Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở tròn hệ thống chính sách tiền tệ ở Việt nam hiện nay

phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Qua định nghĩa này ta thấy đợc
các mục tiêu cụ thể của chính sách tiền tệ nh sau:
a. ổn định tiền tệ:
Chính sách tiền tệ quốc gia phải đảm bảo sự ổn định tiền tệ trong nớc, đồng
tiền không bị mất giá một cách đột ngột, nghiêm trọng, kiểm soát đợc lợng tiền
cung ứng để từ đó điều chỉnh lợng tiền cung ứng nhằm vào các mục tiêu khác.
b. ổn định giá cả:
Lạm phát luôn là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trờng. Lạm phát
làm cho mức giá cả chung tăng lên gây nên tình trạng bấp bênh của nền kinh tế,
khi lạm phát ở mức cao thì việc lập kế hoạch trong tơng lai khó khăn, việc ra các
quyết định kinh tế rất khó khăn, cha nhiều rủi ro, gây căng thẳng cho các quan hệ
xã hội của đất nớc lạm phát có tác động rất sấu đến nền kinh tế khi nó ở mức
cao. Vì thế một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ đó là kiềm chế lạm
phát, giữ cho lạm phát ở mức thấp để có thể kích thích nền kinh tế tăng trởng,
tức là giữ cho mức giá chung ổn định và ở mức tăng nhẹ phù hợp với tình hình
kinh tế hiện đại.
c. ổn định lãi suất:
Lãi suất là biểu hiện quan trọng của sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ
trong nền kinh tế. Khi cung và cầu tiền tệ (cầu hay cung trái phiếu) biến động sẽ
làm cho mức lãi suất chung trong nền kinh tế thay đổi. Ta đã biết, lãi suất chính là
chi phí cơ hội của việc giữ tiền, là chi phí của ngời đi vay, do đó khi lãi suất thay
đổi sẽ làm cho chi phí cơ hội của việc giữ tiền thay đổi, chi phí của ngời vay biến
động. Nếu sự biến động này lớn sẽ ảnh hởng lớn đến các quyết định kinh tế (cho
vay, đi vay, đầu t, mua tài sản, tiêu dùng ) nền kinh tế không ổn định. Lãi suất
còn tác động đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô khác (tổng cầu, GDP ), do đó việc
điều chỉnh cho lãi suất ở mức thích hợp, ổn định luôn là một mục tiêu quan trọng
của chính sách tiền tệ quốc gia.
d. ổn định tỷ giá:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
5
Đối với nớc ta hiện nay, nền kinh tế đợc mở cửa dần (từ 1986, khi thay đổi
cơ chế kinh tế ), xu hớng giao lu hội nhập kinh tế là tất yếu thì tỷ giá là một biến
số rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đã và đang đa lại cho chúng ta
nhiều cơ và thách thức lớn đối với việc tăng trởng và phát triển kinh tế. tỷ giá có
tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong
nớc đối với hàng hoá nớc ngoài. Do vậy việc điều chỉnh chính sách tiền tệ với mục
tiêu ổn định trên thị trờng ngoại hối, ổn định tỷ giá ở mức độ sao cho có lợi nhất
cho sự phát triển kinh tế đất nớc để xu hớng hội nhập giao lu với quốc tế thực sự
có hiệu quả luôn là mục tiêu cần thiết và quan trọng trong việc điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia nói riêng và các chính sách vĩ mô nói chung.
e. ổn định các thị trờng tài chính:
Thị trờng tài chính là một thị trờng hết sức quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. thị trờng tài chính ra các nguồn vốn để phát triển kinh tế. Khi thị trờng
tài chính không ổn định sẽ có ảnh hởng đến nhiều lĩnh vực (đầu t, tiêu dùng, vốn,
tăng trởng ) và gây nên sự bất ổn cho nền kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, thị
trờng tài chính phát triển ở cấp độ cao, thị trờng tài chính của mỗi quốc gia có mối
liên hệ chặt chẽ với thị trờng tài chính của các quốc gia khác và toàn thế giới. Sự
biến động của thị trờng tài chính quốc tế luôn tác động đến thị trờng tài chính của
mỗi quốc gia. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Đông Nam á đã lan
ra cả khu vực rộng trên thế giới và nó cũng tác động sấu đến thị trờng tài chính n-
ớc ta và nền kinh tế. (1997).
Chính vì vậy, mục tiêu của chính sách tiền tệ còn là việc giữ ổn định thị tr-
ờng tài chính. Mục tiêu này có quan hệ chặt chẽ với các mục tiêu khác nh lãi suất,
giá cả
f. Đảm bảo công ăn việc làm cao:
Việc làm cao không những là một mục tiêu kinh tế mà còn là một mục tiêu
xã hội đối với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Lao động là một
nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Công ăn việc làm càng cao tức là ta
càng sử dụng đợc nhiều nguồn lực của xã hội, thu nhập của nền kinh tế tăng lên.
Đặc biệt khi tỷ lệ làm việc cao tức là phần thất nghiệp giảm đi, những tệ nạn xã
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
6
hội, tác động tiêu cực của thất nghiệp mang lại cũng giảm, đây là điều rất tốt cho
mục tiêu xã hội. Đặc biệt, đối với nớc ta chúng ta đang xây dựng XHCN để tiến
lên CNCS thì việc đảm bảo làm sao cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
văn minh, ai cũng có cơm ăn áo mặc là mục tiêu hàng đầu và lâu dài, nên công
ăn việc làm đầy đủ góp phần thực hiện mục tiêu mang tính chất chiến lợc trên.
h. Tăng trởng và phát triển kinh tế:
Đây là mục tiêu chung, bao trùm lên các mục tiêu khác và là mục tiêu cốt
lõi của chính sách kinh tế vĩ mô. Tất cả là làm sao cho nền kinh tế tăng trởng
nhanh, ổn định tránh đợc các cuộc khủng hoảng, suy thoái từ đó để dần đ a nền
kinh tế phát triển, góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.
ở đây ta cần quan tâm và phân biệt hai mục tiêu là tăng trởng và phát triển.
Mục tiêu tăng trởng chỉ nói lên đợc phần lợng của phát triển, tăng trởng phải đồng
thời với ổn định nền kinh tế, nâng cao mức sống ngời dân, tỷ lệ thất nghiệp thấp,
lạm phát đợc kiềm chế ở mức vừa phải đó sẽ là mục tiêu phát triển. Chính sách
tiền tệ quốc gia cần cân nhắc và hớng vào mục tiêu cốt lõi nhất là phát triển kinh
tế.
Các mục tiêu trên của chính sách tiền tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
chúng liên hệ bổ xung thúc đẩy nhau và cũng có khi tác động trái ngợc nhau.
Chẳng hạn lãi suất ổn định góp phần ổn định thị trờng tài chính, việc làm cao thì
tăng trởng mạnh, tuy nhiên tăng trởng mạnh có thể làm cho giá cả không ổn định
tức lạm phát có thể cao.
Chính vì vậy mà việc điều hành chính sách tiền tệ phải nhằm vào các mục
tiêu cụ thể nào và luôn phải xem xét trên tất cả các mục tiêu khác để nhằm vào
mục tiêu này mà không ảnh hởng lớn và hạn chế đến mục tiêu khác và luôn phải
hớng vào mục tiêu lâu dài cốt lõi. Luôn đặt chính sách tiền tệ đi liền và quan hệ
chặt chẽ với chính sách vĩ mô khác để nhằm vào mục tiêu chung là phát triển nền
kinh tế xã hội ở mức cao.
II. Các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia:
Mục đích của chính sách tiền tệ là nhằm điều tiết lợng tiền lu thông, sự điều
tiết này thể hiện qua hai hớng: mở rộng tiền tệ và thắt chặt tiền tệ. Việc điều tiết l-
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
7
ợng cung tiền nh thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn
là vấn đề nan giải của các quốc gia, thiếu hay thừa tiền luôn có tác động tiêu cực
của nó. Tuy nhiên trong thực tế điều hành chính sách tiền tệ tuỳ vào từng thời kỳ
phát triển kinh tế, tuỳ voà hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế xã hội mà sử dụng
chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đây là vấn đề mang tính nhạy cảm của
các nhà điều hành chính sách tiền tệ.
Để làm đợc điều này Ngân hàng trung ơng phải sử dụng hàng loạt các công
cụ nh: Dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trờng
mở.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu hai
công cụ chính đó là lãi suất và nghiệp vụ thị trờng mở.
1. Cơ chế tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đến các biến số kinh tế
vĩ mô.
a. Cung cầu tiền tệ:
* Mức cung tiền tệ là tổng số tiền có khả năng thanh toán. Mức cung tiền
bao gồm: tiền mặt đang lu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các Ngân
hàng thơng mại.
Mức cung tiền phụ thuộc vào các nhân tố sau:
+ Lợng tiền cơ sở
+ Tỷ lệ dự trữ của các Ngân hàng thơng mại (phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt
buộc và tỷ lệ dự trữ d thừa của các Ngân hàng thơng mại)
+ Tỷ lệ giữ tiền mặt của công chúng
Ngân hàng Trung ơng với các công cụ tiền tệ trong tay có thể tác động vào
lợng tiền thông qua:
+ Quản lý lợng tiền cơ sở (do NHTW nắm giữ quyền phát hành tiền)
+ Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng thơng mại (nó tác
động đến số nhân tiền tác động đến lợng tiền dự trữ và lợng tiền lu thông
NHTW sử dụng ba công cụ khác)
1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
8
2. Lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu
3. Nghiệp vụ thị trờng
* Cầu tiền là khối lợng tiền cần để chi tiêu thờng xuyên, đều đặn cho nhu
cầu tiêu dùng cá nhân và kinh doanh sản xuất.
Cầu tiền phụ thuộc:
1. Thu nhập thực tế (tỷ lệ thuận)
2. Lãi suất (tơng quan nghich)
* Cung và cầu tiền tệ cân bằng sẽ xác định mức lãi suất cân bằng và tổng l-
ợng tiền cân bằng.
Khi NHTW điều chỉnh các mức cung ứng tiền ở các mức độ khác nhau thì
lãi suất danh nghĩa của nền kinh tế sẽ thay đổi. Khi lãi suất thay đổi sẽ tác động
đếu tiêu dùng và đầu t làm cho chúng thay đổi tiêu dùng và đầu t là yếu tố của
tổng cầu do đó tổng cầu thay đỏi làm GNP thay đổi.
Ví dụ: Khi NHNN điều chỉnh tăng cung tiền đờng MS dịch phải làm lãi
suất cân bằng giảm giá trái phiếu tăng giá trị hiện tại của thu nhập tơng lại
có giá hơn tiêu dùng tăng lên ở mỗi mức thu nhập.
Mặt khác: Lãi suất giảm Chi phí cơ hội của việc giữ tiền giảm
Chi phí vay tiền giảm có
nhiều dự án lớn đợc đầu t
Khi tiêu dùng tăng, đầu t giảm tổng cầu tăng GDP giảm giá tăng
(lạm phát)
Ngợc lại: MS giảm đờng MS dịch phải lãi suất tăng tiêu dùng
giảm, đầu t tăng tổng cầu giảm giá giảm.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
9
MS
i
i
0
MD
M
Điểm cân bằng thị trường tiền tệ
b. Mô hình IS-LM
* Đờng IS là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp
với sự cân bằng của thị trờng hàng hoá.
* Đờng LM biểu thị những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù
hợp với sự cân bằng của thị trờng tiền tệ.
* Sự cân bằng của IS-LM

Điểm cân bằng của cả hai thị trờng hàng hoá và tiền tệ i
0
và Y
0
là mức lãi
suất và thu nhập cân bằng cả hai thị trờng hàng hoá và tiền tệ.
- Chính sách thị trờng tác động đến MS làm cho LM dịch chuyển và thay
đổi lãi suất và thu nhập của nền kinh tế.
* Chính sách tiền tệ mở rộng.
Khi NHTW điều chỉnh tăng lợng tiền MS làm đờng LM dịch chuyển sang
phải, thị trờng cân bằng ở mức lãi suất mới i
1
,i
0
, thu nhập quốc dân Y
1
> Y
0.
* Chính sách tiền tệ thu hẹp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
10
E
0
i
i
0
ML
YY
E
0
i
i
0
ML
YY
i
i
0
i
1
E
0
LM
0
LM
1
E
1
IS
Y
0
Y
1
Y
Khi NHNN điều chỉnh giảm lợng tiền lu thông (nền kinh tế rơi vào tình
trạng quá nóng) làm MS giảm, đờng LM dịch trái làm điểm cân bằng mới của nền
kinh tế ở điểm E
1
với i
1
>i
0
, Y
1
<Y
0
lạm phát tăng,twang GDP

2. Các công cụ của chính sách tiền tệ.
Mức cung ứng tiền MS tỷ lệ thuận với số nhân tiền tệ. Khi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc hay giảm sẽ làm cho số nhân tiền giảm hay tăng từ đó tác động làm giảm hay
tăng lợng cung ứng tiền MS.
Chẳng hạn, khi nền kinh tế đang ở tình trạng quá nóng (mức tăng trởng quá
cao so với mức bình thờng lạm phát cao ). Để giảm bớt tình trạng này NHNN
thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, điều chỉnh giảm mức cung tiền. Chẳng hạn,
NHNN dùng công cụ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lúc này NHNN sẽ quy định
tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng thơng mại ở mức cao. Số nhân tiền tệ
sẽ giảm xuống và mức cung tiền giảm đờng LM dịch chuyển sang trái làm cho lãi
suất tăng tiêu dùng và đầu t giảm tổng cầu giảm sản lợng giảm và giá cả
giảm tức là tình trạng quá nóng của nền kinh tế đã đợc hạn chế.
Tuy nhiên, trên thực tế thì công cụ này có nhiều hạn chế, đôi khi không đạt
đợc hiệu quả nh mong muốn bởi vì: Số nhân tiền tệ không chỉ phụ thuộc vào tỉ lệ
dự trữ bắt buộc mà còn phụ thuộc vào hành vi của công chúng (giữ tiền hay gửi
tiền) và hành vi của các Ngân hàng thơng mại (dự trữ d thừa). Chính vì thế mà
hiệu quả của công cụ này rất hạn chế, nhiều lúc NHNN rất khó kiểm soát đợc số
nhân tiền. Do đó công cụ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đợc sử dụng rất ít và dần
đợc thay thế bằng các công cụ khác có hiệu quả hơn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
11
i
i
0
i
1
E
0
LM
0
LM
1
E
1
IS
Y
0
Y
1
Y
b. Lãi suất chiết khấu tái chiết khấu:
Là lãi suất NHTW quy định khi họ cho các Ngân hàng thơng mại vay tiền
để đảm bảo có đầy đủ hoặc tăng thêm dự trữ của các Ngân hàng thơng mại. Khi lãi
suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị trờng và điều kiện cho vay thuận bởi sẽ là tín
hiệu khuyến khích các Ngân hàng thơng mại vay tiền để tăng dự trữ và mở rộng
cho vay dẫn đến mức cung tiền sẽ tăng lên.
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất quy định của NHTW khi họ thực hiện cho
các Ngân hàng thơng mại vay tiền qua hình thức chiết khấu lại các thơng phiếu
của Ngân hàng thơng mại đã chiết khấu cho khách hàng của họ.
Vậy khi lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu thay đổi sẽ tác động đến dự trữ
(của các Ngân hàng thơng mại ) và quy mô cho vay của các Ngân hàng thơng mại,
từ đó tác động đến lợng cung ứng tiền MS và tác động đến các biến số kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế. Đây chính là cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ bằng
công cụ lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu cuả NHTW.
Ví dụ: Khi nền kinh tế ở mức tăng trởng chậm tình trạng thiếu phát triển
(nền kinh tế nguội lạnh) để kích thích sự tăng trởng của nền kinh tế, NHTW thực
hiện chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc điều chỉnh tăng cung tiền qua công cụ
lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. NHTW sẽ quy định mức lãi suất chiết khấu và
tái chiết khấu thấp hơn mức lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng thơng mại.
Khi đó các Ngân hàng thơng mại sẽ tích cực vay tiền của NHTW để mở rộng cho
vay. Mức cung tiền MS tăng lên đờng LM dịch phải làm lãi suất giảm đầu t,
tiêu dùng tăng tổng cầu tăng thu nhập quốc dân tăng giá tăng (thiểu phát
đợc khắc phục)
Công cụ này cũng khá quan trọng khi công cụ thị trờng mở cửa phát triển.
d. Hoạt động thị trờng mở:
Thị trờng mở cửa là thị trờng tiền tệ của NHTW đợc sử dụng để mua bán
trái phiếu kho bạc của Nhà nớc.
Muốn tăng hay giảm mức cung tiền tệ, NHTW sẽ mua trái phiếu ở thị trờng
mở hay bán chúng. Kết quả là họ đã đa thêm vào hay rút ra thị trờng một lợng tiền
cơ sở bằng cách tăng dự trữ hay giảm của các NHTM, dẫn đến khả năng cho vay
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
12
tăng hay giảm, tăng hay giảm mức tiền gửi nhờ số nhân tiền tệ. Kết quả cuối cùng
là mức cung tiền tăng (hay giảm) gấp bội so với số tiền mua tín phiếu (hay bán )
của NHTW.
Đây là một công cụ hết sức hữu hiệu đối với việc điều chỉnh mức cung tiền
của NHTW. Nó đáp ứng một cách nhanh chóng, kịp thời và hoàn toàn mang lại
tính chủ động cho NHTW khi học điều tiết nền kinh tế bằng cách điều chỉnh mức
cung tiền. Công cụ này là công cụ rất quan trọng, nó đợc sử dụng rộng rãi và dần
là công cụ chính đối với tất cả các NHTW của các quốc gia trên thế giới khi thực
hiện điều tiết nền kinh tế thông qua mức cung tiền.
e. Lãi suất:
Là công cụ mang tính chất trực tiếp của NHTW khi họ điều tiết nền kinh tế.
Nó đợc thể hiện qua việc NHTW quy định trực tiếp đối với lãi suất của nền kinh tế
thông qua sàn lãi suất, trần lãi suất, lãi suất cơ bản và biên độ cho phép. Từ lãi
suất này mà các Ngân hàng thơng mại quy định lãi suất tín dụng cụ thể của mình.
Ta đã biết, lãi suất có tác động đến tiêu dùng và đầu t do đó nó tác động đến
cầu. Tổng cầu thay đổi sẽ làm cho thu nhập quốc dân thay đổi và việc làm, lạm
phát biến động. Khi NHTW quy định mức lãi suất chung (có thể là lãi suất cơ bản
+ biên độ dao động, sàn và trần lãi suất ) ở các mức độ khác nhau thông qua các
biến động trung gian sẽ làm thay đổi các biến số của nền kinh tế quốc dân tuỳ theo
mục tiêu của sự điều chỉnh chính sách.
Lãi suất là kết quả quả phả ánh cân bằng cung cầu trê thị trờng tiền tệ. Tức
là, khi trên thị trờng tiền tệ mà cung hay cầu tiền tệ thay đổi sẽ làm Cửa Ông thị tr-
ờng tiền tệ cân bằng ở các mức độ khác nhau, và lãi suất cân bằng phản ánh các
mức cân bằng đó.
Việc NHTW sử dụng công cụ lãi suất, tức là quy định lãi suất một cách
trực tiếp đôi khi không phản ánh đợc điểm cân bằng cung cầu trên thị trờng, điều
đó có tác dụng tiêu cực hình thành thị trờng ngầm, hạn chế việc cho vay của các
Ngân hàng thơng mại làm ứ đọng vốn, kìm hãm lu thông tiền tệ .
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
13
Chính vì thế, việc thay thế công cụ trực tiếp lãi suất bằng các công cụ gián
tiếp của chính sách tiền tệ để lãi suất đợc tự do biến đổi phản ánh cung cầu tiền tệ,
vốn là điều cần thiết và đúng đắn, cần thực hiện
f. Tỷ giá
Tỷ giá là một chính sách quan trọng đối với một nền kinh tế mở. Tỷ giá
phản ánh kết quả cân bằng của thị trờng ngoại tệ, nó có ảnh hởng đến kim ngạch
xuất nhập khẩu của một quốc gia, khả năng cạnh tranh của hàng hoá nớc này so
với nớc khác. Việc điều hành chính sách tỷ giá bằng việc quy định tỷ giá một cách
cứng nhắc hay để cho tỷ giá đợc tự do biến động phản ánh cung cầu ngoại tệ là tuỳ
thuộc vào mỗi quốc gia và tuỳ vào thời kỳ và điều kiện cụ thể. Xu hớng chung của
các quốc gia là để cho tỷ giá đợc biến đổi tự do phản ánh cung cầu ngoại tệ. Nhà
nớc chỉ điều hành tỷ giá thông qua việc tác động đến cung ngoại tệ.
* Trên đây là 6 công cụ chính của chính sách tiền tệ, để điều hành chính
sách tiền tệ đợc tốt và có hiệu quả cần có sự phối hợp giữa các công cụ và luôn kết
hợp với các công chính sách vĩ mô khác. Trong 6 công cụ trên thì 3 công cụ thị tr-
ờng mở, tỷ giá và lãi suất là các công cụ quan trọng nhất.
Trong phạm vi bài vi bài cứu phần thực tế của chính sách tiền tệ chỉ tập
chung vào 2 công cụ chính sách, đó là lãi suất và nghiệp vụ thị trờng mở.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét