Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Theo một số tài liệu nghiên cứu( Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích
Hà) [1].Cây da có nguồn gốc ở châu Phi, ngời Ai Cập mô tả và sử dụng da hấu ít
nhất là 4000 năm. Nhà truyền giáo David Livingstone(1857) đã phát hiện thấy cả 2
loài da Melon đắng và ngọt hoang dại sinh trởng ở châu Phi. Ông để ý thấy ngời
địa phơng dùng chúng nh nguồn nớc trong mùa khô. Vì vậy châu Phi đợc xác định
là trung tâm nguồn gốc của da hấu. ở vùng cận nhiệt đới châu Phi vẫn còn những
vùng da hấu rộng lớn tồn tại cho tới ngày nay.
Tên da đã xuất hiện trong ngôn ngữ văn chơng của nhiều dân tộc trên thế giới nh:
ả rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha, .
Da đợc đa đến Trung quốc và miền Đông Liên Xô vào thế kỷ thứ 10 và đến
Anh vào năm 1600. Những đoàn khách lữ hành đã mang da đến các vùng ấm áp
của châu Phi. Các thơng gia châu Phi đã mang hạt da đến bán ở nhiều vùng của
châu Mỹ, những năm 1640 da đợc trồng rộng rãi ở Mỹ, giống tốt đã đợc sản xuất
tại Mỹ đó là Alabama sweet(1850),Peerless (1960) và 2 giống Phinney early và
Gerogia Rattlenake(1870),sau đó là giống Charleston Gray (1954) và Crim sweet,
Jubibe(1964),
ở nớc ta lịch sử trồng da đã có từ rất lâu và đợc trồng rộng rãi cho đến ngày nay.
Trong nhiều năm quả da vẫn đợc phân loại là Citrllus vulgaris schrrad.Nhng
đến năm 1963, thieret đã đặt tên chính xác là Citrullus lanatus(thunb.) Mansf.
Coginiaux và Harms (1923) đã trích dẫn tài liệu của Shimotsuma cho rằng có 4
loài Citrullus, Viz. C. vulgaris Schrrad. Bây giờ gọi là:
Citrllus lanatus (thunb.) Mansf
Citrllus colocynthis (L.) schrad
Citrllus ecirrhosus cogn. Và
Citrllus naudinianus (sond.) Hook.
Shimotsuma đã mô tả các loài đó nh sau:
- C.lanatus (thunb.) Mansf là cây hàng năm, nguồn gốc ở miền nam châu Phi. Loại
này đợc cung cấp rộng rãi ở Ai Cập và miền Nam, miền Tây và trung á. Lá lớn và
xanh, chia thùy sâu từ 3-5 cánh, đôi khi thùy đơn giản. Hoa trung bình, đơn tính
5
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
cùng gốc. Quả từ trung bình đến lớn,vỏ quả dày,thịt quả chắc có nhiều nớc. Màu
sắc thịt quả có thể đỏ, vàng, trắng.
- C. colocynthis là cây lu niên, có nguồn gốc ở Bắc Phi, loài này khác với C.
vulgaris chủ yếu hình thái các bộ phận trên cây. Lá nhỏ, thùy lá hẹp, lông phủ trên
thân lá màu xám. Hoa đơn tính cùng gốc.Hạt nhỏ, màu hạt nâu.
- C. naudinianus và C. ecirrhosus cogn. Cả 2 đều có nguồn gốc ở vùng sa mạc
Nam Phi và Tây Phi. Đặc điểm sinh trởng dinh dỡng của C. naudinianus khác với
các loài trên ở lá hình chân vịt, xẻ thùy sâu, phủ đầy lông. Tua cuốn đơn giản, kéo
dài hoặc mảnh mai
Hoa đơn tính cùng gốc, ra hoa ở năm thứ 2.
Tất cả 4 loài có thể thụ phấn chéo lẫn với nhau.hạt nảy mầm tốt,F1 sinh trởng tốt.
[1]
2.1.2. Kỹ thuật canh tác
2.1.2.1. Thời vụ trồng. Thích hợp nhất là vụ Đông Xuân và Xuân Hè
2.1.2.2. Chuẩn bị đất trồng.
Đất trồng cần thoát nớc tốt, tới nớc thuận lợi, có tầng đất mặt dày, loại đất cát hoặc
cát pha có chứa nhiều chất hữu cơ. Đất có độ PH: 6 - 6,8 là thích hợp nhất. Đất
trồng da trớc đó phải luân canh với lúa nớc hoặc đậu, bắp ( không luân canh với họ
bầu bí nh: da leo, khổ qua, bầu bí ) Đất phải cày bừa tơi xốp bón vôi 100% cả vụ
bào 10 - 15 ngày trớc khi bón lót. Lợng vôi: nhìn chung đất miền trung thờng chua,
nên bón 30 - 40 kg/sào (500m
2
). Bón lót: 100%phân chuồng + 100% lân hữu cơ
sinh học Sông Gianh + 40 - 50% lợng phân hoá học cho cả vụ + Nitrat Canxi 5 - 6
kg lên luống rộng 0.6 - 0.8 m, cao 30 - 40 cm, khoảng cách giữa hai rãnh là 4,5 -
5m, rãnh rộng 0,4 - 0,5 m. Trải bạt Plastic lên luống ( cuộn bạt dài 400m x 1,2 -
1,4m dùng cho 1000m
2
) nhằm giảm bốc thoát nớc hạn chế cỏ dại và sâu bệnh, tăng
hiệu quả sử dụng phân bón. Đục lỗ bạt nhựa đờng kính 7 - 8 cm, ở vị trí cao 2/3 so
với chiều cao của luống. Cây x cây 45 - 50 cm.
2.1.2.3. Chuẩn bị hạt giống và cây con
Để trồng 500 m
2
cần khoảng 20g hạt giống
6
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
a. Xử lý ngâm ủ hạt giống: Ngâm hạt giống trong dung dịch thuốc ViBen-C hoặc
Topsin M. Pha thuốc trong nớc theo tỷ lệ 1/1000 ( 1gr/1 lít nớc), thời gian 15-30
phút. Vớt hạt ra, rửa sạch cho hấp thụ nhiệt cho đến vừa ẩm. Ngâm trong nớc ấm
34-35
0
C ( tỉ lệ 2 sôi, 3 lạnh ) 4-6 giờ. Vớt hạt ra, rửa cho sạch cho hết nhớt. Bọc
vào khăn ẩm, sạch gói lại, cho vào bao nilon ủ hơi ấm ( nhiệt độ thích hợp 28-
30
0
C) trong 24-36 giờ ( nếu không đủ ẩm và ấm hạt có thể nhú sau 36-48 giờ )
b. Gieo hạt
- Gieo vào bầu: có thể làm bằng lá chuối hoặc lá dừa có đờng kính 5-7 cm chiều
cao 8-10 cm. Nếu dùng bao nilon phải khoét lỗ tránh đọng nớc. Dùng đất vào bầu
đợc trộn giữa: Đất-tro trấu-phân chuồng hoai mục-lân ( Super) theo tỷ lệ 3-1-1-0,5.
Không dùng tro mới. Đặt hạt nằm ngang hoặc nằm nghiêng một góc 45
0
, sâu 1 cm
( chú ý phần nhú mầm quay xuống đất). Khi cây có 1 - 2 lá nhám ( khoảng 6-8
ngày sau gieo) đem trồng ngoài đồng.
- Gieo thẳng: khi có điều kiện thời tiết, độ ẩm thuận lợi, đất bằng phẳng tơi xốp thì
có thể gieo hạt đã nảy mầm lên luống trồng. Dù gieo bầu hay gieo thẳng cũng phải
dự phòng 10 - 15% cây con trong bầu để dặm
2.1.2.4. Phân bón: Lợng phân bón tuỳ thuộc vào độ màu mỡ của đất. Đất cát, đất
bạc màu nghèo dinh dỡng lợng phân bón phải nhiều hơn. Lợng phân bón 500 m
2
nh sau: (tham khảo)
- Phân chuồng hoai mục: 500 - 1000 kg + Lân hữu cơ sinh học: 40 - 60 kg + Bao
hạt vàng: 10 - 15 kg + NPK: 28 - 30 kg + Urê : 5 - 6 kg + kali: 5 kg-Bón lót: 100%
phân chuồng + 40 - 60 kg HCSH + 20 kg NPK 12:11:18 ( phân xanh Đức ) + kg
bao hạt vàng.
+ Thúc lần 1 ( khi da bò ngọn 20 - 30 cm): 8 -10 kg NPK 12:11:18 ( phân xanh
Đức) + 1,5 - 2 kg Kali + 5 kg bao hạt vàng.
+ Thúc lần 2 ( sau khi thụ phấn 7 - 10 ngày): 2,5-3 kg Urê + 2 kg Kali
+ Thúc lần 3 ( sau khi thúc lần 2: 4 - 5 ngày): 2,5 kg Urê + 1-1,5 kg Kali
Tuỳ theo tính chất đất đai của từng vùng mà điều chỉnh lợng phân bón
cho phù hợp.
7
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Sau khi trồng lúc cây còn nhỏ, tuỳ theo tình hình sinh trởng của cây có
thể ngâm DAP ( 18 - 46 ) pha loãng tới để thúc đẩy sinh trởng của cây.
Ngoài những lần bón thúc chính thức nên phối hợp phân bón lá phun 7 -
10 ngày/lần. Bắt đầu phun khi cây có 4 - 5 lá thật và ngừng phun trớc khi thu
hoạch từ 10 - 15 ngày.
2.1.2.5. Tới nớc: Da chịu hạn, sợ úng, tuy vậy trồng da phải tới nớc, việc tiết nớc
rất ảnh hởng đến sự sinh trởng của cây và chất lợng quả. ở giai đoạn cây cần nhiều
nớc nhất là lúc ra hoa, kết trái, nuôi trái nên tới đủ nớc ( dùng phơng pháp tới thấm
). Đối với những giống da vỏ trái có dạng lới, chờ khi vỏ trái xuất hiện vân lới ( sau
khi đậu trái khoảng 20 ngày ) thì phải giữ cho mặt đất khô ráo để tránh cho trái bị
thối hoặc bị nứt. Thời gian trái chín cũng phải giữ cho đất khô ráo, nh vậy trái mới
đạt chất lợng tốt.
2.1.2.6. Tỉa nhánh, thụ phấn, chọn trái: Bấm ngọn lần đầu tiên lúc cây con vừa
chồi ra ở nách lá từ lá thứ 1 đến lá thứ 5 trên nhánh con. Nhánh từ nách lá thứ 6-9
bắt đầu để trái, mỗi nhánh chỉ để 1 trái. Nhánh cháu ssau khi đậu trái chừa 1 lá
bấm ngọn nhánh. Mỗi nhánh con chỉ để nuôi 1 trái. Thụ phấn bổ sung: Trong thời
gian chọn trái để trái lớn đều, màu vỏ đẹp và hạn chế thối trái, sâu ăn tạp ( cạp
vỏ ). Có điều kiện nên cắm cọc treo trái. Cọc cao 30 - 35cm, cọc cách gốc da
khoảng 40 - 50cm, lấy dây kẽm hoặc nilon loại lớn căng trên đỉnh cọc. Lờy dây
nilon móc cuống trái vào.
2.1.2.7. Phòng trừ sâu bệnh: Cần chú ý một số đối tợng gây hại chính:
- Sâu ăn tạp, sâu xanh: sử dụng Delfin, Match, Success, Vertimec,
- Bọ trĩ, rệp, rầy: sử dụng Confidor, Regent, Admire,
- Bệnh héo cây con: Sử dụng Moncerene 250SC, Anvil 5SG, Validacin 3-5SL
- Bệnh thán th, sơng mai: sử dụng: Daconil50-75WP, Ridomil68-72WP, TopsinM,
Poliram 80DF, ThanM, Bavistin50FL
- Héo rũ tái xanh: Phòng bệnh: Luân canh, bón vôi, tiêu diệt nguồn bệnh. Tới và
phun: Kasumin 2L, Staner 20WP, Phytoxyl-VS,
8
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Ngng tới nớc 7 ngày trớc khi thu hoạch. Thu hoạch khí trái đã lên màu chuẩn hoặc
lới đều, tua đã khô ngọn, thờng thu hoạch 30-35 ngày sau thụ phấn. Thời gian
thích hợp thu hoạch là lúc xế chiều. [8]
2.2. tình hình sử dụng phân bón hiện nay
2.2.1. Phân bón vô cơ:
ở các nớc trên thế giới, vai trò của phân bón trong việc tăng năng suất, phẩm
chất cây trồng và tăng độ phì của đất đã đợc xác nhận.
Nhà bác học Rumani Davideson (5/1957) trong hội nghị quốc tế đã nói:
Cơ sở nông nghiệp là độ phì nhiêu của đất và cơ sở của độ phì nhiêu của đất là
phân bón. Nhờ có phân bón mà diện tích nhỏ cho năng suất cao, với 26 năm kinh
nghiệm nghiên cứu tại viện khoa học, ông đã chứng minh rằng không có cách nào
hiệu quả hơn là nâng cao năng suất bằng cách sử dụng phân bón,ông nêu nên vai
trò của phân bón trong việc nâng cao năng suất và chất lợng nông sản khi diện tích
đất đai ngày càng thu hẹp dần. Năm 1989, toàn thế giới đã sử dụng 147 triệu tấn
phân hóa học. Song việc bón phân vô cơ về lâu dài nh ở Việt Nam làm đất chua
(PH cao), tỷ lệ mùn giảm,đất chai cứng, gây ô nhiễm môi trờng, dẫn đến năng suất
và chất lợng nông sản giảm, đồng thời trong nông sản thờng tích rụ nhiều độc tố
gây hại đến sức khỏe của con ngời, vì vậy bón phân vô cơ không phải là phơng án
tối u khi sản xuất về lâu dài.
2.2.2 Phân bón hữu cơ :
Phân hữu cơ tạo ra sản phẩm chất lợng cao, an toàn cho ngời tiêu dùng ( thành
phần kim loại nặng, hàm lợng NO
3
- đều rất thấp ),thành phần dinh dỡng trong rau
cao, phân hữu cơ còn làm tăng độ tơi xốp cho đất, làm cho đất không bị trai cứng
và bạc màu. Hiện nay ở các nớc trên thế giới đang quan tâm đến việc sử dụng các
loại phân bón hữu cơ (phân bón sinh học )và các chế phẩm sinh học bao gồm các
loại phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại, phân vi sinh. ở ấn Độ, hàng năm sản
xuất ra khoảng 265 triệu tấn phân ủ, lợng bón bình quân 2 tạ/ha/năm,tơng đơng với
9
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
3,5-4 triệu tấn NPK và 6,7 triệu ha cây phân xanh,mỗi ha thu đợc 40-50 kg đạm,ớc
tính thu đợc khoảng 0,3 triệu tấn đạm(theo tác giả Phạm Văn Toản năm 2004).
Đặc biệt Trung Quốc là nớc sử dụng phân bón hữu cơ rất lớn nhất là phân
chuồng, phân xanh rơm rạ, tơng đơng với 9,8 tấn NPK nguyên chất, và sử dụng
nhiều loại phân sinh học trên đồng ruộng. Phân sinh học sử dụng cho 1 ha tơng đ-
ơng với 65 kg (N+ P
2
O
5
+K
2
O ).
Bón các loại phân hữu cơ vào trong đất, có tác dụng làm cho đất về lâu dài có điều
kiện để tích lũy thêm đợc mùn do đó tăng độ phì của đất.
Việc bón phân hữu cơ có khả năng cải thiện tính chất lý, hóa sinh của đất rõ rệt và
trong điều kiện đất nhiệt đới của nớc ta, điều đáng chú ý hơn hết là việc tăng thêm
dung tích hấp thu cho đất, nhờ đó mà khả năng hấp thu và dự trữ dinh dỡng cho
cây.
Tác dụng của bùn ao khô dầu cũng đ ợc nêu lên từ thế kỷ 13 trong cuốn Nông
trang tạp yếu của Phơng nguyên, đời nguyên.Than bùn chứa đầy đủ các hợp chất
hữu cơ, vô cơ cũng nh các loại phân hữu cơ khác,trong đó chất hữu cơ chiếm từ
39,5 60,5 % trong chất hữu cơ thờng tỷ lệ axit humic khá cao.
Axit humic có dung tích hấp thụ và khả năng giữ ẩm cao. Tác dụng sinh lý,
hóa nông của axit humic là kích thớc tác dụng có bộ rễ làm cho cây sinh trởng
mạnh. Chính vì vậy ở Liên Xô,ngoài việc dùng than bùn độn chuồng, chế biến các
loại phân khác, than bùn còn dùng để điều chế các loại phân kích thích nh : Humat
natri, Humophot
Từ hàng năm nay, Rong biển cũng nh một loại phân hữu cơ, đợc dùng trong nông
nghiệp để cải tạo những loại đất có môi trờng hóa học bất thuận cho cây trồng và
để làm phân bón. Rong bón vào đất giải phóng chất hữu cơ và chất khoáng vi lợng
giúp ích cho cấu trúc đất thêm tơi xốp và tăng độ màu mỡ. ở Mỹ, Canada và một số
nớc phát triển, các loại phân bón sinh học mới sử dụng trong nông nghiệp đều cho
nông sản đạt giá trị hữu cơ,Cà chua trồng trong nhà kính đạt tới 740 tấn/ha/năm,da
chuột đật 1000 tấn/ ha/năm. ở Thái Lan việc sử dụng các chế phẩm sinh học hữu
10
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
cơ trong sản xuất nông nghiệp đã làm chi giá trị nông sản của nớc này có vị thế rất
cao trên thị trờng thế giới.
Hiện nay ngoài việc sử dụng phân hữu cơ thì ngời sản xuất rau còn dùng các
chế phẩm hữu cơ. Tại thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều loại chế phẩm sinh học
với thành phần chủ yếu là các nguyên tố vi lợng, chất điều hòa sinh trởng dới dựng
hỗn hợp hoặc dùng riêng lẻ. Thực tế sản xuất trong thời gian đã cho thấy một số
loại đã cho thấy một số loại đã và đang đợc dùng phổ bến trên nhiều loại cây trồng
nh Rubi, Seahumic, KumicAtonik đã đem lại kết quả rõ rệt.
Rubi và Seahumic do trung tâm nghiên cứu nông dợc triển khai, không gây
ô nhiễm, đáp ứng tiêu chuẩn đề ra cho những sản phẩm trong hệ thống nông
nghiệp hữu cơ. Rubi và Seahumic là sản phẩm có nguồn gốc từ rong,tảo biển,đợc
chế biến thao cách tách triết thủy phân, dùng nguyên liệu là: ascophllum nodosum,
một loại rong nâu đợc xem là thực vật biển tốt nhất đợc dùng trong nông nghiệp.
Phân Komic do công ty sinh hóa nông nghiệp và thơng mại Thiên Sinh sản
xuất. Là loại phân sinh hóa hữu cơ sử dụng quy trình lên men vi sinh vật để hoạt
hóa than bùn(hoặc rác thải) rồi phối trộn với các loại phân hóa học (đạm, lân, kali,
lu huỳnh ) các nguyên tố trung l ợng, vi lợng cùng các chất giữ ẩm, các chất điều
tiết cho cây trồng.
Phân bón sinh hóa Thiên Nông do công ty hóa phẩm Thiên Nông sản xuất, sản
phẩm đợc triết suất từ than bùn, rong biển và cá biển với enzim sinh tố đợc triết
suất từ giống giun hồng(nuôi theo công nghiệp). Có đầy đủ NPK vi lợng để bón
cho các loại cây trồng qua đờng lá. Bón phân qua lá,cây hấp thụ nhanh, không mất
mát lãng phí, hoa mau cứng khỏe, hiệu quả kinh tế cao.
Thuốc kích thích sinh trởng cây trồng Atonik do hãng hóa chất Asahi- nhật
bản sản xuất. Asahi là thuốc kích thích sinh trởng cây trồng thế hệ mới. Cũng nh
các vitamin,làm tăng khả năng sinh trởng, bảo vệ cây trồng tránh khỏi những ảnh
hởng xấu của điều kiện sinh trởng không thuận lợi gây ra.Asahi có tác dụng làm
tăng khả năng ra rễ, tăng năng suất và chất lợng nông sản. [19]
2.3 . Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
11
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Mỗi năm nông dân Việt Nam sử dụng khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ quy
chuẩn, không phân hữu cơ và các phân khác do các cơ sở t nhân và công ty TNHH
sản xuất, cung ứng.
Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ trung bình 7,2%/ năm, phân lân tăng
13,9%/năm, riêng kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm. Tổng sử dụng N+
P
2
O
5
+ K
2
O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0 %/ năm và trong thời gian tới có
xu hớng tăng 10%/ năm. Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn : 1985-1990 ;1991
1995 ; 1996 2001 lợng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục.
ở các giai đoạn : 1985 1990 ; 1991 1995 ; 1996 2001 mức tiêu thụ phân
đạm tăng hàng năm là 10,3 %; 16,7%; 8,2% tơng ứng. Nh vậy trong 5 năm trở lại
đây mức tiêu thụ phân đạm đã giảm dần. ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lên
là 13,4 %, 26,8%,21,1% tơng ứng và cũng có xu hớng giảm mức tăng nh phân
đạm. Theo kết quả điều tra tại vùng sản xuất rau ở xã Tú Sơn Kiến Thụy Hải
Phòng, ngời trồng rau tại đây sử dụng chủ yếu là đạm, lân, và phân tơi tới cho rau.
Hiện nay ngành sản xuất phân hóa học ở nớc ta mới đáp ứng đợc 45% nhu cầu của
nông nghiệp còn lại phải nhập khẩu hầu nh toàn bộ phân đạm ure, kali và phân
phức hợp DAP, một lợng khá lớn NPK với tổng số 3 triệu tấn /năm riêng đối với
phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nớc ta bị phụ
thuộc thị trờng nớc ngoài.
Vấn đề sử dụng phân bón ở Miền Bắc:
Trớc những năm 70 ở Miền Bắc Việt Nam, nông nghiệp sử dụng phân hữu cơ là
chủ yếu. Phân bón chủ yếu là phaan compot, phân rác phân xanh các loại Từ khi
bắt đầu cuộc Cách Mạng Xanh đến nay, với các cơ cấu cây trồng mới, giống
mới (đặc biệt là các giống lai), hệ thống tới tiêu đợc cải thiện, khả năng cung ứng
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đợc tăng cờng. Đặc biệt sau khi một số điều
trong luật đất đai đợc sửa đổi(12/1998), sản xuất nông nghiệp nớc ta đã đi theo h-
ớng thâm canh, tăng vụ để tăng năng suất, chất lợng nông sản với yêu cầu của thị
trờng.
12
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Trong số các thiếu hụt về dinh dỡng cho cây trồng trên các loại đất ở Việt Nam,
lớn nhất và quan trọng nhất vẫn là sự thiếu hụt về đạm, kali, lân. Đây cũng là các
chất dinh dỡng mà cây trồng hấp thụ với lợng lớn nhất và sẽ chi phối hớng sử dụng
phân bón. Mặt khác, khi bón phân ngời ta cũng bắt đầu tính đến nhu cầu dinh dỡng
của từng loại cây trồng, thậm chí cho từng giống cụ thể, trong các vụ gieo trồng
trên từng loại đất riêng. Vì vậy trong việc bố trí cơ cấu sản phẩm phân bón, vấn đề
quan trọng là phải nắm đợc cơ cấu ding dỡng cây trồng trong vụ đồng thời có tính
đến đặc điểm của các loại cây trồng vụ trớc.
Thực tế cũng chứng minh, phân hữu cơ chỉ có thể là một loại phân bón bổ sung
chứ không thể thây thế hoàn toàn phân vô cơ ( phân khoáng). Do vậy, để đảm bảo
cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững, phải tăng cờng sử dụng phân bón
trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và phân hữu cơ, trong các loại phân bón
đợc sử dụng không những cân đối về tỷ lệ mà phải cân đối với lợng hấp thụ để bù
lại lợng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất.
Vì vậy nông nghiệp nớc ta nói chung và Miền Bắc nói riêng không thể chấp
nhận đợc nguyên lý tuyệt đối không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu hóa
học đặc biệt trong điều kiện chúng ta ngày càng trồng nhiều giống cây trồng có
năng suất cao. Định hớng phát triển nông nghiệp bền vững đang đặt ra yêu cầu sử
dụng phân bón hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế. Trớc hết phải tăng cờng sử
dụng phân hữu cơ cùng với các biện pháp kỹ thuật khác nh: cày vặn rạ, cày vùi các
loại phụ phẩm cây trồng (đặc biệt là các loại cây họ đậu) hoặc trồng xen loại cây
họ đậu lớn cây bóng mát ở vờn cà phê hay vờn cây ăn quả Trên cơ sở đó dùng
một loại phân bón hóa học hợp lý bón cân đối cho mỗi loại cây trồng trong hệ
thống cơ cấu cây trồng trên từng loại đất.
Kết quả điều tra tình hình sử dụng phân bón ở viện thổ nhỡng nông hóa và
các viện, trờng Đại Học Nông Nghiệp từ năm 1995 đến nay cho thấy một số hạn
chế về việc sử dụng phân bón Miền Bắc nớc ta nh sau:
- Việc bón phân mới chỉ chú trọng ở đồng bằng nơi có một số cây trồng có lợng
nông sả hàng hóa tơng đối lớn nh : lúa, ngô, lạc, khoai tây, rau vụ đông ở đất đồi
13
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
núi,ngời ta chỉ chú trọng bón phân cho các vùng chuyên canh nh chè, mía. Trong
10 năm qua, tỷ lệ bón phân N, P, K đã cân đối hơn (tỷ lệ N: P: K của các năm
1990, 1995, và 2000 là 1: 0,12 : 0,05; 1: 0,46 : 0,12; 1:0,44 :0,37 tơng ứng. Tuy
nhiên, tỷ lệ bón phân NPK vẫn còn mất cân đối, đậc biệt đối với cây trồng trên đất
dốc (tỷ lệ kali còn rất thấp so với tỷ lệ đạm, lân). Do công tác khuyến nông về kỹ
thuật bón phân cân đối cha đợc làm tốt và tâm lý a chuộng phân đạm của nông dân
nên việc tăng bón đạm đã trầm trọng thêm sự mất cân đối dinh dỡng trong đất làm
hiệu quả kinh tế sử dụng phân bón cha cao.
- Lợng phân bón trên một ha tuy đã đợc tăng lên (ở các năm 1990 1995
2000 tổng lợng bón N +P
2
O
5
+K
2
O (kg /ha) là 58,7 : 117,7 : 170,8 tơng ứng, chủ
yếu trên đất đồng bằng và so với các nớc phát triển thì mức phát triển trên vẫn còn
thấp (ở Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Nhật Bản tổng lợng NPK tiêu thụ khoảng 240 400
kg/ha). Trên đất đồi núi của nớc ta, mức sử dụng phân bón còn thấp hơn nhiều, đặc
biệt phân kali đợc bón quá ít nh đã nêu ở trên.
- Sử dụng phân bón không đồng đều giữa các vùng sinh thái và các thửa ruộng ở
các tiểu vùng. Vì vậy trồng trọt ở các vùng đồng bằng đã chia cho các hộ gia đình,
nên lợng phân bón cho nhu cầu của mỗi loại cây trồng cũng rất khác nhau, phụ
thuộc vào khả năng chăn nuôi và tiềm lực kinh tế của mỗi hộ. Mặt khác, diện tích
đất trồng trọt của mỗi hộ gia đình ở vùng đồng bằng là rất thấp, trung bình là 0,3
ha/ hộ, hơn nữa lại chia ra rất nhiều thửa ruộng ở các tiểu địa hình trong xã (trung
bình mỗi hộ có từ 4-5 thửa, nhiêu nơi mỗi hộ có tới 10-12 thửa ruộng ) nên để tạo
tâm lý cho nông dân không muốn bón phân đầy đủ cho cây trồng ở mỗi thửa của
mình. Trên đất đồi núi, việc đầu t cho phân bón lại rất thấp, đặc biệt đối với cây
công nghiệp, cây thực phẩm lâu năm, cây ăn quả, cây rừng đồng cỏ. Ngời ta rất ít
chú trọng đến bón phân cho các vùng trồng rừng trong kế hoạch phủ xanh đất
trống, đồi trọc.
- Sử dụng phân bón còn gây nguy cơ ô nhiễm môi trờng. Sử dụng phân chuồng và
phân rác không hợp vệ sinh gây ra nhiều bệnh về đờng hô hấp, tiêu hóa ảnh h ởng
tới sức khỏe cộng đồng. Phân vô cơ thuộc nhón chua sinh lý (ure, SA, K
2
SO
4,
KCL,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét