5 Hình thức đầu t theo luật các nớc, thờng
là: 100% vốn nớc ngoài, liên
doanh, hợp đồng hợp tác
kinh doanh, BOT,BTO
chủ yếu là: vay thơng mại
chính thức, hỗ trợ phát triển
chính thức ODA (gồm viện trợ
cho không, vay u đãi chính thc
và không chính
thức)
Về mặt pháp lý, khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI đã trở nên phổ
biến và, nh
ở trên đã nói, đợc qui định trong các đạo luật của các nớc và thờng đợc nhìn
nhận dới góc độ của nớc nhận đầu t, nh: luật khuyến khích đầu t của Thái Lan
(đầu t nói chung), luật đầu t nớc ngoài của Liên bang Nga (đầu t nớc ngoài),
luật khuyến khích đầu t của Hàn Quốc (cho từng nghành), luật đầu t nớc
ngoài của Inđônễia, luật đầu t nớc ngoài cuẩ Việt Nam (đầu t trực tiếp)
Chẳng hạn nh: theo luật đầu t nớc ngoài của Inđônễia, FDI là nhằm mục đích
thực hiện kinh doanh tại Inđônễia, với điều kiện là ngời chủ sở hữu phải gánh
chịu mọi rủi ro đầu t; theo luật đầu t nớc ngoài của Liên bang Nga ngày
4/7/1991, đầu t nớc ngoài là tất cả những hình thức giá trị tài sản hay giá trị
tinh thần của nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào các đối tợng của hoạt động
SXKD và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận.
Đối với nớc xuất khẩu t bản, FDI đợc xem nh việc chuyển t bản ra nớc
ngoài nhằm thiết lập ở đó những hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Còn đối với nớc tiếp nhận đầu t, nó lại là việc tiếp nhận t bản của nớc ngoài
để cho phép chủ đầu t nớc ngoài tổ chức các hoạt động kinh doanh theo nhữn-
ớc ngoài hình thức mà pháp luật qui định,nhằm phục vụ mục tiêu lợi nhuận
hoặc/và mục tiêu KT-XH nhất định.
Nh vậy dù nhìn dới góc độ nào thì FDI cũng đều là hoạt động kinh doanh
dựa trên cơ sở di chuyển t bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân
và thể nhân thực hiện, theo những hình thức nhất định, trong đó chủ đầu t
FDI tham gia trực tiếp vào quá trình đầu t.
1.1.2 Khái niệm về FDI theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc ban hành lần đầu vào ngày
26/12/1987, sửa đổi vào năm 1990,1992; sau đó đợc thay bằng "luật đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam " ban hành ngày 12/11/1996, đã đợc các nhà đầu t thế giới
5
và khu vực đánh giá là một luật hấp dẫn, thông thoáng trong khu vực. Ngày
9/6/2000 luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam lại đợc sửa đổi, bổ sung lần thứ 4
"để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc ngoài , phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH,
phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của đất nớc."
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam 1996 qui định rõ: " đầu t nớc ngoài là
việc nhà đầu t nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản
nào để tiến hành đầu t theo qui định của luật này".
Theo điều 2 và điều 19 của luật này thì nhà đầu t nớc ngoài có thể đầu t tại
Việt Nam dới các hình thức sau: hợp tác trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh
doanh, các dự án BOT, BOT và BT. Đây là các hình thức mà các chủ đầu t n-
ớc ngoài trực tiếp tham gia vào việc quản lí và điêù hành hoạt động đầu t.
Nh vậy theo luật đầu t khái niệm đầu t nớc ngoài đợc hiểu nh sau:
- Là hình thức đầu t trực tiếp.
- Là việc bên ngoài trực tiếp đa vốn và tài sản khác vào đầu t tại Việt
Nam. Chủ đầu t nớc ngoài có thể là 1 tổ chức nhà nớc, tổ chức t nhân hay 1 tổ
chức quốc tế hoặc tự nhiên nhân nớc ngoài.
Vốn đầu t ở đây không chỉ bao gồm t bản mà còn bao gồm cả các bí quyết
kĩ thuật, qui trìng công nghệ, dịch vụ kĩ thuật (điều 7 luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam năm 1996). Qui định này là nhằm mục đích tranh thủ đợc vốn kĩ
thuật hiện đại, kinh nghiệm
và phơng pháp quản lí tiên tiến, đào tạo đội ngũ quản lí và công nhân có trình
dộ cao, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, đa Việt Nam hoà nhập với khu
vực và thế giới. Việc sử dụng vốn đầu t nớc ngoài vào 1 quốc gia thòng dẫn
đến việc thành lập ở nớc tiếp nhận đầu t 1 cơ sở sản xuất. Nhng theo luật Việt
Nam thì hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài không nhất thiết phải nh vậy mà
có thể tồn tại trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Nh vậy, qui định về FDI nh trên đã thể hiện đợc chủ trơng của nhà nớc
Việt Nam là mở rộng việc thu hút vốn đầu t cua các nớc trên thế giới nhằm
thúc đẩy sự phát triển nội sinh nền kinh tế đất nớc.
6
1.2 Vai trò của FDI
1.2.1 Vai trò của FDI đối với nớc nhận đầu t (là nớc đang phát triển )
Thực tiễn hoạt động đầu t quốc tế cũng nh ở Việt Nam cho thấy nguồn
FDI có vai trò hết sức quan trọng đối với nớc tiếp nhận đầu t mà chủ yếu là
các quốc gia đang phát triển nh Việt Nam.
Một đặc điểm phổ biến của các nớc đang phát triển là tỉ lệ tiết kiệm nội địa
thấp và thiếu ngoại tệ. Do vậy, các nớc này không thể chỉ trông chờ vào
nguồn vốn trong nớc để thực hiện CNH-HĐH mà buộc phải tìm kiếm sự bổ
sung từ bên ngoài. FDI chính là 1 nguồn bổ sung quan trọng. Hàng năm FDI
cung cấp 1 lợng vốn đáng kể cho các nớc đang phát triển , đặc biệt là các nớc
đang phát triển ở Châu á. Chẳng hạn nh: ở Trung Quốc, FDI đã cung cấp
trung bình 5,8 tỉ USD/năm kể từ năm 1979 đến năm 1994, tỉ trọng FDI và
tổng vốn đầu t trong nớc là khoảng 25%; ở Inđônêsia, sau khi ban hành luật
đầu t nớc ngoài vào năm 1967, FDI đã cung cấp 1 lợng vốn trong 27 năm
(1967-1994) trrung bình là 1,5 tỉ USD/ năm.
Mặt khác nh ở phần trên đã đề cập FDI là 1 hình thức đầu t thuộc kênh t
nhân, chủ đầu t tự quyết định đầu t và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
nên khi tiếp nhận nguồn vốn này các nớc sở tại không phải chịu gánh nặng
nợ nần kinh tế, hơn nữa cũng không phải chịu những ràng buộc chính trị.
Cũng vì lí do đó mà FDI còn là 1 hình thức đầu t có hiệu quả kinh tế cao,
bởi trớc khi đa ra quyết định đầu t thì hàng loạt các yếu tố liên quan đến tính
khả thi hay khả năng sinhlời đã đợc tính toán kĩ. Một khi dự án FDI đi vào
thực hiện, nó còn tạo ra sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp có FDI với doanh
nghiệp trong nớc, thúc đẩy tăng trởng và phát triển nội sinh nền kinh tế đất n-
ớc.
Ngoài ra các dự án FDI góp phần bổ sung quan trọngcho ngân sách của cá
quốc gia. Các nguồn thu này từ các lhoản cho thuê đất, mặt nớc, mặt biển; từ
các kloại thuế doanh thu, lợi tức, thuế xuất nhập khẩu. Tại Trung Quốc, các
dự án FDI đã đóng góp 11,2% tổng thu từ thuế năm 1995 và tỉ lệ này đang có
xu hớng gia tăng.
Một yếu tố quan trọng khác hấp dẫn các quốc gia đang phát triển là thông
qua FDI, các nớc này có thể tiếp nhận công nghệ tiên tiến, hiện đại. Điều này
rất quan trọng đối với việc hiện đại hoá công nghệ của đất nớc.
7
Thêm vào đó, Fdi góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều
việc làm mới cho các nớc nhận đầu t, nâng cao mức sống của ngời lao động.
Các dự án FDI có yêu cầu cao về chất lợng nguồn lao động do đó sự phát
triển FDI ở các nớc sở tại đã đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao trình độ
của ngời lao động. Mặt khác chính các chủ đầu t nớc ngoài thờng đã góp
phần tích cực bồi dỡng,đào tạo đội ngũ lao động nớc sở tại. đó chính là đội
ngũ nòng cốt trong việc học tập, tiếp thu kĩ thuật, công nghệ tiên tiến, năng
lực quản lí điều hành tiên tiến của nớc ngoài. Các dự án FDI cũng thu hút
một lực lợng lớn lao động , góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp . Hơn
nữa hình thức đầu t này còn giúp các doanh nghiệp địa phơng tiếp cận đợc
vào thị trờng thế giới thông qua liên doanh và mạng lới thị trờng rộng lớn của
họ.
Nh vậy, FDI có vai trò hết sức quan trọng dối với nớc tiếp nhận đầu t, đó
là góp phần giải quyết dợc những vấn đề quan trọng đối với tăng trởng kinh
tế nh nạn khan hiếm vốn( quan trọng nhất), lạc hậu về công nghệ, thiếu việc
làm, góp phần đa đất nớc thoát ra khỏi đói nghèo lạc hậu.
Tuy vậy không phải là FDI chỉ mang lại những tác động tích cực nh trên
mà có thể nó còn ảnh hởng tiêu cực đến nền kinh tế xã hội nớc nhân đầu t.
Một điều dễ dàng nhận thấy nhất là FDI thúc đẩy sự phát triển không đều
giữa thành thị và nông thôn, đẩy nhanh quá trình phân hoá giàu nghèo trong
xã hội. Thật vậy, phần lớn các dự án đầu t nớc ngoài đều tập trung ở khu vực
phát triển kinh tế thuận lợi, có điêù kiện SCHT tốt, thờng là thành thị. Thêm
vào đó công ty có vốn đầu t nớc ngoài chỉ tuyển dụng lao động có tay nghề
cao nên phần lớn lao động ở các nớc đang phát triển không tìm đợc việc làm
tại các công ty cóvốn đầu t nớc ngoài . do đó vấn đề giải quyết việc làm cũng
bị hạn chế rát nhiều.
Mặc dù FDI bổ sung vốn cho các nớc nhận đầu t nhng về lâu dài lại làm
giảm tỷ lệ tiết kiệm nội địa. Bởi vì các chủ đầu t nớc ngoài thờng có thế về
vốn , ccong nghệ và kinh nghiệm quản lí nên họ thờng tăng tỷ trọng vào các
nghành có tính cạnh tranh cao và dẫn tới độc quyền. điều này làm cho các
công ty địa phơng bị phá sản dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng chặt chẽ của
các chủ đầu t trong nớc vào các công ty nớc ngoài.
8
Hơn nữa, vấn đề chuyển giao công nghệ qua FDI cũng là một vấn đề nổi
cộm ở các nớc đang phát triển. Các công ty nớc ngoài thờng chuyển giao
những công nghệ-kỹ thuật lạc hậu hoặc máy móc thiết bị cũ váo nớc nhận đầu
t với giá cao hơn trên thị trờng quốc tế.Do đó, các nớc đang phát triển phải
hết sức tỉnh táo, tránh nguy cơ trở thành "bãi rác thải công nghiệp" của các n-
ớc phát triển.
Cuối cùng là vế phơng diện chính trị, FDI là một mối lo ngại đối với chính
phủ các nớc đang phát triển. Bởi vì trong thực tế nhiều công ty nớc ngoài,
đặc biệt là các công ty đa quốc gia có tiềm lực kinh tế lớn can thiệp mạnh vào
đờng lối phát triển của nớc sở tại dới nhiều hình thức nh hối lộ quan chức
hoặc thậm chí lật đỏ chính phủ nh trờng hợp điển hình ở Chi Lê những năm
70.
Tóm lại, bản chất của FDI là các hoạt động đầu t nớc ngoài trên cơ sở khai
thác các lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế nhằm tìm kiếm lợi
nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Do đó FDI là các hoạt động kinh tế và nó có
tác động nh con dao hai lỡi đối với nớc nhân đầu t. Nếu nớc chủ nhà có chính
sách thu hút và khai thác FDI một cách hợp lý sẽ phát huy đợc các mặt tích
cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực. Ngợc lại, FDI sẽ là nhân tố gây trở ngại cho
những chính phủ không làm chủ đợc đờng lối phát triển của mình.
1.1.2 Những đóng góp cụ thể của FDI đối với Việt Nam
Hoạt động FDI ngày càng đợc nhiều nớc thừa nhận là một nhân tố quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nớc. ở Việt Nam, kể từ khi luật đầu t n-
ớc ngoài đợc ban hành và thực hiện, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc
Đảng và nhà nớc ta khẩng định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN, góp phần thúc đẩy sự phát triển các
nguồn lực trong nớc. Ta xét đóng góp FDI đối với Việt Nam cụ thể trên một
số mặt sau:
a. Đóng góp đối với tổng vốn đầu t toàn xã hội
Cũng giống nh nhiều quốc gia đang phát triển khác, để đạt đợc tốc độ tăng
trởng cao và ổn định, Việt Nam cần phải có một khối lợng vốn rất lớn. Theo
tính toán của các nhà kinh tế,để đạt đợc tốc độ tăng trởng GDP từ 5-6%/năm
trong giai đoạn 2000-2001 thì cần khoảng 65-70 tỷ USD trong tổng vốn đầu t
xã hội. Dẫu rằng vốn trong nớc là chính, có vai trò quyết định song khả năng
9
huy đọng các nguồn vốn này rất khó khăn. Bởi vì, nguồn vốn ngân sách còn
hạn chế; nguồn vốn đầu t của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
cũng hạn chế do nhiều doanh nhgiệp đang bị thua lỗ, tích tuỹ thấp và cũng
đang trông đợi vào vốn ngân sách cấp (doanh nghiệp quốc doanh) hoặac vốn
đầu t nớc ngoài; nguồn vốn nhàn rỗi của dân c rất khó xác định vì tâm lý ngời
dân còn thiếu tin tởng vào hệ thống tài chính ngân hàng, thiên về đầu t tích
trữ vàng,đôla, bất động sản. Nh vậy để huy động đợc lợng vốn cần thiết, Việt
Nam cần phải chú trọng thu hút các nguồn vốn nớc ngoài.
Trong những năm vừa qua, các nguồn vốn nớc ngoài ở Việt Nam chủ yếu
gồm: FDI, ODA, tín dụng thơng mại và các khoản vay nợ nớc ngoài. Trong
số đó, nguồn FDI là quan trọng nhất, tạo ra một khu vực kinh tế có trình độ
thiết bị kỹ thuật công nghệ khá.
Tính đến tháng 12/2000, khu vực FDI đẫ cung cấp 17,6 tỷ USD cho đầu
phát triển xã hội , chiếm 47,6% vốn đăng ký(37 tỷ USD). Tỷ trọng vốn FDI
trên tổng vốn đầu xã hội tăng nhanh qua các năm, đạt mức bình quân từ
khoảng gần 20% tổng vốn đầu xã hội thời kỳ 1986-1994 lên khoảng 25,7%
thời kỳ 1995-2000 (bảng2).
Bảng 2: cơ cấu vốn đầu t toàn xã hội (%)
*: sơ bộ
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000
*
vốn nhà nớc 38,3 45,2 48,1 53,5 61,6 61,9
vốn ngoài
quốc doanh
29,4 26,2 20,6 21,3 20,2 19,5
vốn FDI 32,3 28,6 31,2 25,2 18,2 18,6
Tổng 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Theo tính toán từ số liệu của Niên giám thống kê 2000, NXB.TKê
Trong thời kỳ 1995-2000, tỷ trọng FDI/tổng vốn đầu xã hội đạt mức cao
nhất là 32,3% năm vào năm 1995, sau đó giảm liên tục đến mức thấp nhất là
18,2% vào năm 1999, riêng năm 2000 tỷ trọng này có nhỉnh hơn chút ít.
Tỷ trọng này giảm sút do nhiều nguyên nhân, trong đó có tác động quan
trọng từ bên ngoài là cuộc khủng hoảng tài chính châu á năm 1997. Tuy
vậy,FDI vẫn là một nguồn đầu t đáng kể cho phát triển kinh tế xã hội, góp
phần nâng cao đời sống xã hội.
10
b. Đóng góp FDI đối với GDP, tạo việc làm
Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP tăng liên tục qua các năm, đạt mức
thấp nhất là 2% vào năm 1992, cao nhất là 13,25% vào năm2000. Điều đáng
lu ý ở đây là mặc dù vốn thực hiện FDI giảm mạnh kể từ năm 1998 nhng mức
đóng góp của khu vực FDI vẫn tăng. điều đó chứng tỏ là hoạt động FDI đang
diễn ra ngày một hiệu quả hơn.
Thu ngân sách từ khu vực FDI cũng tăng liên tục, trừ năm 1999, chiếm
bình quân 6-7% tổng thu ngân sách( nếu tính cả dầu khí là gần 20%), đạt từ
128 triệu $ vào năm 1994 đến 317 triệu $ vào năm 1998, tăng gấp gần 2,5 lần
so với năm 1994. Điều này là phù hợp với mức đóng góp vào GDP ngày
càng tăng trên, tạo khả năng giảm mức bội chi, chủ động hơn trong cân đối
ngân sách (bảng 3).
Bảng 3: Đóng góp FDI đối với GDP, ngân sách, tạo việc làm
NS: ngân sách(triệu USD) VL: tạo việc làm(1000 ngời) *: sơ bộ
Năm '92 '93 '94 '95 '96 '97 '98 '99 2000
*
GDP 2% 3,6% 6,1% 6,3% 7,4% 9,07% 10,03% 12,24% 13,25%
NS 128 195 263 315 317 271
VL 250 270 296 300
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 và tạp chí thơng mại số 1 năm 2000
Các dự án FDI đi vào thực hiện cũng đã giải quyết đợc một phần nạn thất
nghiệp ở nớc ta: hàng năm, tạo việc làm thờng xuyên cho từ 2,5( năm 1997)
đến 3 vạn(năm 2000) lao động , cha kể hàng vạn lao động gián tiếp trong xây
dựng và dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và hình thành đội
ngũ công nhân lành nghề có tác phong lao động công nghiệp.
Tóm lại, cùng với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra ngày
càng sâu rộng, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã trở nên quen thuộc với
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài này
ngày càng chứng minh đợc tính u việt của mình so với các nguồn vốn đầu t n-
ớc ngoài khác nên nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển,
coi lầ chìa khoá cho tăng trởng.
Tại Việt Nam nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần giải quyết
đợc những vấn đề kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển triển các nguồn
lực trong nớc, thực hiện CNH-HĐH đất nớc.
11
Tuy nhiên nói nh vậy không có nghĩa là việc tiếp nhận FDI chỉ đồng
nghĩa với việc đón nhận những lợi ích mà rất có thể FDI lại là không tốt đối
với việc phát triển tổng thể KT-XH. Do vậy, các nớc cần có một chính sách
thu hút và sử dụng FDI hợp lý nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực của nó.
12
Chơng 2
Vài nét về thực trạng FDI tại Việt Nam
2.1 Thực trạng cấp giấy phép FDI tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình chung
Từ khi Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến năm 2000
Nhà nớc ta đã cấp giấy phép cho 3.170 dự án FDI với tổng số vốn đăng kí là
39.100 triệu USD. Tính bình quân mỗi năm chúng ta cấp giấy phép cho 240 dự
án với mức 3.007,75 triệu USD vốn đăng kí.
Bảng 4: Số dự án FDI đợc cấp giấy phép
(không kể các dự án của Vietsopetro)
Năm Số dự án
VĐK
Triệu USD
Quy mô
triệu USD/1 D.án
Chỉ số phát triển qua năm
%
1988 37 371,8 10,0486486
VĐK quy mô
1989 68 582,5 8,56617647 1.566702528 0.85247
1990 108 839,0 7.76851852 1.440343348 0.90688
1991 151 1322,3 8.75695364 1.576042908 1.12724
1992 197 2165,0 10.9898477 1.637298646 1.25499
1993 269 2900,0 10.7806691 1.339491917 0.98097
1994 343 3765,6 10.9784257 1.298482759 1.01834
1995 370 6530,8 17.6508108 1.734331846 1.60777
1996 325 8497,3 26.1455385 1.301111656 1.48127
1997 345 4649,1 13.4756522 0.547126734 0.51541
1998 275 3897,0 14.1709091 354.2727273 1.05159
1999 311 1568,0 5.04180064 0.40236079 0.35579
2000 371 2012,4 5.42425876 1.283418367 1.07586
Tổng 3170 39100,8 12.3346372
Nguồn : Niên giám thống kê 1998, 2000, NXB.Thống kê, Hà Nội
Bảng 1 cho thấy nhịp độ thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài có xu hớng tăng
nhanh từ 1988 đến 1995 cả về số dự án cũng nh vốn đăng kí. Riêng năm 1996
sở dĩ có lợng vốn đăng kí tăng vọt là do có 2 dự án đầu t vào lĩnh vực phát triển
đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đợc phê duyệt với quy mô dự án lớn (hơn
3 tỷ USD/2 dự án). Nh vậy, nếu xét trong suốt cả thời kì 1988-1999 thì năm
13
1995 có thẻ đợc xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của
Việt Nam (cả về số dự án, vốn đăng ký, cũng nhu quy mô dự án)
Từ năm 1997 đầu t trực tiếp nớc ngoài vao Việt Nam có biểu hiện suy
giảm, nhất là cho đến các năm 1998, 1999 thì xu hớng giảm đó càng rõ rệt
hơn: nếu so với năm 1997 số dự án đợc dyuệt của năm 1998 chỉ bằng 79,71%;
năm 1999 chỉ bằng 80,58%. Số liệu tơng ứng của vốn đăng ký là 83,83% và
33,01%.
Nếu theo số lợng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời kỳ
1988-1999 là 13,4 USD/1 dự án. So với một số nớc ở thời kỳ đầu thực hiện
chính sách thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài thì quy mô dự án đầu t vào nớc ta
bình quân ở thời kỳ này là không thấp. Nhng, vấn đề đáng quan tâm là quy mô
dự án theo vốn đăng kí bình quân của năm 1999 lại nhỏ đi một cách đột ngột
và ở mức thấp nhất từ trớc tới nay (5,52 triệu USD/1 dự án). Quy mô dự án theo
vốn đăng kí bình quân của năm 1999 chỉ bằng 41,19% quy mô bình quân của
thời kỳ 1988-1999, và chỉ bằng 31,27% quy mô dự án binh quân của năm của
năm cao nhất (năm 1995; ta không so sánh với năm 1996 vì năm này có 2 dự
án đặc biệt đã nêu trên).
2.1.2 Về các đối tác đợc cấp giấy phép đầu t
Tính đến hết năm 1999 đã có hơn 700 công ty thuộc 66 nớc và vùng lãnh
thổ (dới đây gọi là các nớc) có dự án đầu t trực tiếp tại Việt Nam. Trong số
này, có 13 nớc và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD mỗi n-
ớc. Và, chỉ với 13 nớc (bằng 19,7% số nớc ) đã chiếm tới 85,65% tổng số vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam (Xingapore: 15,9%; Đài Loan: 12,3%;
Hồng Kông: 9.8%; Nhật Bản: 9%; Hàn Quốc:8,5%; Pháp: 5,8%; Quần đảo
Vigin:4,7%; Nga: 4,1%; Mỹ:3,5%; Anh: 3,1%; Malaixia: 3%; Ôxtrâylia: 3%;
TháI Lan: 2,9%). Trong tổng số vốn đầu t của 13 nớc này thì có tới 71,66%
(22.742,57 triệu USD) là thuộc các nớc Châu á, điều này chứng tỏ môi trờng
đầu t của Việt Nam hiện đang thu hút đợc sự quan tâm của các nhà đầu t Châu
á. Và, trình độ, điều kiện, khả năng của các nhà đầu t Châu á cũng đang phù
hợp cới điều kiện, yêu cầu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua. Tuy
vậy, cho đến nay trong số các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam thì sự có mặt
của các nhà đầu t thuộc các tập đoàn lớn cha nhiều (mới có khoảng 50/500 tập
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét