lãnh thực hiện hợp đồng…
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau một thời gian thoả thuận,
khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Cho thuê có hai hình
thức là cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính.
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho
khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập
của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
Phân loại theo tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có nguồn
thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất
(từ quá trình kinh doanh) không có hoặc không đủ.
Theo tài sản đảm bảo, tín dụng được chia thành tín dụng có và
không có tài sản đảm bảo.
Tín dụng có tài sản đảm bảo là việc ngân hàng cho khách hàng vay
vốn dựa trên cam kết người nhận tín dụng sẽ dùng tài sản đảm bảo để trả
nợ trong một số trường hợp.
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: có thể được cấp cho khách
hàng có uy tín, thường làm ăn thường xuyên có lãi hoặc các khoản vay
của các tổ chức lớn hay theo chỉ định của Chính phủ.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay
Cho vay sản xuất – lưu thồng hàng hoá: Là loại cho vay nhằm cung
cấp cho các doanh nghiệp,hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ và cá nhân để trực
tiếp tiến hành sản xuất hàng hoá và kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay hộ gia đình, cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, sửa chữa nhà và các tư liệu tiêu
dùng.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn được phân loại theo ngành kinh tế
5
(công, nông nghiệp…), theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản
cố định), theo tính chất rủi ro của khoản tín dụng (tín dụng lành mạnh,
tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó
đòi…).
Việc phân loại tín dụng cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh
lợi, gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo
đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp.
1.2.3 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, kinh
doanh một loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ. Vì thế, dù phát triển theo bất
kỳ hướng nào, ngân hàng cũng luôn phải đảm bảo tính an toàn và khả
năng sinh lợi. Và hoạt động tín dụng cũng phải dựa trên những nguyên
tắc nhất định để đảm bảo không gây ra rủi ro và đồng thời vẫn mang lại
lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng. Các nguyên tắc này được cụ thể hoá
trong các quy định của Nhà Nước, cũng như chính các NHTM.
Thứ nhất: Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn (gốc) lẫn lãi
cho ngân hàng trong thời gian xác định
Các tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền
gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Và ngân hàng
luôn phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi như đã
cam kết. Do vậy, ngân hàng cũng luôn yêu cầu các khách hàng nhận tín
dụng phải thực hiện đúng cam kết này. Vì đây là điều kiện để ngân hàng
có thể tồn tại và phát triển.
Thứ 2: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng đúng mục đích
được thoả thuận với ngân hàng, và phù hợp với quy định của pháp luật,
cũng như ngân hàng cấp trên.
Thông thường, hoạt động của ngân hàng đươc quy định trong luật
nhưng mỗi ngân hàng lại có quy định riêng. Mục đích sử dụng vốn được
6
ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho những
hoạt động trái pháp luật và phạm vi của ngân hàng. Nếu khách hàng sử
dụng vốn sai mục đích, khách hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước ngân hàng và luật pháp.
Thứ 3: ngân hàng tài trợ dựa trên phương án ( hoặc dự án) có hiệu
quả.
Bởi vì chỉ khi hoạt động sử dụng vốn vay ngân hàng mang lại lợi
nhuận thì khách hàng mới có khả năng hoàn trả vốn và lãi cho ngân
hàng. Trong trường hợp thấy phương án hoặc dự án đó có thể có rủi ro
cao, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có các hình thức đảm bảo tiền
vay.
1.2.4 Vai trò của tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Nói đến vai trò của tín dụng tức nói đến sự tác động của nó đối với
nên kinh tế. Tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế, thể hiện ở một số mặt chủ yếu:
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của phần lớn các ngân hàng thương
mại, thường chiếm tỷ trọng từ 60 – 70% lợi nhuận của ngân hàng. Do đó,
ngân hàng luôn tìm cách duy trì, mở rộng tín dụng thông qua việc đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn có tác
động đến những hoạt động kinh doanh khác hay uy tín nên ngân hàng
cũng phải quan tâm đến chất lượng tín dụng để tránh những ảnh hưởng
xấu. Như vậy, ngay đối với bản thân ngân hàng, tín dụng đã chiếm một
vai trò quan trọng, quyết định tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Tuy nhiên, đối với nền kinh tế, tín dụng ngân hàng lại thể hiện một vai
trò rõ nét hơn.
Thứ nhất, với chức năng là một công cụ tài trợ, tín dụng góp phần
đáp ứng các nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản xuất – kinh doanh.
Ở bất kỳ doanh nghiệp hay cá nhân nào thì vấn đề thừa thiếu vốn
7
luôn luôn xảy ra. Thông qua tín dụng góp phần giúp doanh nghiệp có thể
tạo nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh để quy trình sản xuất
được diễn ra một cách liên tục.
Thứ 2, góp phần ổn định nền kinh tế và bình ổn giá cả
Với chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đã
góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, nhất là
tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, qua đó làm giảm áp lực của lạm
phát, góp phần làm ổn đinh tiền tệ.
Mựat khác, do cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh… làm cho
sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá dịch vụ ngày càng
nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính vì thế mà tín
dụng góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước.
Thứ ba, tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm
và ổn định trật tự xã hội.
Tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng
hoá dịch vụ ngày càng gia tăng, thoả mãn nhu cầu đời sống cho người
lao động. Bên cạnh đó, do vốn tín dụng đã tạo ra khả năng trong việc
khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên,
lao động, về đất, rừng… do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động
của xã hội tạo ra nhiều lực lượng sản xuất mới thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng và phát triển.
Khi một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống người dân được ổn
định, ai cũng có cơm ăn áo mặc và có việc làm… đó là tiền đề quan
trọng trong việc ổn định trật tự xã hội.
Thứ tư, tín dụng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế
Có thể nói tín dụng có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển
các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế. Sự phát
8
triển của tín dụng không những ở phạm vi của một nước mà còn mở rộng
phạm vi quốc tế, qua đó nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn
nhau trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, làm cho các nước có
điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.
Khi mà tín dụng thực hiện được các vai trò trên thì lúc đó nền kinh
tế sẽ hoạt động tốt, đầu tư được mở rộng, kinh doanh ổn định và phát
triển, góp phần làm tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, từ
đó giải quyết công ăn việc làm và đời sống của người dân được nâng
cao.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng chiếm vai trò quan trọng đối với ngân
hàng cũng như đối với nền kinh tế. Để có thể phát huy được vai trò của
nó, ngân hàng càng ngày càng mở rộng nhiều loại hình tín dụng. Tuy
nhiên, để tránh các tác động xấu có thể xảy ra, ngân hàng cần xem xét,
đánh giá kỹ các rủi ro tiềm ẩn trước khi cấp tín dụng.
1.2 Rủi ro tín dụng và phân loại rủi ro tín dụng
Mọi hoạt động của từng cá nhân cũng như toàn xã hội đều hướng
tới một mục đích nào đó. Song có những trường hợp mục đích đó không
đạt được do trong quá trình hoạt động gặp phải rủi ro. Vậy rủi ro là gì?
Có rất nhiều khái niệm về rủi ro như “rủi ro là những bất trắc gây ra mất
mát thiêt hại”; “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện
một biến cố không mong đợi” Nhưng nói chung mọi ý kiến đều đi đến
khẳng định rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Rủi ro có thể
gặp bất cứ lúc nào ngoài ý muốn của con người trong mọi lĩnh vực của
đời sống nhất là lĩnh vực kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế rủi ro được coi là những tổn thất mà các
doanh nghiệp phải chấp nhận khi kinh doanh. Kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ – tín dụng ngân hàng cũng phải chấp nhận điều đó. Và thực tế đã
chứng minh rằng không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến
9
rủi ro lại lớn như kinh doanh tiền tệ.
Tóm lại: rủi ro là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của con
người. Trong kinh doanh rủi ro tồn tại khá phổ biến và rất phức tạp bởi
vì thực tiễn đã chứng minh rằng bất kì hoạt động kinh doanh nào đem lại
lợi nhuận đều có rủi ro, và rủi ro càng cao thì lợn nhuận ký vọng đạt
được càng lớn.
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt - tiền tệ, và
tài sản của ngân hàng chủ yếu là các động sản tài chính, do vậy, hoạt
động trong lĩnh vực ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro gây nên những
tổn thất không mong muốn. Những rủi ro chính mà các NHTM thường
phải đối mặt là:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro hối đoái
Rủi ro lãi suất
Rủi ro thanh khoản
Các rủi ro khác…
Trên thực tế, mỗi loại rủi ro này xảy ra có thể đưa tới một loại rủi ro
khác, và các loại rủi ro có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong hoạt
động kinh doanh NHTM.
1.2.1 Rủi ro tín dụng
Các NHTM luôn luôn tìm cực đại lợi nhuận thông qua việc tìm
kiếm những lợi tức cao nhất có thể có ở các khoản cho vay và đầu tư,
đồng thời cũng tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro trong các khoản tín
dụng đã cấp. Đối với hầu hết các NHTM, dư nợ thường chiếm 50-60%
tổng tài sản và có thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm từ 60-70% tổng
thu nhập của ngân hàng.
Do vậy, rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với hoạt động của
NHTM. Mà rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà
10
còn bao gồm cả ở các hoạt động mang tính chất tín dụng khác: bảo lãnh,
chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính.
Vậy, rủi ro tín dụng là gì?
Có rất nhiều cách để định nghĩa rủi ro tín dụng, và trong phạm vi
luận văn này, có thể định nghĩa: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn
thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do người đi vay không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này
có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc, lãi như cam kết
có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không được trả.
Thông thường, khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng
cố gắng phân tích, thẩm định các thông tin của người vay sao cho độ an
toàn là cao nhất. Và khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân
hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những
khoản vay đó luôn hàm chứa rủi ro bởi không phải bao giờ các quyết
định cũng là chính xác, một phần là do khách hàng, một phần do ngân
hàng. Vì thế, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng
là không thể tránh khỏi, và là tất yếu khách quan. Nhiều quan điểm nhất
trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, chỉ có thể hạn
chế, không thể loại trừ.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Để có thể dễ dàng hơn trong việc quản lý, đo lường và phòng ngừa,
các NHTM đều phân loại rủi ro tín dụng theo các tiêu thức khác nhau.
Theo cơ cấu các loại hình rủi ro: rủi ro tín dụng được chia thành rủi
ro theo các khoản cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
Theo nguồn gốc hình thành , rủi ro tín dụng được chia thành 3 loại:
+ Rủi ro từ phía người cho vay: là những rủi ro do chính sách của
ngân hàng; việc nghiên cứu và dự báo; theo dõi, xử lý rủi ro tín dụng;
cán bộ tín dụng; công tác kiểm tra, kiểm soát…
11
+ Rủi ro từ phía người vay: rủi ro đạo đức, rủi ro vì khả năng tài
chính yếu kém; biến động khả năng kinh doanh; vị trí của doanh nghiệp
thay đổi; mối quan hệ với đối tác…
+ Rủi ro từ nguyên nhân khác: vì khâu quản lý của ngân hàng
Nhà nước, chế độ chính sách, môi trường, biến động kinh tế…
1.2.3 Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng tại ngân hàng
1.2.3.1 Hệ số thu nợ
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự an toàn của
đồng vốn khi cho vay. Hệ số này biểu hiện mối quan hệ giữa doanh số
thu nợ và doanh số cho vay. Nghĩa là trên 100 đồng vốn mà ngân hàng
cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng được thu hồi lại. Hệ số này càng lớn thì
độ an toàn càng cao và công tác thu nợ đang có sự chuyển biến tốt, rủi ro
tín dụng thấp.
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ = * 100%
Doanh số cho vay
1.2.3.2 Vòng quay vốn tín dụng
Ở bất cứ doanh nghiệp nào, khi hoạt động kinh doanh đều tính đến
hiệu quả kinh tế. Điều đó được thể hiện qua vòng vay vốn tín dụng.
Vòng quay càng nhanh sẽ đủ chi phí bù đắp cho kỳ kinh doanh kế tiếp,
do đó hiệu quả sử dụng càng cao. Chỉ tiêu này được tính dựa trên tỷ lệ
giữa doanh số thu nợ và tổng dư nợ. Nó còn dùng để phản ánh hiệu suất
sử dụng vốn của ngân hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Tổng dư nợ
1.2.3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng.
12
Nợ quá hạn phát sinh khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ
hoàn trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn như trong hợp đồng tín dụng
cho ngân hàng.
Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Việc
phát sinh nợ quá hạn là điều khó có thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ quá
hạn phát sinh quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng
thanh toán của ngân hàng thương mại.
Nợ quá hạn có thể hiểu là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ
gốc và/hoặc lãi không được khách hàng trả đúng hạn như trên hợp đồng.
Nếu không được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc được gia hạn nợ thì số nợ
đến hạn phải chuyển sang nợ quá hạn, và khách hàng phải chịu lãi suất
nợ quá hạn.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = * 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Hệ số này phản ánh tình trạng nợ tại ngân hàng tốt hay xấu, công
tác tín dụng được quan tâm đến đâu và ngân hàng cần sử dụng những
biện pháp nào để giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn trong kinh doanh tiếp theo.
Mặt khác, hệ số này còn cho biết nguồn vốn của ngân hàng cho vay đến
các cá nhân, các tổ chức kinh tế có phát huy được hiệu quả không?
Người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn để đánh giá chất lượng
tín dụng. Do vậy việc xác lập một tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý là rất cần thiết,
theo tính toán hiện nay thì nợ quá hạn ở mức dưới 5% là có thể chấp
nhận được
Tỷ trọng nợ khó đòi
Nợ khó đòi
Tỷ trọng nợ khó đòi =
Nợ quá hạn
13
Các tỷ lệ này càng lớn thì mức độ rủi ro tín dụng càng cao, ngân
hàng có nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ nợ không thu hồi được,
thậm chí nếu nghiêm trọng có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực của phá
sản.
1.2.4 Tác động của rủi ro tín dụng
1.1.4.1 Tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động của NHTM
Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong
tổng tài sản nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ của danh mục cho vay có vấn đề là
đã ảnh hưởng lớn đến ngân hàng. Những tác động có thể xảy đến trong
hoạt động của các NHTM khi rủi ro tín dụng xảy ra là:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi có
một khoản nợ bị coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút
ngay, một phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong
khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, một phần do các chi phí quản
lý, giám sát phát sinh. Mặt khác, nếu các khoản nợ quá hạn trở thành nợ
khó đòi hoặc nợ mất vốn, thì việc xử lý tài sản đảm bảo cũng luôn gặp
rất nhiều khó khăn về pháp lý và định giá nên trường hợp ngân hàng có
thể thu hồi được nợ khi phát mại tài sản là rất khó xảy ra.
Thứ hai, rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân
hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không chỉ làm giảm thu nhập
của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả
năng thanh khoản của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng buộc phải vay trên
thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gửi dân
cư thường mất rất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài dẫn tới
việc người tiết kiệm rút tiền hàng loạt sẽ buộc ngân hàng phải đóng cửa
và tuyên bố phá sản.
Thứ ba, rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của
ngân hàng. Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét