.
Kênh tiêu thụ của doanh nghiệp đợc hiểu là một tập hợp các tổ chức, các Công ty
hay cá nhân tự đảm nhận hay giúp đỡ doanh nghiệp chuyển giao quyền sở hữu đối
với một hàng hoá cụ thể (hay dịch vụ) trên con đờng từ nơi sản xuất của doanh
nghiệp đến ngời tiêu dùng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét