5
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Từ lâu du lịch đã là hiện tượng kinh tế xã hội quan trọng với đời sống nhân loại.
Trong quá trình phát triển, hoàn thiện và tự làm mới mình của ngành du lịch bằng
nhiều chiến lược cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch thì
phát triển du lịch bền vững là một chiến lược không thể thiếu được và trở thành động
cơ đi du lịch lớn nhất hiện nay.
Nhạy bén trước tình hình phát triển của du lịch thế giới cộng với những ưu thế
lớn về tài nguyên du lịch sinh thái của mình du lịch Việt Nam đã đưa ra chiến lược
phát triển, chỉ rõ: Ưu tiên phát triển du lịch sinh thái nhằm tạo ra hình ảnh mới của du
lịch Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI. Do vậy nó đã thu hút được lượng
khách du lịch lớn và trở thành một nhân tố quan trọng trong việc phát triển du lịch của
cả nước nói chung và các địa phương nói riêng.
Xứ Quảng hội tụ đầy đủ cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có sức hấp
dẫn lớn, giá trị lớn. Phong Nha - Kẻ Bàng là một trong những nơi có nhiều tài nguyên
du lịch phong phú. Chính vì vậy tháng 7/2003 VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã được
UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí địa chất, địa mạo. Hiện
nay Chính phủ Việt Nam đang lập hồ sơ khoa học Di sản thiên nhiên thế giới Vườn
quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng để đệ trình UNESCO xem xét tiếp tục công nhận
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới về tiêu chí da
dạng sinh học.
Những tài nguyên này sẽ là tiền đề để xây dựng du lịch Quảng Bình trở thành
ngành mạnh có khả năng xuất khẩu tại chỗ đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của địa phương, nhưng tài
nguyên du lịch ở đây chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Với mong muốn vận
dụng khoa học địa lý, văn hóa du lịch để đánh giá tiềm năng du lịch và định hướng
khai thác tài nguyên du lịch theo quan điểm phát triển bền vững tại VQG Phong Nha -
6
Kẻ Bàng nên em đã chọn đề tài “Tiềm năng du lịch và giải pháp nhằm phát triển
du lịch bền vững tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp. Để góp phần nhỏ bé của mình thúc đẩy khai thác có hiệu quả tiềm
năng du lịch nơi đây, nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch Quảng Bình, đưa
Quảng Bình trở thành một trong các trọng điểm du lịch cả nước, tạo thế và lực đẩy
mạnh phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá nguồn tài nguyên du lịch phục vụ cho
việc phát triển du lịch bền vững tại VQG. Xác định hướng và đề xuất giải pháp khai
thác hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch nhằm phát huy hơn nữa tiềm năng
du lịch của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
2.2 Nhiệm vụ
- Trên cơ sở lý luận cơ bản về du lịch bền vững, khảo sát đánh giá, tiềm năng của
các tài nguyên du lịch ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Đưa ra các giải pháp để đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững.
3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các tiềm năng, thực trạng phát triển và giải pháp
phát triển du lịch bền vững tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
3.2 Lãnh thổ nghiên cứu
Trước khi trở thành một vườn quốc gia, khu vực này là một khu bảo tồn tự
nhiên. Khu bảo tồn Phong Nha Kẻ Bàng có diện tích 5.000 ha đã được Chính phủ Việt
Nam chính thức công bố ngày 9 tháng 8 năm 1986 và đã được mở rộng thành 41.132
ha vào năm 1991. Ngày 12 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết
định số 189/2001/QĐ-TTg chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng
thành vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Diện tích vùng lõi của VQG là 85.754 ha
và một vùng đệm rộng trên 200.000 ha. Chính vì vậy việc nghiên cứu phải căn cứ vào
7
các số liệu trước khi mở rộng và số liệu mới sau khi mở rộng diện tích VQG.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp và mô hình hóa
- Phương pháp xã hội học.
5. Những đóng góp của khóa luận
Thông qua những quan điểm về du lịch bền vững trong và ngoài nước vận dụng
vào thực tiễn việc đánh giá tiềm năng phát triển du lịch bền vững của VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng.
Từ thực tế bước đầu đánh giá các tiềm năng để phát triển du lịch bền vững, xác
định những điểm mạnh và hạn chế trong quá trình phát triển du lịch bền vững tại VQG
này.
Giải pháp thực hiện có hiệu quả việc phát triển du lịch bền vững tại đây.
6. Bố cục khóa luận
Gồm 4 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về du lịch và quan điểm phát triển du lịch bền
vững.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng hoạt động du lịch bền vững
ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Chương 3: Tiềm năng du lịch và thực trạng khai thác du lịch tại VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng.
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng.
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT
TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.2 Khái niệm và phân loại du lịch
1.1.1 Khái niệm du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại du lịch được ghi nhận như một sở thích, một
hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch trở thành một nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống văn hóa - xã hội của người dân. Du lịch được ví
như một ngành “công nghiệp không khói” và hiện nay ngành “công nghiệp” này chỉ
đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô. Đối với các nước đang phát triển, du lịch được
coi là cứu cánh để vực dậy kinh tế ốm yếu của quốc gia.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến không
chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa
thống nhất.
Tổ chức du lịch thế giới đã có định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng
hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành
trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường trú thường xuyên của
họ hay ngoài trời nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi
làm việc của họ”.
Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 đã đưa ra khái niệm về du lịch: “Du lịch là
các hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng
nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất
định”. (9[10])
9
Sau khi Luật du lịch được ban hành, du lịch Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn
và du lịch bền vững ngày càng được chú ý đến trong sự phát triển chung của hoạt
động du lịch nhằm nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch, đưa
ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
1.1.2 Tài nguyên du lịch (TNDL)
TNDL là loại tài nguyên có những đặc điểm giống những loại tài nguyên nói
chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành Du lịch.
TNDL theo Pirojnik: “TNDL là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và
những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh
thần con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch
hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để
trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”. (19[2]).
Nguyễn Minh Tuệ và nnk. cũng cho rằng: “TNDL là tổng thể tự nhiên và văn
hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí
tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được
sử dung cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. (19[2]).
Khoản 4 (Điều 4 chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “TNDL
là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động
sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp
ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch,
tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Như vậy, TNDL được xem như là tiền đề phát triển du lịch. TNDL càng phong
phú đặc sắc có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu
quả kinh doanh du lịch cao.
TNDL là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc vào nhiều điều kiện
kinh tế – xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị nên ngày càng được mở rộng. Do vậy
TNDL bao gồm cả TNDL đã, đang khai thác và TNDL chưa được khai thác.
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
10
Nếu được quy hoạch, bảo vệ khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phần lớn
các loại TNDL tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng
tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm.
Ví dụ: Tài nguyên nước, theo quy luật tuần hoàn nếu rừng được bảo vệ và khai
thác hợp lý, tài nguyên nước không bị ô nhiễm bởi các chất thải từ đời sống cũng như
sản xuất, tài nguyên nước được xếp vào loại tài nguyên vô tận.
Tài nguyên khí hậu cũng được xếp vào loại tài nguyên vô tận. Nhưng do các
chất thải từ hoạt động kinh tế trong đó có du lịch, việc bảo vệ không hợp lý, khai thác
rừng bừa bãi, diện tích rừng bị suy giảm có thể làm cho không khí bị ô nhiễm bởi bụi,
khí thải độc hại, tiếng ồn, nhiệt độ. Nhiệt độ của Trái Đất bị tăng lên do lượng khí thải
tăng lên và làm tăng hiệu ứng nhà kính đã làm cho khí hậu của toàn cầu thay đổi.
Tài nguyên sinh vật, nhất là trong các khu vực nhiệt đới và xích đạo có khả
năng tự phục hồi nhanh. Tuy nhiên chỉ trong điều kiện tài nguyên này được khai thác
và bảo vệ hợp lý, không vượt quá giới hạn sinh học, khả năng tái tạo của nó.
Tài nguyên địa hình, địa chất nếu được khai thác bảo tồn hợp lý, không phá vỡ
cảnh quan, loại tài nguyên này có thể khai thác được nhiều lần, thời gian làm cho
chúng tự thay đổi phải tính đến từ nghìn năm cho đến hàng triệu năm.
Hầu hết việc khai thác TNDL tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời
tiết, việc tổ chức các tour leo núi, tham quan các vùng núi hay đi nghỉ biển, tham quan
sông nước phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện thời tiết. Đặc biệt không thể tổ chức các
tuor du lịch sông nước vào mùa lũ, không thể tắm biển vào mùa rét. Vào mùa khô trữ
lượng nước của các thác nước, hồ nước, hệ thống sông cạn nước nên khó khăn cho
hoạt động du lịch thể thao nước và tham quan sông nước.
Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào điều kiện tự nhiên thường cách xa
các khu đông dân cư. Đặc điểm này có mặt gây tốn kém, khó khăn cho việc tổ chức
các hoạt động du lịch, mặt khác nó lại là nhân tố góp phần làm cho TNDL tự nhiên
hấp dẫn, được bảo tồn tốt hơn do ít chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động kinh tế
– xã hội. Ví dụ như một số VQG Ba Bể, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, Pù Mát, Vụ
Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Bạch Mã,… Các thác nước như: Thác Bạc (Tam Đảo),
11
Thác Bạc (Sa Pa); thác Bản Giốc (Cao Bằng); thác Ponggua Premn (Đà Lạt),…
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
TNDL nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên
nhiên và do chính con người. Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng
tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người. Vì vậy di tích lịch sử –
văn hóa khi bị bỏ hoang cũng bị xuống cấp nhanh chóng; những giá trị văn hóa phi vật
thể như những làn điệu dân ca, những vũ khúc, các lễ hội các nghề truyền thống,
phong tục, tập quán,… khi không được bảo tồn và phát huy có hiệu quả sẽ bị mai một
và biến mất. Do vậy, khi khai thác TNDL nhân văn cho mục đích phát triển du lịch
cần quan tâm đầu tư cho bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, khoa học và có hiệu quả.
Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến. Ở
đâu có con người, ở đó có tài nguyên nhân văn, trong đó có nhiều loại có sức hấp dẫn
với du khách, đã hoặc sẽ có thể sử dụng cho phát triển du lịch.
TNDL nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những giá trị đặc sắc
riêng. Do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội là những yếu tố nuôi dưỡng tạo
thành TNDL nhân văn ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia không giống nhau nên TNDL
nhân văn ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có những giá trị đặc sắc riêng. Do vậy trong
quá trình khai thác, bảo tồn TNDL nhân văn cần coi trọng việc bảo vệ, phát huy giá trị
độc đáo của tài nguyên.
TNDL nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đặc biệt tập trung ở
những khu đông dân cư. Bởi nó được sinh ra trong quá trình phát triển xã hội và là ấn
phẩm do con người sáng tạo ra. Khác với TNDL tự nhiên, việc khai thác phần lớn các
loại TNDL nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết gây nên
như mưa hay rét nên tính mùa vụ cũng ít hơn so với TNDL tự nhiên.
1.1.3 Phân loại du lịch
Ở Việt Nam, hoạt động du lịch có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau tùy
thuộc vào các tiêu chí và mục đích mà ta đưa ra. Các tiêu chí phổ biến hay được sử
dụng để phân loại du lịch là môi trường tài nguyên, mục đích chuyến đi và lãnh thổ
hoạt động. Ngoài ra, ta cũng có thể phân loại du lịch dựa vào đặc điểm địa lý của điểm
12
du lịch, phương tiện giao thông, loại hình lưu trú, lứa tuổi du khách, độ dài chuyến đi,
hình thức tổ chức hay phương thức hợp đồng. Hiện nay, đa số các chuyên gia về du
lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây:
Phân loại theo môi trƣờng tài nguyên:
Theo Pirojnik, du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tùy vào
môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là du lịch
văn hóa và du lịch thiên nhiên.
Người ta gọi là du lịch văn hóa khi hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi
trường nhân văn, hoặc hoạt động đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa
là do con người tạo ra. Theo quan điểm chung hiện nay thì toàn bộ những sản phẩm có
giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản
phẩm văn hóa.
Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn: các di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội,
nghề và làng nghề thủ công truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học,
các hoạt động văn hóa thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện.
Ngược lại, du lịch thiên nhiên diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về với thiên
nhiên của con người.
Du lịch thiên nhiên được coi là loại hình hoạt động du lịch đưa khách về với
những nơi có điều kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn…
Nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của họ.
Để có thể phát triển du lịch tự nhiên thì phải có tài nguyên du lịch tự nhiên. Các
tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình (Các vùng núi có phong cảnh đẹp, các
hang động, các bãi biển, các di tích tự nhiên), khí hậu (Khí hậu phù hợp với sức khỏe
của con người, phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng), Thủy văn (Bề mặt nước và các
bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng, suối nước nóng), sinh vật (Các VQG, các
khu bảo tồn thiên nhiên, các điểm tham quan sinh vật, một số hệ sinh thái đặc biệt).
Du lịch sinh thái:
Theo quan niệm chung trong các hội nghị quốc tế: Du lịch sinh thái là loại hình
13
du lịch dựa vào thiên nhiên hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền
vững về mặt sinh thái (các yếu tố tự nhiên còn hoang sơ, ít bị biến đổi) khách du lịch
được hướng dẫn để bảo vệ môi trường và tự nhiên từ đó giúp cho khách du lịch nâng
cao hiểu biết và được thưởng ngoạn những phong cảnh đẹp, giới sinh vật hoang dã
cũng như các giá trị văn hóa của địa phương từ đó sẽ làm thức dậy tình yêu, trách
nhiệm của khách du lịch với việc bảo tồn các giá trị văn hóa tự nhiên.
Theo định nghĩa trong hội thảo Quốc gia về du lịch sinh thái tháng 9/1999: Du
lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa gắn với việc
giáo dục môi trường và có sự đóng góp nỗ lực cho bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Phân loại theo mục đích chuyến đi:
- Thuần thúy du lịch : tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, khám phá, thể thao, lễ
hội…
-Mục đích kết hợp: tôn giáo, nghiên cứu, hội nghị, thể thao, chữa bệnh, thăm
thân, kinh doanh…
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động:
- Du lịch quốc tế:
Du lịch quốc tế đến là chuyến đi của người nước ngoài đến tham quan du lịch.
Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của người trong nước ra tham quan du lịch ở
nước ngoài
- Du lịch nội địa:
Du lịch nội địa được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi
du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ
bản không có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ.
- Du lịch quốc gia:
Du lịch quốc gia bao gồm toàn bộ hoạt động du lịch của một quốc gia từ việc
gửi khách ra nước ngoài đến việc phục vụ khách trong nước và ngoài nước tham quan.
Du lịch trong phạm vi nước mình.
1.2 Quan điểm phát triển du lịch bền vững
14
1.2.1 Khái niệm du lịch bền vững
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của toàn
nhân loại trong thế kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục
tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt
Nam trong hiện tại và tương lai. Vì vậy quan điểm phát triển du lịch cần được soi
sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch và
trong việc nghiên cứu tiến hành quy hoạch du lịch.
Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và phát triển (WCED): “Phát triển bền
vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. (8[1]).
Theo Khoản 21, Điều 4, Chương I – Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005): “Du
lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm
tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”.
1.2.2 Mục tiêu của phát triển bền vững
- Phát triển bền vững về kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, nên phát triển du
lịch bền vững cần phải bền vững về kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phí, phải đạt
được sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tối ưu hóa đóng góp của ngành
du lịch vào thu nhập quốc dân, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.
- Phát triển bền vững về môi trường: Phải sử dụng bảo vệ tài nguyên và môi
trường du lịch theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài
nguyên, nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du
khách vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.
- Phát triển bền vững về xã hội: Thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động
du lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa
phương, cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm
du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
Như vậy, các nhà quy hoạch trong quá trình quy hoạch du lịch cần xem xét đến
việc đáp ứng các mục tiêu phát triển du lịch bền vững của các lãnh thổ được quy
hoạch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét