Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Giá trị thông báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời của người Việt


5
II. NỘI DUNG
1. Tổng quan về ngơn ngữ cử chỉ
1.1. Quan niệm về ngơn ngữ cử chỉ
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cử chỉ, điệu bộ của chúng ta đều mang
theo nó một vài nét của tâm lý cá nhân, đó là sự thể hiện ra bên ngồi những tình
cảm bên trong. Loại giao tiếp phi văn tự này có tên là “ngơn ngữ cơ thể” hay
“ngơn ngữ cử chỉ, điệu bộ” (gọi tắt là ngơn ngữ cử chỉ).
Qua các nghiên cứu của về loại ngơn ngữ cử chỉ này, các nhà tâm lý coi
cơ thể con người như là một “trạm thu phát thơng tin”, nó “phát đi” các động
tác, cử chỉ, nét mặt và các loaị ngơn ngữ vơ thanh khác, thường có tác dụng rất
lớn trong việc bổ sung ý nghĩa cho ngơn ngữ của âm thanh, hoặc bộc lộ rõ
những ý đồ giả tạo, khơng trung thực. Điều này cho chúng ta diễn đạt chính xác
và hồn chỉnh tư tưởng của mình, đồng thời hiểu rõ được người khác. Có nhà
nghiên cứu đã đánh giá một cách hình ảnh rằng: “Thân thể của con người là một
quyển sách của tâm hồn và quyển sách ấy đã lật ra, chỉ còn việc nhìn vào đấy”,
“Tiếng nói của thân thể bao giờ cũng là tiếng nói thật, dù cho người nào đó có
khéo léo che đậy sự thật bản chất của mình, thì trước sau người đó cũng bị lật
tẩy qua những trang sách thân thể của mình”( Nguyễn Văn Lê, [3], tr. 144, 145).
Trong tất cả các bài phát biểu và khoa học tâm lý, khái niệm mà người ta
thường được gán cho ngơn ngữ cử chỉ là những hành vi vơ thức của cơ thể, biểu
hiện một dạng thơng điệp. Mặc dù sự phân cách giữa hai loại: ngơn cử chỉ vơ
thức và có ý thức vẫn còn đang tranh cãi (Chẳng hạn, một nụ cười có thể tạo ra
một các có chủ định hoặc khơng).
Có thể hiểu một cách chung nhất, ngơn ngữ cử chỉ là sự pha trộn của các
cử chỉ, điệu bộ, động tác, tư thế, dáng điệu và ngữ điệu giọng nói. Đây là một
dạng giao tiếp sử dụng cử chỉ, điệu bộ của cơ thể để thay cho âm thanh, tiếng
nói và các dạng giao tiếp khác.
Ngơn ngữ cử chỉ là một bộ phận quan trọng của ngơn ngữ giao tiếp phi
lời, nó bao gồm ngơn ngữ của đầu, mặt , mày , chân, tay,…Và cũng có thể nói
hầu hết các bộ phận trên cơ thể chúng ta đều có khả năng truyền tải thơng tin.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
Trong giới hạn bài niên luận này, chúng tơi chỉ đi vào tìm hiểu giá trị
thơng báo của cử chỉ tay và nét mặt.
1.2. Cơ sở chung về ngơn ngữ cử chỉ
Vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, “Thuyết ngơn ngữ cử chỉ” trở nên thịnh
hành. Những người chủ trương thuyết này cho rằng ban đầu con người chưa có
ngơn ngữ thành tiếng, để giao tiếp với nhau, người ta dùng tư thế của thân thể và
của tay. Vuntơ (thế kỉ XIX) cho rằng điệu bộ về ngun tắc cũng giống như âm
thanh, dù là điệu bộ tay hay âm thanh cũng là động tác biểu hiện. Marr (Đầu thế
kỉ XX) khẳng định ngơn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1 triệu đến 1 triệu rưỡi năm
còn ngơn ngữ âm thanh chỉ tồn tại cách đây 5 vạn đến 50 vạn năm. Theo ơng,
ngơn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hố, có thể dùng
làm cơng cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc, với các bộ lạc
khác, có thể dùng làm cơng cụ phát triển khái nịêm của mình.
Phải đến thế kỉ XX giao tiếp phi ngơn ngữ mới được quan tâm một cách
thực sự. Giao tiếp phi ngơn ngữ là giao tiếp thơng qua các cử chỉ hoạt động của
cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ và khoảng cách giao tiếp. Có rất nhiều
học thuyết nghiên cứu về loại hình giao tiếp này nhưng nổi bật nhất vẫn là “Học
thuyết tâm lý tinh thần” và “Học thuyết hành vi cư xử”.
Trong “Học thuyết tâm lý tinh thần”, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng
con người dù ở bất cứ một nền văn hố nào cũng đều có sáu trạng thái tâm lý (
hạnh phúc, buồn khổ, giận giữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên ) và tất cả các trạng thái
tâm lý đó do sự chi phối của não tạo ra những thay đổi trên mặt nhưng theo hai
dạng là tự nhiên và xã giao có mục đích. Trong một thử nghiệm về ảnh hưởng
của não đến các nét mặt của con người, thực nghiệm đã cho thấy khi các nét mặt
bị tê liệt, người ta khơng thể cười có mục đích (như để tạo ra sự thân mật )
nhưng vẫn có thể cười một cách tự nhiên khi có điều làm họ bất ngờ. Và ngược
lại cũng có trường hợp, một người có thể cười một cách xã giao nhưng lại khơng
thể cười một cách thoải mái được. Tuy nhiên, học thuyết này lại lại nêu ra nhiều
điều tranh cãi. Ngơn ngữ cử chỉ là những từ ngữ được quy ước để chỉ các trạng
thái tâm lý, bản thân các trạng thái tâm lý này lại khơng được định nghĩa một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
cách rõ ràng, chính thức thơng qua bất cứ loại hình sách vở nào.
Trong “Học thuyết hành vi cư xử”, các nhà khoa học lại cho thấy khơng
có mối cảm xúc cơ bản cũng như khơng có biểu hiện cơ bản mà đơn giản chỉ là
các hành vi cư xử mang mục đích xã hội. Nét mặt chính là biểu hiện của những
việc chúng ta muốn làm hay có ý định làm. Có thể lấy ví dụ trạng thái tức giận
(như Học thuyết tâm lý tinh thần đã nêu ) chính là sự mơ tả về hành vi sẵn sàng
để tấn cơng đối thủ. Nhưng nói một cách khác, khơng phải lúc nào cử chỉ của
con người cúng mang thơng điệp hay chủ đích như vậy. Giả sử như chúng ta
ngáp, điều này lại khiến cho ban tổ chức nghĩ rằng chúng ta cảm thấy chán,
buồn ngủ với nội dung chương trình.
Có rất nhiều ý kiến cho rằng ngơn ngữ cơ thể bắt nguồn từ giao tiếp động
vật .Mối liên quan giữa ngơn ngữ cơ thể và sự giao tiếp của động vật đã được
bàn đến từ lâu. Ngơn ngữ cơ thể là sản phẩm của cả gen (Những đứa trẻ mù
cũng mỉm cười và cười to ngay cả khi chúng khơng bao giờ biết đến nụ cười )
và ảnh hưởng của mơi trường. Nhà phong tục học người Iran, Eibl-Eibesfeldt
khẳng định rằng một trong số yếu tố cơ bản của loại ngơn ngữ này là đặc điểm
chung của nền văn hố và vì thế gắn với những hành động bản năng. Một số
dạng ngơn ngữ cơ thể người có tính kế thừa từ cử chỉ giao tiếp của các lồi linh
trưởng khác, mặc dù thường mang những thay đổi về ý nghĩa. Nhiều cử chỉ tinh
tế hơn thay đổi theo các nền văn hố (chẳng hạn điệu bộ diễn tả “Có” hoặc
“Khơng” ) bắt buộc phải được học hoặc thay đổi trong q trình học hỏi, thường
do quan sát vơ thức từ mơi trường.
2. Hệ thống cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp ở người Việt
2.1. Phân loại
Trong giao tiếp, do bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý, dân tộc, xã hội nên
những biểu hiện cụ thể của cử chỉ, điệu bộ rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên có
thể quy lại và phân thành 4 loại chính:
1. Cử chỉ mơ phỏng
2. Cử chỉ tượng trưng
3. Cử chỉ thuyết minh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
4. Cử chỉ hàm chỉ
Đối tượng nghiên cứu của các nhà ngơn ngữ chỉ là cử chỉ thuyết minh và
cử chỉ hàm chỉ.
2.1.1. Cử chỉ thuyết minh
Là cử chỉ đi kèm với các hành vi lời nói biểu thị sự khẳng định, phủ định,
ngạc nhiên, nghi ngờ, giễu cợt… Loại cử chỉ này làm nên sức biểu hiện của nội
dung được thơng báo bằng lời. Tuy vậy, khi viết trên văn bản, nếu loại ra các
yếu tố cử chỉ, điệu bộ thuyết minh thì nội dung từng lời nói vẫn được đảm bảo,
sự nối kết vẫn được duy trì. Như vậy, loại cử chỉ thuyết minh này khơng có giá
trị liên kết lời nói mà chỉ có giá trị bổ sung, làm rõ ý nghĩa và sắc thái cho ngơn
từ.
VD: - (Xua tay). Khơng phải nói nữa, tơi biết hết rồi!
- (Bẻ đốt ngón tay). Em… em khơng biết ạ.
- (Lắc đầu). khơng, khơng phải nó.
- (Bĩu mơi). Gớm, tơi chả thiết
- ….
2.1.2. Cử chỉ hàm chỉ (cử chỉ thay lời)
Là cử chỉ có khả năng tồn tại độc lập trong giao tiếp và có giá trị tương
đương với một hành vi bằng lời.
Cử chỉ hàm chỉ bắt đầu từ cử chỉ kèm lời. Sau đó dẫn đến thiết lập một
mối quan hệ ổn định giữa hành vi lời nói và các kiểu cử chỉ đi kèm. Đến một lúc
nào đó, trong những tình huống cụ thể, người này chỉ cần thể hiện cử chỉ, điệu
bộ tương ứng đó là người kia hiểu được giá trị bằng lời
Trên cơ sở chức năng và hoạt động của loại cử chỉ này có thể chia làm ba
loại:
a, Loại cử chỉ biểu thị hành vi tiếp nhận giao tiếp
VD: Trong giờ học, An gọi Bình:
- Này Bình.
Bình ngồi bàn trên, quay đầu lại
An thì thầm:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
- Chiều nay học xong đi đá bóng nhé!
Cơ giáo nhắc:
- An!
An ngẩng đầu lên.

Ở các trường hợp loại trên, cử chỉ: quay đầu lại, ngẩng đầu lên, dừng
lại, nhìn, … đều là kết quả của một hành vi hơ gọi, kích thích ban đầu. Chúng
thể hiện rằng người nghe đã chuẩn bị một thế giao tiếp mới, sẵn sàng đón nhận
thơng tin mới. Có thể thể hiện hiển ngơn hố các cử chỉ trên bằng các phát ngơn:
“ gì thế ? ’’ , “ có chuyện gì đấy ? ’’, … Người phát tin hiểu được ý nghĩa của
các cử chỉ của người kia sẽ tiếp tục thực hiện hành vi nói của họ
b. Loại cử chỉ tương ứng với một hàm ý.
Trong giao tiếp, hàm ý là một hiện tượng thường gặp. Ở một số trường
hợp, cùng với tiền giả định, nó trở thành phương tiện liên kết hàm ngơn giữa các
lời nói. Tuy nhiên, do là phương tiện hàm ngơn nên nội dung của nó khơng phải
lúc nào cũng được hiển ngơn một cách đúng đắn, chính xác.
VD1 : A – Tối nay đi chơi nhé ?
B- Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi
Lời nói của B chứa hàm ý, muốn hiểu được A phải suy luận:
Sáng mai B phải nộp bài tiểu luận  B vẫn chưa làm xong  B khơng có
thời gian  B khơng thể đi chơi vào chiều nay được.
Tuy nhiên, nếu đi kèm với lời nói của B một cử chỉ thì q trình lý giải sẽ
đơn giản hơn:
A: Tối nay đi chơi nhé ?
B: ( Lắc đầu ) . Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi.
Ở ví dụ trên, cử chỉ của B mang thơng tin chính trả lời trực tiếp cho lời đề
nghị của A, còn lời nói thêm của B mang tính chất giải thích.
VD2: A : Dạo này cậu vẫn ăn cơm ở qn, khơng tự nấu à ?
B : ( Gật đầu ). Nhưng dạo này giá cơm tăng cao lắm, khơng như trước
đâu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Trong lời B, từ nối “ nhưng ’’ biểu đạt một quan hệ ngữ nghĩa hoặc với
một phát ngơn nào đó trước nó hoặc với một bộ phận trong cùng nột phát ngơn
nhưng bị tỉnh lược đi theo cấu trúc : “ Tuy … nhưng …” . Vế trước trong lời nói
của B khơng được hiển ngơn mà được thay thế bằng một cử chỉ có ý nghĩa
tương ứng ( “ gật đầu ” = “ ừ ” ).
Hiển ngơn cử chỉ câu trả lời của B sẽ là: “ Ừ.Nhưng dạo này giá cơm tăng
cao lắm, khơng như trước đâu ”.
Cử chỉ lúc này đóng vai trò quan trọng, đảm bảo sự tồn tại lời nói của B,
làm lời nói của B tương ứng với câu hỏi của A. Nếu bỏ các cử chỉ đi kèm thì
mối quan hệ giữa các lời nói sẽ trở nên rời rạc.
c. Loại cử chỉ tương ứng với một hành vi giao tiếp độc lập.
Các cử chỉ này tồn tại độc lập, hồn tồn giữ vai trò là một phản ứng,
khơng cần phải kèm thêm lời nói. Loại cử chỉ này được thể hiện cả trong hồn
cảnh giao tiếp đặc biệt cả trong hồn cảnh giao tiếp bình thường. Chúng thường
khơng có chức năng lên kết, ví dụ :
- Nó về chưa?
- (Lắc đầu)
Trong một số trường hợp, các cử chỉ điệu bộ này vừa tương ứng với một
hành vi giao tiếp độc lập vừa tồn tại như một yếu tố nối kết giữa hai lời nói của
cùng một chủ thể, ví dụ:
- Mày đi thăm lăng Bác chưa? Tao tưởng lên đây chúng mày phải đến đó
rồi chứ?
Lời nói thứ nhất là câu hỏi khi chưa biết người được hỏi đã đi thăm lăng
Bác chưa. Lời nói thứ hai “Tưởng A” với tiền giả định: A khơng đúng nên có
nghĩa là : “Bọn mày chưa đi lăng Bác”
Nếu tình huống này tồn tại cử chỉ điệu bộ (Lắc đầu) của người đối thoai
thay cho hành vi trả lời thì sự tồn tại của hai phát ngơn này phi logic.
Ngồi ra người ta còn có thể phân chia thành hai loại:
* Cử chỉ tán đồng: gật đầu, cười, vỗ tay, vỗ vai…
*Cử chỉ khơng tán đồng: lắc đầu, bĩu mơi, lè lưỡi…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
Tuy nhiên, cách phân chia này tỏ ra hạn chế trong những trường hợp mà
cùng một cử chỉ nhưng laị biểu lộ hai ý nghĩa trái ngược.
2.2. Bảng giá trị thơng báo của tay và nét mặt
Cho đến nay các nhà ngơn ngữ học chưa thống kê hết xem có bao nhiêu
cử chỉ ngơn ngữ trên thế giới cũng như chưa phân biệt được hết các ý nghĩa của
chúng, bởi lẽ, mỗi dân tộc, mỗi tộc người đều có một hệ thống ngơn ngữ cử chỉ
cùng ý nghĩa riêng của họ. Và ở Việt Nam cũng vậy, ngơn ngữ cử chỉ cũng rất
phong phú và đa dạng. Dưới đây, chúng tơi xin trình bày kết quả thống kê những
cử chỉ thường gặp ở tay và nét mặt trong giao tiếp của người Việt.
2.2.1. Giá trị thơng báo của tay

STT CỬ CHỈ CỦA TAY GIÁ TRỊ THƠNG BÁO
1 Phẩy tay
Sự việc nói đến qua nhỏ mọn khơng
đáng để ý hoặc buộc phải đồng ý.
2
Vẫy tay (các ngón hướng về
phía người nói)
“Lại đây!”
3
Vẫy tay (các ngón hướng ra
ngồi)
“Đi đi!”, khơng chấp nhận, muốn
tống khứ
4
Vẫy vẫy bằng một tay (tay
chuyển động nhẹ)
Dấu hiệu để người khác biết, để ý
(sang đường)
5 Hai tay vẫy cuống qt Mong muốn được để ý
6
Hất tay (đầu ngón tay hướng
lên trên, khép chặt, lòng bàn
tay hướng ra ngồi hất hất)
Thể hiện phá bỏ ý kiến của người
khác, tất cả vẫn như trước, bày tỏ sức
mạnh và sự kiên quyết.
7.
Chặt tay (bàn tay để thẳng, các
ngón tay khép chặt với nhau
như một chiếc búa đang chém
xuống)
Thể hiện sự quyết đốn, kiên quyết,
nhanh chóng gỡ rối mọi việc.
8 Lật tay (lòng bàn tay hướng -Tư thế nhắc nhở người nói cẩn thận,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
xuống dưới, ngón tay cái x
ra, các ngón còn lại hơi cong
cong)
cần kiềm chế tình cảm nhằm mục
đích khống chế cuộc nói chuyện.
-Tư thế phủ nhận, phản đối …
9
Ngửa tay (lòng bàn tay hướng
lên trên, ngón tay cái x ra,
các ngón còn lại hơi cong
cong)
- Khen ngợi, xin xỏ, khẩn cầu (giơ
tay cao)
- Động tác ăn xin thể hiện chân thành
lắng nghe ý kiến của mọi người,
giành được sử ủng hộ. (tay để ngang)
-Khơng biết phải làm sao (tay hạ
thấp).
10
Nắm tay (năm ngón khép chăt,
bàn tay nắm chắc)
-Thể hiện tình cảm bị kích động, uy
quyền, báo thù.
-Thể hiện thái độ kiên quyết, nguyện
vọng muốn thực hiện điều gì đó …
11 Hai tay nắm vào nhau Ý chí, niềm tin
12 Hai tay giang ra Thể hiện sự chào đón.
12 Hai tay đan vào nhau
-Thể hiện tinh thần lo lắng, sốt ruột.
-Thể hiện sự trịnh trọng hoặc muốn
điều khiển cuộc đàm phán
13
Các ngón tay chạm vào nhau
thành hình tháp
Thể hiện sự tự tin
14 Khoanh tay
-Thể hiện sự chào hỏi, thưa gửi (ở trẻ
em, nhất là ngày xưa)
-Trạng thái trầm tư, suy nghĩ
-Tư thế chờ đợi trong sự nhàn rỗi, sốt
ruột, bất lực
-Tư thế cơ lập, phòng ngự, khơng
hồ nhập hoặc khơng đồng tình
-Thách thức, đương đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
15 Bàn tay x năm ngón
-Người nói cảm thấy hồ nghi
-Thể hiện sự thẳng thắn, chân thành
16 Tay bắt chéo lên ngực Phản ánh sự tự vệ
17 Giơ tay Dấu hiệu xin phát biểu, đưa ra ý kiến
18 Lấy tay che miệng Ngượng ngùng e thẹn thiếu tự tin
19 Tay xoa cằm Thể hiện sự thơng minh lão luyện
20 Tay vò đầu
Lúng túng, bối rối, chưa đưa ra giải
pháp hoặc khơng có ý kiến
21 Vung nắm đấm lên Hăm họa
22 Vặn vẹo bàn tay Lúng túng, bối rối
23 Bẻ đốt ngón tay Lúng túng, bối rối
24 Vân vê gấu áo Lúng túng, bối rối
25 Gãi tai Lúng túng, bối rối
26
Vò nát hoặc xé nhỏ cái gì đó
trong tay
Lúng túng, bối rối
27
Đưa ngón tay trỏ thẳngn lên
mơi (thường kèm tiếng
“suỵt!”)
Ra hiệu bí mật khơng tiếp lộ
28 Giơ ngón tay trỏ
-Răn đe chỉ mặt vạch tội (động tác
mạnh, ngón tay căng)
-Hướng người nghe tập trung vào
điều mình đang nói, tách rõ ràng vấn
đề,ý tứ khúc triết hơn (tay lia theo
từng câu nói).
29 Vỗ vai Động viên, khích lệ
30 Vỗ lưng Động viên, khích lệ
31 Vỗ chán Suy nghĩ
32 Vỗ đầu Suy nghĩ
33 Đập tay xuống Tỏ ý chấm dứt, cắt ngang trước mơt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
vấn đề nào đó
34 Đứng chống tay vào hơng Đã sẵn sàng, thể hiện sự hung hăng
35 Tay tì vào má
-Đang nghĩ, ước lượng điều gì đó
-Thể hiện sự chán ngán
36 Sờ hoặc xoa nhẹ tay lên mũi
-Phản đối, nghi ngại, nối dối
-Khơng muốn đề cập đến chủ đề đó
nữa
37 Đấm vào lòng bàn tay
Biểu kộ cảm xúc vui, mừng rỡ khi
hồn thành một cơng việc nào đó
38 Xoa tay vào nhau
- Chuẩn bị làm việc gì đó
-Chứng tỏ biết cách giải quyết việc
gì đó.
39
Hai tay qng sau gáy(Hoặc
hai tay vòng ra sau đầu)
-Tự tạo cảm giác thoải mái khi mệt
mỏi.
-Tư thế suy nghĩ một điều gì đó.
-Phản ứng lại vấn đề đang bàn tới
40 Gõ tay vào cằm Người đó đang sắp sửa ra quyết định
41 Tay gõ gõ thành nhịp (trên mặt
bàn)
Sốt ruột, hết kiên nhẫn rồi.
42 Tay cầm điếu thuốc run run Căng thẳng, hưng phấn.
43 Vung tay (động tác mạnh)
Sự dứt khốt khơng chấp nhận,
khơng muốn.
44 Bắt tay
-Thể hiện sự chào đón trang trọng,
lịch sự,tình hữu nghị.
-Chúc mừng
-Tin tưởng, tin cậy đối tác.
45
Vơ tình phủi bụi trên quần áo
hoặc cậy móng tay…
Lơ đãng, khơng chú ý.
46 Cử chỉ đưa tay vẽ một mặt Dấu hiệu thẻ hiện sự kiên quyết, chắc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét