Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán và khả năng xây dựng thị trường quyền chọn và
giao sau chứng khoán tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán
Việt Nam.


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT



CPH : Cổ phần hoá.
CQGS&QLTT : Cơ quan giám sát và quản lý thông tin.
CTCK : Công ty chứng khoán.
CTNY : Công ty niêm yết.
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước.
HĐGS : Hợp đồng giao sau.
HĐQC : Hợp đồng quyền chọn.
NĐT : Nhà đầu tư.
NĐTNN : Nhà đầu tư nước ngoài.
NĐTTN : Nhà đầu tư trong nước.
OTC : Thị trường phi tập trung.
SGD : Sàn giao dịch.
SGDCK TP.HCM : Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
TK : Tài khoản.
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn.
TTCK : Thị trường chứng khoán.
TTGDCK HN : Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội.
UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nước.
VN : Việt Nam.
WTO : Tổ chức thương mại thế giới.

DANH MỤC BẢNG BIỂU & HÌNH VẼ


Danh mục hình vẽ:
Hình 1 : Biểu đồ số tài khoản của nhà đầu tư trên sàn Hà Nội và
TP.HCM qua các năm. 14
Hình 2 : Chỉ số VN-Index qua các năm. 15
Hình 3 : Sơ đồ quy trình quản lý thông tin cho thị trường chứng khoán
Việt Nam Quy trình quản lý thông tin 38
Hình 4 : Quy trình giao dịch trên thị trường quyền chọn và giao sau tại
Việt Nam. 47

Danh mục bảng biểu:
Bảng 1 : Số lượng công ty niêm yết giao dịch và giá trị vốn hóa thị
trường trên sàn TP.HCM và sàn Hà Nội. 13
Bảng 2 : Số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư trên TTCK Việt
Nam (2000–2007). 14
Bảng 3 : Rủi ro thị trường tính trên VN-Index qua các năm. 16
Bảng 4 : Tỷ suất trung bình/năm và độ lệch chuẩn năm của các nước
(02/08/2000 – 01/04 /2008). 17



CHƯƠNG 1:
THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU - NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Lý thuyết quyền chọn và giao sau.
1.1.1. Khái niệm quyền chọn.
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho
người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó (tài
sản cơ sở) vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn.
Thời gian từ khi ký HĐQC đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn.
Mức giá áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện.
1.1.2. Phân loại quyền chọn.
1.1.2.1. Phân loại theo vị thế.
Quyền chọn mua ( Call Option): Là một quyền chọn để mua một tài sản (Chứng
Khoán) ở một mức giá cố định – giá thực hiện, trong một khoản thời gian nhất định hay
một thời điểm đã xác định trong tương lai.
Quyền chọn bán (Put Option): Là một quyền chọn để bán một tài sản (Chứng khoán) ở
một mức giá cố định, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời điểm đã xác định
trong tương lai.
1.1.2.2. Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn.
Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn có quyền thực hiện
quyền lựa chọn tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian thỏa thuận của hợp đồng.
 Mục đích chính của quyền chọn kiểu Mỹ là nhằm đầu cơ.
Quyền lựa chọn kiểu Châu Âu là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn chỉ có thể
thực hiện quyền lựa chọn tại một thời điểm xác định đã được thỏa thuận trong hợp đồng.
 Mục đích chính của quyền chọn kiểu Châu Âu là phòng ngừa rủi ro.
1.1.2.3. Phân loại theo tài sản cơ sở
Option chứng khoán
Quyền chọn đối với các chứng khoán riêng lẻ. Các quyền chọn này tồn tại đối với
hàng ngàn cổ phiếu riêng lẻ, mặc dù khối lượng giao dịch có thể thấp đối với quyền chọn
cổ phiếu nhất định. Ở Mỹ, quyền chọn đối với nhiều loại cổ phiếu được giao dịch trên
nhiều sàn giao dịch. Các tổ chức giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Mỹ gồm sàn giao
dịch quyền chọn Chicago, sở giao dịch chứng khoán Philadelphia, sở giao dịch chứng
khoán Mỹ và sở giao dịch Pacific. Quyền chọn giao dịch trên hơn 500 loại chứng khoán
khác nhau. Một hợp đồng có thể cho phép người sở hữu có quyền mua hay bán 100 cổ
phiếu với giá thực hiện xác định. Khối lượng hợp đồng này rất tiện lợi vì bản thân các cổ
phiếu thường được giao dịch theo lô 100 cổ phiếu.
Option chỉ số chứng khoán:
Ở hầu hết các quốc gia, tồn tại một quyền chọn mà tài sản cơ sở là chỉ số chứng khoán.
Các quyền chọn này cũng nằm trong số các quyền chọn được giao dịch sôi động nhất của
các quốc gia. Quyền chọn chỉ số phổ biến vì hai nguyên nhân.
- Chúng gần như được thiết kế để thanh toán bằng tiền mặt vào lúc đáo hạn, tạo điều
kiện cho nhà đầu tư kinh doanh quyền chọn mà không cần nhận và chuyển giao cổ phiếu.
- Vì chúng là quyền chọn đối với toàn bộ thị trường. Vì có quá nhiều loại cổ phiếu có
giao dịch quyền chọn, chỉ có một số ít các nhà đầu tư có thời gian để tận dụng các cơ hội
đó. Nhiều người khác thích phân tích toàn bộ thị trường hơn và sử dụng quyền chọn chỉ số
để kinh doanh dự trên dự đoán của mình.
1.1.3. Các chiến lược quyền chọn.
Trong một thị trường thuần nhất không có quyền chọn thì các chiến lược hiện hữu sẽ
rất hạn chế. Chẳng hạn, khi thị trường kỳ vọng giá sẽ tăng lên thì người ta sẽ mua cổ phiếu.
Còn nếu nó được kỳ vọng giảm xuống thì người ta sẽ bán cổ phiếu. Nhưng trong một thị
trường có quyền chọn thì nó sẽ làm cho các chiến lược trở nên phong phú hơn rất nhiều.
Chẳng hạn như, bằng các chiến lược kết hợp quyền chọn có thể tạo nên nhiều sản phẩm,
làm đa dạng hoá sản phẩm đầu tư, dẫn đến tăng tính lựa chọn hàng hoá cho thị trường. Cụ
thể, ta có thể xem qua một vài chiến lược cơ bản của quyền chọn như sau:
Bán quyền chọn bán
Người bán quyền chọn bán có trách nhiệm mua cổ phiếu của người mua quyền chọn
bán ở mức giá thực hiện. Người bán quyền chọn bán có lợi nhuận nếu giá cổ phiếu tăng và
vì vậy mà quyền chọn bán không được thực hiện trong trường hợp đó người bán giữ hoàn
toàn khoản phí.
Ngược lại nếu giá cổ phiếu giảm đến mức quyền chọn bán được thực hiện, người bán
quyền chọn bán bị buộc phải mua cổ phiếu với giá cao hơn giá trị của thị trường.
Mua quyền chọn bán
Mua quyền chọn bán là một chiến lược dành cho thị trường giá xuống. Mức lỗ tiềm
năng được giới hạn trong phí quyền chọn được chi trả, mức lợi nhuận tiềm năng lớn.
Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn thấp hơn giá thực hiện, quyền chọn bán là cao giá ITM
và sẽ được thực hiện.
Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, quyền chọn bán là kiệt
giá OTM hoặc ngang giá ATM.
Mua quyền chọn mua
Mua quyền chọn mua là một chiến lược tăng giá có mức lỗ có giới hạn (phí quyền
chọn) và có mức lợi nhuận tiềm năng không giới hạn.
Bán quyền chọn mua
Bán quyền chọn mua là một chiến lược kinh doanh giá xuống và mang lại lợi nhuận có
giới hạn chính là phí quyền chọn nhưng mức lỗ thì vô hạn.
Bán quyền chọn mua với giá thực hiện thấp hơn có mức lợi nhuận tối đa cáo hơn
nhưng mức lỗ do giá tăng cũng cao hơn.
Với giá cổ phiếu cho trước, vị thế bán quyền chọn mua được duy trì càng lâu, giá trị
thời gian càng mất dần và lợi nhuận càng lớn.
Hình a: giá lên,
người mua quyền chọn
mua lời tối đa bằng (S
T

– c – X), người bán
quyền chọn mua lỗ tối
đa bằng (X – c – S
T
).
Hình b: giá xuống,
người bán quyền chọn
mua lời tối đa bằng c,
người mua quyền chọn
mua lỗ tối đa bằng c.
Hình c: giá xuống,
người mua quyền chọn
bán lời tối đa bằng (X – p – S
T
), người bán quyền chọn bán lỗ tối đa bằng (S
T
– p – X).
Hình d: giá lên, người bán quyền chọn bán lời tối đa bằng p, người mua quyền chọn
bán lỗ tối đa bằng p.
Chú thích:
1. X : giá thực hiện quyền chọn.
2. S
T
: giá tài sản cơ sở vào thời điểm đáo hạn.
3. c : phí quyền chọn mua.
4. p : phí quyền chọn bán.
1.1.4. Khái niệm hợp đồng giao sau.
Hợp đồng giao sau hay là hợp đồng tương lai (future contract) trên TTCK là một thoả
thuận giữa hai bên để mua hay bán một số lượng chứng khoán (trái phiếu hoặc cổ phiếu)
nhất định tại một thời hạn xác định với mức giá xác định tại thời điểm thoả thuận giao
dịch. HĐGS là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa về tài sản cơ sở mua bán, số lượng các
đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán và kỳ hạn giao dịch.
1.2. Vai trò của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng giao sau đối với TTCK.
1.2.1. Quản trị rủi ro
Trong một thị trường ta biết rằng, các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro khác nhau. Một số
nhà đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro tốt hơn các nhà đầu tư khác. Tuy nhiên, tất cả các
nhà đầu tư đều muốn giữ cho khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận
được. Thị trường quyền chọn và giao sau cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép tránh rủi
ro và dịch chuyển rủi ro từ những người không thích rủi ro sang những người chấp nhận
rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận.
1.2.2. Công cụ đầu tư.
Đây là một vai trò hết sức quan trọng của hợp đồng quyền chọn và giao sau. Các nhà
đầu cơ sử dụng các HĐQC, HĐGS như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, Sở dĩ người đầu
cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia thị trường này là vì công cụ đòn bẩy tài chính
của nó.
Đối với HĐQC, ngoài lợi thế chỉ chịu một mức phí cụ thể trên hợp đồng, thì nhà đầu
cơ có quyền không thực hiện hợp đồng nếu biến động giá của tài sản cơ sở không theo như
những gì họ dự đoán.

1.2.3. Một công cụ dùng để đánh giá thị trường
Các thị trường quyền chọn và giao sau là nguồn thông tin rất quan trọng đối với giá cả.
Đặc biệt thị trường giao sau được xem như là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao
ngay của một tài sản. Như chúng ta thấy, do giá giao ngay chứa đựng cùng một loại thông
tin, như việc chiết tách thông tin đó từ thị trường giao ngay sẽ khó khăn hơn từ thị trường
giao sau. Hơn nữa, trong hầu hết các trường hợp, thị trường giao sau thường sôi động hơn,
và vì vậy, thông tin từ thị trường này thường được xem là đáng tin cậy hơn thông tin trên
thị trường giao ngay. Do đó, thị trường giao sau cung cấp những thông tin hiệu quả để hình
thành giá.
Còn thị trường quyền chọn tuy không trực tiếp phản ánh dự đoán về giá giao ngay
tương lai như HĐGS, nhưng nó phản ánh sự biến động giá của các loại chứng khoán cơ sở
hay nói cách khác, quyền chọn phản ánh độ rủi ro gắn liền với mỗi tài sản cơ sở.
1.2.4. Là động lực thúc đẩy TTCK phát triển
Quyền chọn và giao sau cổ phiếu vừa là công cụ bảo vệ lợi nhuận, và là công cụ giảm
thiểu rủi ro hữu hiệu và đồng thời là một loại hàng hóa có thể mua bán trên TTCK. Với ý
nghĩa là công cụ giảm thiểu rủi ro nên HĐQC và HĐGS tạo tâm lý an toàn hơn trong đầu
vào cổ phiếu, do đó thu hút được thêm nhiều người đầu tư còn e ngại về mức độ mạo hiểm,
rủi ro trên TTCK mạnh dạn tham gia thị trường.
Với vai trò là một hàng hóa trên TTCK quyền chọn và giao sau cổ phiếu mang đến
khát khao kiếm lợi nhuận nên khi hợp đồng được ứng dụng giao dịch, nhiều nhà đầu tư sẽ
tham gia thị trường để đầu cơ kiếm lời. Khi nhiều người đầu tư tham gia thị trường sẽ làm
cầu hàng hóa chứng khoán tăng. Điều này làm cho thị trường trở nên sôi động và cơ hội
phát triển, mở rộng thị trường là rất cao. Ngoài ra, thị trường giao dịch quyền chọn và giao
sau cho phép các nhà đầu tư đạt được tỷ suất lợi nhuận cao với chi phí bỏ ra ít hơn TTCK.
Vì vậy, chính điều này sẽ hấp dẫn nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. Từ đó, giúp hình thành các
quỹ đầu tư mạo hiểm, huy động thêm nhiều nguồn lực tài chính giúp thúc đẩy và phát triển
TTCK.
Thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn TTCK.
Tính thanh khoản cao hơn một phần là do mức vốn yêu cầu để tham gia vào thị trường
quyền chọn và giao sau là thấp hơn và điều này cũng cho phép các nhà đầu tư dể dàng
tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường làm thị trường thêm sôi động. Hơn nữa, các thị trường
quyền chọn và giao sau cho phép nhà đầu tư bán khống dễ dàng hơn.
1.2.5. Tác động gián tiếp đến các công ty niêm yết và nền kinh tế
Để quyền chọn hay giao sau một cổ phiếu một công ty được niêm yết thì công ty đó
phải đáp ứng được những điều kiện của UBCKNN đề ra như số lượng cổ phiếu đang lưu
hành, số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, số cổ đông nắm giữ cổ phiếu, giá
cổ phiếu… Hơn nữa, không một CTNY nào muốn quyền chọn bán (mua giao sau) cổ phiếu
công ty mình được mua bán liên tục bởi đó là dấu hiệu cho thấy thị trường dự đoán giá cổ
phiếu công ty sẽ đi xuống, và điều này cũng cho thấy uy tín của công ty trên thị trường
đang giảm dần. Như vậy, công ty có thể nhìn vào xu hướng giao chứng khoán phái sinh
trên thị trường mà nhận biết được sự đánh giá của thị trường đối với công ty mình, điều
này giúp công ty có những điều chỉnh kịp thời trong chiến lược kinh doanh để giữ uy tín
của công ty trên thị trường.
Như vậy, thông qua chứng khoán phái sinh giúp người đầu tư giám sát gián tiếp hoạt
động của các CTNY. Khi có thêm người giám sát, đòi hỏi CTNY phải nỗ lực hơn trong
hoạt động kinh doanh của mình.
1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau.
1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện.
TTCK muốn thu hút nhiều nhà đầu tư, trước hết phải tạo cho nhà đầu tư tâm lý được
kinh doanh một cách công bằng trên thị trường. TTCK ổn định và phát triển là thị trường ít
xãy ra gian lận, phạm pháp; mọi hành vi sai phạm phải xử lý nghiêm minh, chính xác. Thị
trường đó chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở có hệ thống pháp luật hoàn thiện.
Trên TTCK nhiều rủi ro, quyền chọn và giao sau có phương thức giao dịch khá đặc
biệt có sự tham gia của nhiều bên như: người mua, người bán, CTCK, CTNY, công ty
thanh toán, công ty lưu ký,…Do đó, luật pháp phải điều chỉnh mọi hành vi của các đối
tượng này để đảm bảo nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các bên tham gia. Như vậy, để
quyền chọn và giao sau được ứng dụng có hiệu quả cần phải có hệ thống văn bản pháp luật
điều chỉnh hoạt động của thị trường phái sinh chứng khoán, TTCK theo hướng bao quát,
toàn diện và phù hợp với thực tiễn thị trường.

1.3.2. Điều kiện về hàng hóa trên TTCK.
HĐQC và HĐGS chứng khoán được giao dịch dựa trên biến động của giá chứng
khoán. Do đó, muốn thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán hình thành và phát
triển thì thị trường TTCK phải phát triển đến một mức độ nhất định đảm bảo cả về số
lượng chứng cũng như chất lượng của chứng khoán. Nếu số lượng chứng khoán trên thị
trường càng lớn, chất lượng càng cao, biến động của chứng khoán càng lớn và mang tính
chất ngẫu nhiên thì nhu cầu về sản phẩm phái sinh cho chứng khoán càng nhiều.
1.3.3. Điều kiện về thông tin trên thị trường
Các giao dịch quyền chọn đều dựa trên sự biến động của giá chứng khoán cơ sở dựa
vào phản ứng của nhà đầu tư trên thị trường thông qua những thông tin nhận được. Do đó,
thông tin minh bạch là một điều kiện để người đầu tư có cơ sở rõ ràng và chính xác để thực
hiện các quyết định đầu tư của mình.
1.3.4. Điều kiện kỹ thuật.
Hoạt động của TTCK nói chung và quyền chọn nói riêng phải đòi hỏi một số yêu cầu
về kỹ thuật: kỹ thuật định giá; kỹ thuật chọn phương án đầu tư; kỹ thuật đặt, chuyển lệnh
mua và lệnh bán; kỹ thuật hoạch toán và chuyển quyền sở hữu; kỹ thuật lưu ký chứng
khoán; kỹ thuật lưu trữ lệnh;…Tất cả các kỹ thuật này phải có quy trình và hệ thống quản
lý hiện đại,…Chính vì vậy mà cần phải có hệ thống kỹ thuật hoàn thiện trước khi đưa vào
áp dụng các giao dịch này.
1.3.5. Điều kiện về con người.
Sản phẩm phái sinh cho chứng khoán là sản phẩm tài chính cao cấp, vì sự cao cấp đó
muốn thực hiện được cũng như tham được vào thị trường đòi hỏi nhà quản lý cũng như nhà
đầu tư ngoài việc nắm và vận dụng được kiến thức về tài chính phái sinh còn phải có một
vốn kiến thức nhất định về TTCK cũng như kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế
1.4. Thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán trên thế giới – bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
1.4.1. Không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng.
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Một cơ sở hạ tầng hiện đại và vững mạnh sẽ mở rộng quy mô các nhà đầu tư ra khỏi
phạm vi quốc gia, giúp tiết kiệm thời gian thực hiện lệnh,v.v. và do đó khuyến khích ngày
càng nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường. Thêm vào đó, việc nâng cao chất lượng dịch vụ
sẽ giữ chân được các khách hàng tiềm năng.
Chẳng hạn như CBOE không chỉ thành công trong việc không ngừng cải tiến các sản
phẩm của mình cũng như giảm phí cho khách hàng (năm 2006, tiết kiệm cho các khách
hàng và các thành viên khoảng 45,7 triệu USD so với 31,6 triệu năm 2005), mà còn có
những cải tiến trong kỹ thuật giao dịch, 96% các đơn đặt hàng của CBOE được thực hiện
trên bảng điện tử.
Riêng tại Châu Á, nổi bật là Hàn Quốc, với thị trường phái sinh chứng khoán năng
động nhất thế giới. Vào năm 2006, doanh thu trung bình hàng ngày của KOFEX là 194 tỷ
USD, tương đương với 27% giao dịch toàn cầu (và chiếm 78,1% tổng giao dịch toàn Châu
Á). Hàn Quốc là nước có tỷ lệ giao dịch quyền chọn chỉ số chứng khoán cao. Quy mô của
thị trường phái sinh chứng khoán Hàn Quốc khá lớn, điều này được giải thích bởi sự đầu tư
kỹ càng cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của sàn giao dịch tập trung và một nền tảng pháp lý
thuận lợi cũng như cơ cấu giám sát hợp lý. KOFEX cung cấp các sản phẩm phái sinh tương
đối đơn giản cho các nhà đầu tư cá nhân với chi phí giao dịch và yêu cầu ký quỹ thấp, các
giao dịch đều dựa trên Internet. Tại Singapore, vào tháng 8/2004, Sở giao dịch Singapore
đã giới thiệu phần mềm giao dịch phái sinh, SGX QUEST (phục vụ cho hệ thống quản lý
và yết giá giao dịch), nhằm tạo ra một hệ thống giao dịch tập trung cho TTCK và thị
trường phái sinh.
Sự phát triển của các thị trường phái sinh chứng khoán như Hàn Quốc, Ấn Độ và
Singapore ở Châu Á lại một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng vững
mạnh. Các quốc gia nêu trên đã có những nỗ lực trong việc xây dựng một hệ thống giao
dịch điện tử hiện đại, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia.
Phát triển nguồn nhân lực.
Đối với một thị trường cao cấp như thị trường phái sinh nói chung và nền kinh tế nói
riêng, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển. Nhận thức được điều này, các thị
trường phát triển trên thế giới đều là những thị trường có đội ngũ nhân lực có trình độ cao,
am hiểu thị trường với kiến thức chuyên môn vững chắc, có nhiều kinh nghiệm về thị
trường, với các viện đào tạo chuyên môn có uy tín.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét