Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

741 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

II. Phân loại chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1. Phân loại theo phạm vi điều chỉnh của chính sách:
1.1 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia
Đây là những qui định, chế độ do Nhà nước ban hành nhằm nâng cao năng lực về
mọi mặt kỹ năng, kiến thức và tinh thần và cơ cấu nguồn nhân lực để có thể tham gia
một cách có hiệu quả vào quá trinh phát triển quốc gia.
1.2 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi địa phương
Là những chính sách do cơ quản quản lý ở địa phương ban hành nhằm tổ chức,
thực hiện, quản lý việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương.
1.3 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi ngành
Là những chính sách do các Bộ ban hành nhằm tổ chức thực hiện và quản lý hoạt
động đào tạo nguồn nhân lực mà cụ thể là lực lượng lao động đang làm việc trong các
ngành cả về mặt số lượng và chất lượng để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của
ngành.
1.4 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi doanh nghiệp
Là những chính sách của doanh nghiệp nhằm tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức,
kỹ năng, trình độ chuyên môn lành nghề cho người lao động đang làm việc trong doanh
nghiệp để họ có thể làm việc có hiệu quả hơn trong công việc hiện tại cũng như chuẩn
bị những kiến thức kỹ năng cho những công việc ở vị trí cao hơn trong tương lai.
1.1 Phân loại theo đối tượng thụ hưởng chính sách
Cùng với việc ban hành những chính sách chung áp dụng cho toàn bộ nguồn nhân
lực, Nhà nước còn ban hành những chính sách riêng áp dụng đối với từng nhóm người
lao động tùy theo mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất nước trong từng thời kỳ. Trong thời
kỳ hiện này, nước ta ban hành những chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
cho nhưng nhóm đối tượng đặc thù sau:
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khu vực quản lý hành chính
Nhà nước.
5
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ
- Chính sách đào tạo và phát triển đội ngũ các doanh nhân
- Chính sách đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật trình độ cao
1.2 Phân loại theo qui trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.1 Chính sách thu hút trước khi đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đó là các chính sách nhằm tạo các điều kiện thuận lợi để thu hút, khuyến khích
mọi người tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nhằm nâng cao kiến thức, trình
độ chuyên môn lành nghề, kỹ năng. Các chính sách đó bao gồm chính sách về đa dạng
hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng được các yêu cầu của xã hội. Các Chính sách
ưu tiên đối với đối tượng chính sách, gia đình khó khăn như cộng điểm ưu tiên, miễn
giảm học phí tạo điều kiện cho họ được học tập. Ngoài ra còn có chế độ học bổng đối
với những học sinh đạt kết quả cao trong học tập nhằm khuyến khích động viên sinh
viên học tập. Còn có chính sách tổ chức quản lý quỹ tín dụng cho sinh viên…
3.2 Chính sách trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đây là các chính sách nhằm tổ chức, tiến hành và quản lý quá trình đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực bao gồm chính sách về kinh phí cho quá trình đào tạo và phát triển,
chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách về xây dựng đội ngũ cán bộ giảng
viên đủ về số lượng và cao về chất lượng, tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ
cán bộ giảng viển. chính sách về thiết kế nội dung và phương pháp dạy học.
3.3 Chính sách sau đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đây là những chính sách sắp xếp, bố trí, sử dụng những người đã được đào tạo
một cách hợp lý để có thể phát huy những kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn
lành nghề, năng lực của họ thực hiện công việc phù hợp với năng lực trình độ của họ.
6
III. Phân tích thực trạng chính sách đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực của Việt Nam.
1. Thực trạng chính sách thu hút đầu vào trước khi đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam.
1.1 Các chế độ chính sách ưu tiên về cộng điểm khi tuyển sinh cho thí sinh theo khu
vực.
Nước ta hiện nay là một nước đang phát triển nên nhiều vùng địa phương điều
kiện kinh tế chưa phát triển, cơ sở hạ tầng về giáo dục ở những vùng này còn rất thiếu
thốn, có những nơi học sinh phải đi từ sáng đến trưa mới đến được trường lớp. Đồng
thời do sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng. Có những vùng người dân phải lo
kiếm sống để đảm bảo cuộc sống nên không có điều kiện học tập. Do đó ở những vùng
đó điều kiện học tập không thể bằng những khu vực thành thị có điều kiện học tập tốt.
Chính vì vậy trong khi tuyển sinh Bộ giáo dục và đào tạo có chế độ ưu tiên về điểm cho
những thí sinh thuộc những vùng có điều kiện khó khăn để nhằm đảm bảo thực hiện
công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện cho các thí sinh ở khu vực khó khăn có cơ hội
học đại học.
Khi tuyển sinh vào đại học, các thí sinh được phân chia theo các khu vực 4 khu
vực:
“ Khu vực 1 (KV1) gồm các xã, thị trấn thuộc miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải
đảo, trong đó có các xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo
quy định của Chính phủ. Các thí sinh thuộc KV 1 được cộng 1,5 điểm xét tuyển.
- Những thí sinh thuộc khu vực 2 (KV2) gồm các thành phố trực thuộc tỉnh (không
trực thuộc Trung ương); các thị xã; các huyện ngoại thành của thành phố trực thuộc
Trung ương sẽ được ưu tiên cộng 0,5 điểm xét tuyển
- Các thí sinh thuộc khu vực 2 - nông thôn (KV2-NT) gồm các xã, thị trấn không
thuộc KV1, KV2, KV3 sẽ được cộng 1 điểm xét tuyển
- Khu vực 3 (KV3) gồm: Các quận nội thành của thành phố trực thuộc Trung
ương. Thí sinh thuộc KV3 không thuộc diện hưởng ưu tiên khu vực”.[11.8]
7
Dân số nước ta chủ yếu tập trung ở nông thôn, theo số liệu của Tổng cục thống kê
năm 2005 thì dân số ở khu vực nông thôn chiếm 73,03% tổng dân số cả nước, do đó
phần lớn dân số vẫn đang phải sống trong điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn
và thiếu thốn. Hàng năm về số lượng thí sinh dự thi đai học, cao đẳng thì số thí sinh
thuộc các khu vực được cộng điểm ưu tiên theo khu vực chiếm 82%[10.9] trong tổng số
thí sinh dự thi. Như vậy, nếu không còn chế độ ưu tiên khu vực đối với các đối tượng
nêu trên thì sẽ làm cho đa số thí sinh dự thi đại học, cao đẳng phải chịu thiệt thòi, cánh
cửa vào học các trường đại học và cao đẳng sẽ trở nên hẹp lại. Từ đó không có cơ hội
để nâng cao trình độ, kiến thức kỹ năng cho người lao động ở các khu vực kinh tế khó
khăn. Ví dụ như đợt tuyển sinh 2005, khoảng cách điểm chênh lệch giữa đối tượng
được ưu tiên cao nhất với đối tượng thuộc KV 3 là 3,5 điểm, nhờ vậy nhiều thí sinh ở
KV1, KV2, KV2-NT đã vượt qua được các thí sinh ở KV 3 để vào học các trường đại
học và cao đẳng.
Chính sách ưu tiên về cộng điểm khi tuyển sinh đại học cho các thí sinh ở các khu
vực khó khăn là một trong những chính sách cần thiết nhằm tạo điều kiện cho những thí
sinh ở các khu vực mà cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn có thể thi đỗ và theo học ở
các trường đại học, cao đẳng. Do vậy, qui chế tuyển sinh không thể bỏ đi đối tượng ưu
tiên này mà cần phải mở rộng đối tượng ưu tiên không chỉ có thí sinh thuộc vùng kinh tế
xã hội đặc biệt khó khăn mà cần có cả số thí sinh thuộc vùng kinh tế khó khăn.
1.2 Chính sách về miễn giảm học phí cho sinh viên thuộc đối tượng chính sách, gia
đình khó khăn.
Để nhằm giảm bớt khó khăn về mặt kinh tế, cũng như thể hiện sự biết biết ơn của
nhà nước đối với những người có công với cách mạng, hiện nay nhà nước ta có chính
sách miễn, giảm học phí cho sinh viên thuộc đối tượng chính sách, gia đình có công với
cách mạng, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn có để họ điều kiện theo học ở các trường
đại học và cao đẳng.
Chính sách miễn học phí là chính sách mà đối tượng của chính sách sẽ được miễn
phí tòan phần về học phí. Ở nước ta hiện nay chế độ miễn học phí toàn phần được áp
dụng anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang và thương binh khi theo học đại
học và cao đẳng. Con thương binh, bệnh binh, con người được hưởng diện chính sách
8
như thương binh bị mất sức lao động từ 61% đến 80% [9]. Các đối tượng này được áp
dụng mức miễn học phí toàn phần nhằm thế hiện sự quan tâm của nhà nước đến những
người có công với cách mạng. đồng thời cũng giảm bớt gánh nặng về vấn đề học phí
cho các đối tượng này khi phần lớn là có hoàn cảnh khó khăn.
Chế độ miễn học phí còn được áp dụng đối với các sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ
không có nơi nương tựa, những người bản thân bị thương tật, có khó khăn về kinh tế,
khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên và có xác nhận của hội đồng y khoa.
Những đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, hàng ngày họ phải làm
việc để có thể kiếm tiền nuôi sống bản thân, tiền để trang trải cho các sinh hoạt hàng
ngày như nơi ở, tiền ăn, tiền sách vở…Đối với các đối tượng này thì chính sách miễn
học phí thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với những hoàn cảnh khó khăn, nhằm góp
phần đảm bảo công bằng xã hội.
Đối tượng được hưởng chính sách miễn học phí còn gồm những sinh viên có cả
cha mẹ thường trú tại hải đảo hoặc vùng sâu, vùng cao từ 3 năm trở lên theo Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ. và gia đình thuộc diện nghèo đói có thu nhập bình quân đầu
người thường dưới 13 kg gạo. Đây là những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
sinh sống ở những nơi điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, cơ sở hạ tầng còn thiếu
thốn, đặc biệt là cơ sở hạ tầng về giáo dục còn rất thấp. Rất ít người ở đây được học tập
và có thể theo học đến các bậc học cao như đại học cao đẳng. Chính vì vậy khi có thể thi
đỗ vào các trường đại học và cao đẳng đã là một sự cố gắng rất lớn từ phía các sinh viên
này. Nếu như không có chế độ miễn học phí đối với các đối tượng này với mức tiền học
phí là 180000 đồng/sinh viên/ tháng như hiện nay và có thể tăng lên trong tương lai thì
chắc chắn những sinh viên này sẽ phải thôi học. Nhờ có chính sách này mà đã khuyến
khích được các đối tượng này cố gắng học tập, nâng cao trình độ để sau này có thể cải
thiện tình trạng khó khăn của gia đình.
Nhà nước còn có chế độ miễn học phí cho sinh viên hệ chính quy tập trung ngành
sư phạm khi vào học có cam kết sau khi tốt nghiệp phục vụ trong ngành Giáo dục đào
tạo nhằm thu hút, tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm sau khi ra trường sẽ phục vụ cho
ngành giáo dục, từng bước tăng số lượng giáo viên.
9
Bên cạnh chính sách miễn học phí, Nhà nước còn có chính sách giảm 50% học phí
cho các đối tượng sinh viên là con của thương binh; con của bệnh binh và người hưởng
chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 21 đến 60 %. Con cán bộ công nhân
viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp thường xuyên. Có gia
đình (gia đình, cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng) thuộc diện hộ nghèo theo qui định hiện
hành của nhà nước. Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng
quy đổi ra gạo: Dưới 25kg gạo ở thành thị; Dưới 20kg gạo ở nông thôn vùng đồng bằng
và trung du; Dưới 15kg gạo ở nông thôn miền núi.
Một thực trạng hiện nay đang gặp phải đối với việc thực hiện chế độ miễn giảm
học phí cho đối tượng chính sách, gia đình khó khăn đó là hiện này không có qui định
bắt buộc các trường ngoài công lập thực hiện miễn giảm như các trường công lập. Các
trường ngoài công lập không được nhà nước cấp ngân sách nên việc miễn giảm học phí
tùy thuộc vào khả năng của từng trường. Trong khi đó hàng năm có rất nhiều thí sinh
thuộc diện đối tượng chính sách dự thi đại học và cao đẳng nhưng không đỗ vào các
trường công lập mà theo học ở các trường ngoài công lập với mức học phí cao hơn rất
nhiều so với các trường công lập ( ví dụ như đại học dân lập Văn Lang mức cao nhất là
4.400.000 đ) dẫn đến tình trạng không ít sinh viên học trong tư thế cầm cự chờ đợi đợt
thi sau.
1.3 Chế độ trợ cấp xã hội
Ngoài chế độ về miễn giảm học phí cho đối tượng chính sách, nhà nước còn ban
hành chế độ trợ cấp cho các đối tượng sau:
- Sinh viên là người dân tộc ít người, liên tục ở vùng cao (KV3) hoặc có hộ khẩu
thường trú ở vùng cao (KV3) ít nhất lên 3 năm trở lên (tính đến thời điểm nhập học tại
trường); sinh viên lên người mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa, không có
người đỡ đầu chính thức, người trợ cấp thường xuyên.
- Sinh viên là gười tàn tật theo quy định của nhà nước lênngười gặp khó khăn về
kinh tế, khả năng lao động bị suy giảm từ 41% trở lên do tàn tật được Hội đồng Y khoa
có thẩm quyền xác định.
10
- Sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế, vượt khó học tập, gia đình
thuộc diện xóa đói giảm nghèo phải xuất trình giấy tờ thuộc hộ xóa đói giảm nghèo do
Sở LĐ - TB và XH cấp)
Theo chế độ này thì hàng tháng mối sinh viên sẽ được hưởng mức trợ cấp xã hội là
140.000 đồng. Chế độ này nhằm góp phần giảm phần nào khó khăn về mặt kinh tế, giúp
cho sinh viên có một khoản tiền để trang trải cho cuộc sống hàng ngày, để có thể có
điều kiện học tập.
Đồng thời để khuyến khích sinh viên học tập thì ngoài mức trợ cấp xã hội hàng
tháng những sinh viên thuộc diện trợ cấp xã hộ nếu kết quả học tập đạt từ loại khá trở
lên còn được nhận thêm phần thưởng khuyến khích học tập lấy từ kinh phí học bổng với
các mức là: bằng 140% mức học bổng khuyến khích toàn phần nếu đạt loại xuất sắc;
bằng 90% mức học bổng khuyến khích toàn phần nếu đạt loại giỏi và bằng 30% mức
học bổng khuyến khích toàn phần nếu đạt loại khá.
Như vậy, mục đích của chế độ trợ cấp xã hội là hỗ trợ phần nào về kinh tế cho
sinh viên có điều kiện khó khăn có thể theo học ở các bậc đại học và cao đẳng, tạo điều
kiện cho họ có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn.
1.4 Chính sách học bổng dành cho những sinh viên có kết quả học tập tốt.
Chính sách học bổng khuyến khích được cấp cho những sinh viên có kết quả học
tập và rèn luyện tốt để nhằm khuyến khích thúc đẩy, động viên sinh viên cố gắng phấn
đấu học tập. Hiện nay, học bổng khuyến khích học tập hiện có 3 mức và được áp dụng
cho 3 loại đối tượng đó là “mức 120.000đ/ tháng đối với sinh viên có kết quả học tập và
rèn luyện từ 7,0 đến cận 8,0; mức 180.000đ/tháng đối với loại giỏi từ 8,0 đến cận 9,0. và
mức 240.000đ/tháng đối với loại xuất sắc đạt điểm từ 9,0 trở lên”[10]
Hiện nay chế độ học bổng khuyến khích học tập của nước ta còn ít về số lượng chỉ
có 3 mức. Đồng thời giá trị của mức học bổng còn rất thấp chỉ đủ trang trải một phần
cho học phí, không có đủ để chi trả cho việc ăn ở, mua sách vở. Với mức học phí đại
học trong các trường công lập hiện nay là 180.000đ/ tháng như hiện nay thì chỉ có
những sinh viên đạt loại xuất sắc mới được hưởng mức học bổng cao hơn mức học phí
hàng năm, nhưng mức cao hơn này cũng chỉ rất nhỏ không đủ để trang trải bớt những
11
chi phí học tập cho sinh viên, mặt khác số lượng sinh viên đạt kết quả xuất sắc và được
hưỏng mức học bổng này thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số sinh viên được
hưởng loại học bổng này. Còn những sinh viên đạt loại khá và giỏi thì mức học bổng chỉ
vừa bằng mức học phí phải đóng hàng tháng hoặc ít hơn.
Một vấn đề nữa đối với chính sách này đó là học bổng hiện nay chủ yếu được cấp
dựa vào kết quả học tập của sinh viên. Do đó vấn đề đặt ra là những sinh viên con nhà
giàu thường có đủ điều kiện để học tập, nên kết quả học tập thường cao hơn những sinh
viên có điều kiện khó khăn ngoài thời gian học tập còn phải tham gia làm thêm nhiều
công việc để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và chi phí học tập cho nên điều kiện học
tập và kết quả học tập đạt được không thể bằng những sinh viên có điều kiện học tập.
Chính vì vây, các học bổng này thường do các sinh viên con nhà giàu có đủ điều kiện
học tập chiếm hết.
Hiện nay vẫn tồn tại tình trạng là những sinh viên giỏi công lập được Nhà nước
cấp học bổng, còn sinh viên giỏi trong các trường ngoài công lập lại không được trong
khi họ cũng học giỏi.
1.5 Thành lập quỹ tín dụng sinh viên nhằm hỗ trợ cho sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn vay vốn học tập.
Quỹ tín dụng sinh viên được thành lập năm 1995 theo chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên có điều kiện khó khăn được vay vốn học tập.
Hàng năm, nhiều trường đại học chứng nhận cho khoảng 5% sinh viên là sinh viên
nghèo vay vốn Nhà nước để đảm bảo điều kiện học tập. Nếu tất cả số sinh viên này
được vay với mức 3 triệu đồng/năm thì mỗi năm Nhà nước cần chi cho sinh viên vay
khoảng 100 tỷ đồng và sẽ tạo điều kiện học tập đến cho khoảng 40 nghìn sinh viên.
Tính đến tháng 5/2002 Quy đã cho 41.534 HS - SV/126.789 HS - SV trong diện
được vay vốn (trong tổng số 471.562 HS - SV trên toàn quốc) vay vốn để học tập.
Tuy nhiên nguồn hình thành quỹ là do các ngân hàng phải đóng góp theo chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ, nhưng do chỉ thị không bắt buộc, việc góp vốn hoàn toàn
mang tính tự nguyện vì đối tượng vay là sinh viên, lãi suất thấp, rủi ro cao và chủ yếu là
mang tính chất xã hội nên các ngân hàn không hào hứng tham gia. Chính vì vậy cho đến
12
hiện nay thì quỹ đã cạn kiệt và trong tình trạng chi vượt thu. Cụ thể là đến ngày
30/6/2002 tổng số vốn của quỹ là 65,5 tỷ dồng, trong khi số tiền cho vay là 76,6 tỷ đồng
và khoản tiền thu nợ là 6,5 tỷ đồng. Như vậy, quỹ tín dụng sinh viên đã phải cho vay
vượt quá nguồn vốn thực có là 4,6 tỷ đồng. Như vậy nêu trong thời gian tới, nhà nước
không có những biện pháp nhằm thu hút và bổ sung vốn cho quỹ thì sẽ có hàng chục
nghìn sinh viên đang theo học tại các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề trong cả nước có thể phải thôi học vì không có tiền để trang trải cho
chi phí học tập.
1.1 Thực trạng chính sách trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt
Nam.
1.2 Thực trạng chính sách về các nguồn kinh phí để tổ chức thực hiện quá trình đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực
Để tổ chức quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thì cần phải có kinh phí
để thực hiên. Hiện nay nguồn kinh phí này được huy động thông qua nguồn vốn ngân
sách do nhà nước cấp hàng năm, học phí do học sinh và gia đình học sinh đóng góp.
Hàng năm tỷ lệ % ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo liên tục tăng lên qua
các năm. Cụ thể là năm 2002 chiếm 12,04%; năm 2003 là 12,63%; năm 2004 là 17,1%,
năm 2005 là 18% và năm 2006 là 20%. Tuy tỷ lệ ngân sách nhà nước hàng năm cấp cho
giáo dục đào tạo có tăng nhưng với số lượng trường đại học cao đẳng ngày càng tăng
lên như hiện nay thì lượng vốn ngân sách nhà nước cấp cho mỗi trường hầu như tăng
không đáng kể, trong khi đó hầu hết số vốn ngân sách nhà nước này được dùng để chi
trả lương cho giáo viên khoảng 85% ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, nên phần đầu
tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trường lớp, nâng cao chất lượng đào tạo còn rất hạn chế.
Chính vì vậy các trường phải trông chờ nhiều vào nguồn thu học phí.
Tuy nhiên với mức học phí hiện nay mà mỗi sinh viên phải đóng là 1,8 triệu đồng/
năm là còn rất thấp so với mức chi phí đầu tư bình quân cho một sinh viên trường đại
học công lập là khoảng 9 triệu đồng / năm, phần còn lại là do Nhà nước bao cấp. Điều
này thực tế không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay.
Với mức đầu tư do ngân sách nhà nước cấp và mức thu từ học phí hiện này thì các
trường đại học vẫn luôn trong tình trạng thiếu kinh phí, và phải co kéo giữa cac khoản
13
thu chi để đủ được chi phí đào tạo. Chính vì vậy dẫn đến không có nguồn chi cho các
yêu cầu học tập, thí nghiệm và trả lương đầy đủ hoặc cao để thu hút cán bộ giảng dạy có
chất lượng. Do đó để có thể tăng nguồn kinh phí cho đào tạo thì một phương án đề ra và
đang được xem xét hiện nay là điều chình tăng học phí nhằm khai thác nguồn lực sẵn có
của người dân để đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo. Nhưng một vấn đề
đặt ra là nếu tăng học phí sẽ dẫn đến tình trạng rất nhiều sinh viên có điều kiện khó khăn
sẽ phải thôi học vì không có đủ khả năng tài chính để theo học.
Đồng thời ngân sách cho giáo dục đào tạo ( ở các trường đại học công lập hiện nay
vẫn theo cách cấp phát thường niên theo như dự tóan của các trường được tính dựa trên
cơ sở đầu vào hay chỉ tiêu đào tạo được giao hàng năm. Trong khi đó đầu vào lại do Bộ
chủ quản quyết định. Như vậy thực chất số lượng ngân sách cuối cùng vẫn do Bộ chủ
quản quyết định. Các đơn vị đào tạo đại học hàng năm lập dự toán như một cái máy mà
không có tính sáng tạo, tự chủ, tính tự quyết. Vì nếu có ý kiến khác thì sẽ chỉ gặp lôi
thôi trong duyệt dự toán mà điều này thì không có trường nào muốn. Do quy trình cấp
phát như trên nên các cơ sở đại học chỉ có khuynh hướng làm đúng theo hướng dẫn của
cấp trên và đơn vị quản lý tài chính để có được sự thuận lợi trong hoạt động đăng ký
ngân sách mỗi năm. Chính vì vậy để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục đào tạo cần có những biện pháp cải tiến về
phương thức cấp phát.
2.2 Số lượng các trường đại học và cao đẳng và sự mất cân đối về cơ cấu ngành
nghề đào tạo.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng tăng nên có rất nhiều trường đại học cao
đẳng được thành lập tăng nên với rất nhiều chuyên ngành mở ra. Theo số liệu điều tra
của Tổng cục thống kê thì năm 2004 cả nước có 230 trường đại học và cao đẳng, đến
năm 2005 đã tăng lên là 311 trường. Như vậy đã tăng lên 81 trường tương đương
35,22%. Đồng thời ngày càng có nhiều trường, các cơ sở đào tạo ngoài công lập khác
nhau được thành lập. Năm 2004 có 29 trường đại học và cao đẳng ngoài công lập chiếm
12,61% và năm 2005 thì con số này là 37 trường chiếm 11,89%.
Tuy nhiên, do sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các trường đại học và cao
đẳng, việc đưa các trường cao đẳng lên đại học và mở nhiều đại học dân lập trong khi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét