Chuyên đề tốt nghiệp
Nh vậy, thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng.
Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phơng thức thanh toán là một
điều kiện rất quan trọng. PTTT tức là chỉ ngời bán dùng cách nào để thu tiền về,
ngời mua dùng cách nào để trả tiền. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ
thể, các bên tham gia trong thơng mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau,
cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc cùng có lợi, ngời bán thu đợc
tiền nhanh và đầy đủ, ngời mua nhập hàng đúng số lợng, chất lợng và đúng hạn.
Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thơng mại và TTQT,
ngời ta đã thiết lập nhiều phơng thức thanh toán khác nhau. Các phơng thức thanh
toán quốc tế dùng trong ngoại thơng hiện nay gồm có: phơng thức thanh toán
chuyển tiền (Remittance), phơng thức uỷ thác thu (Collection), phơng thức thanh
toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Trong thực tế, khi các bên mua bán cha có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán
TDCT là phơng thức phổ biến, đợc các bên tham gia hợp đồng ngoại thơng a
chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia(ngời mua,
ngời bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nớc trên thế giới, thanh toán
bằng th tín dụng đợc sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số kim
ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong nội dung tiếp theo em xin đề cập sâu về
phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.2. Tổng quan về phơng thức tín dụng chứng từ
1.2.1. Khái niệm về phơng thức tín dụng chứng từ
Phơng thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phơng thức thanh toán, trong đó
theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức th (gọi là th
tín dụng- letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ
ba khi ngời này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những
điều kiện và điều khoản quy định trong th tín dụng.
Từ khái niệm trên cho thấy, phơng thức tín dụng chứng từ có thể đợc áp dụng
trong nội thơng và ngoại thơng. Trong ngoại thơng, theo yêu cầu của nhà NK,
ngân hàng phát hành một th tín dụng cho nhà XK hởng. Nội dung chủ yếu của th
tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK khi
nhà XK tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho
ngân hàng để thanh toán.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
Thuật ngữ tín dụng- credit ở đây đợc dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là tín
nhiệm, chứ không phải để chỉ một khoản cho vay theo nghĩa thông thờng. Điều
này đợc thể hiện rõ trong trờng hợp khi ngời NK ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì
thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào,mà chỉ cho ngời
NK vay sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trờng hợp nhà NK không hề ký
quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C
tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK. Nh vậy, thuật ngữ tín dụng
trong phơng thức TDCT chỉ thể hiện khoản tín dụng trừu tợng bằng lời hứa trả
tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín
nhiệm hơn nhà NK.
Nh vậy, trong phơng thức TDCT, ngân hàng không chỉ là ngời trung gian thu
hộ, chi hộ, mà còn là ngời đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà XK,
bảo đảm cho nhà XK nhận đợc khoản tiền tơng ứng với hàng hoá mà họ đã cung
ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là ngời đảm bảo cho nhà NK nhận đợc số lợng và
chất lợng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.
Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền tr-
ớc khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chừng
từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận đợc tiền hàng XK nếu anh
ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo nh qui
định trong L/C.
1.2.2. Các bên tham gia
1.Ngời xin mở L/C (Applicant for L/C): là ngời yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng
cho ngời bán theo L/C này. Ngời xin mở L/C có thể là ngời mua (buyer), nhà NK
(importer), ngời mở L/C (opener), ngời trả tiền (accountee).
2.Ngời thụ hởng L/C (Beneficiary): là ngời đợc hởng tiền thanh toán hay sở
hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Ngời thụ hởng L/C có thể có những tên gọi
khác nhau nh: ngời bán (seller), nhà XK (exporter), ngời ký phát hối phiếu
(drawer).
3.Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening
Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của ngời mua, phát hành một L/C cho ngời
bán hởng. Ngân hàng phát hành thờng đợc hai bên mua bán thoả thuận và quy
định trong hợp đồng mua bán.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
4.Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng đợc ngân hàng phát
hành yêu cầu thông báo L/C cho ngời thụ hởng. Ngân hàng thông báo thờng là
một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nớc nhà XK.
5.Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trờng hợp nhà XK muốn có
sự đảm bảo chắc chắn của th tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận
L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thờng ngân hàng xác nhận là
một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trờng hợp ngân hàng thông báo đợc đề
nghị là ngân hàng xác nhận L/C.
6.Ngân hàng đợc chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng đợc ngân hàng
phát hành uỷ nhiệm để khi nhận đợc bộ chứng từ phù hợp với những qui định
trong L/C thì:
Thanh toán (pay) cho ngời thụ hởng
Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn
Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ
Trách nhiệm của ngân hàng đợc chỉ định là giống nh ngân hàng phát hành
khi nhận đợc bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.
1.2.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ
Bớc 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thơng, nhà NK chủ động viết đơn và gửi
các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình (NH phát
hành L/C), yêu cầu ngân hàng mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng
những điều kiện nêu trong đơn, để trả tiền cho nhà XK.
Bớc 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH phục vụ nhà
NK sau khi đã đồng ý, và nhà NK đã thực hiện ký quỹ, thì sẽ mở một L/C với một
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
NH thông báo/
thanh toán L/C
NH phát hành
L/C
Ngời
nhập khẩu
Ngời
xuất khẩu
Hợp đồng ngoại thơng
4
6 5 3 1 9
2
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
số tiền nhất định để trả tiền cho nhà XK rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NH phục
vụ nhà XK (NH thông báo)
Bớc 3: Nhận đợc bản chính L/C từ NH phát hành, NH thông báo phải xác
thực L/C đã nhận đợc và gửi bản chính L/C cho nhà XK.
Bớc 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký trong
hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.
Bớc 5: Sau khi đã tiến hành giao hàng, nhà XK phải hoàn chỉnh ngay bộ
chứng từ hàng hoá theo đúng những chỉ thị trong L/C và phát hành hối phiếu rồi
gửi toàn bộ các chứng từ này cho NH thông báo/NH thanh toán để xin thanh toán.
Bớc 6: NH thông báo/ thanh toán nhận đợc bộ chứng từ từ nhà XK phải
kiểm tra thật kỹ, nếu thấy các chứng từ này mà bề ngoài của chúng không có gì
mâu thuẫn với nhau thì sẽ tiến hành trả tiền cho các chứng từ đó.
Bớc 7: NH thông báo L/C chuyển bộ chứng từ cho NH phát hành L/C và
yêu cầu NH này trả tiền cho bộ chứng từ đó.
Bớc 8: Nhận đợc bộ chứng từ, NH phát hành phải kiểm tra kỹ, nếu các
chứng từ khớp đúng, không có sự nghi ngờ thì NH phát hành trích tiền từ tài khoản
ký quỹ mở L/C đứng tên nhà NK để chuyển trả cho NH thông báo/ thanh toán
L/C.
Bớc 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng thời
NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để ngời đó có căn cứ đi nhận
hàng.
1.2.4. UCP - Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phơng thức TDCT
Khi thanh toán bằng phơng thức TDCT, các bên XNK phải thoả thuận với
nhau về việc sử dụng UCP. UCP (The Uniform Customs and Practice for
Documentary credit) là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ do Phòng thơng mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm
1933. Từ đó đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962,
1974, 1983, 1993 và có hiệu lực áp dụng từ 01/01/1994.
UCP đã đợc hơn 175 nớc áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật quốc
gia hay công ớc quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động
thanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Các bên tham gia có quyền lựa
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
chọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT. Nhng
một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp dụng của UCP sẽ
ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia.
Một điểm cần lu ý là UCP ban hành sau không phủ nhận các nội dung của
UCP trớc đó. Do đó các bên có thể thoả thuận lựa chọn một UCP nào đó, nhng
điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trong L/C. Chỉ UCP bản gốc bằng
tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranh chấp, các bản dịch khác chỉ
có giá trị tham khảo.
Hiện nay, UCP bản sửa đổi năm 1993 số 500 đợc coi là hoàn chỉnh nhất và
ngày càng đợc nhiều ngân hàng của các nớc thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong
thanh toán quốc tế. UCP 500 thực sự đợc coi là cẩm nang cho nghiệp vụ tín dụng
chứng từ.
1.2.5. Th tín dụng (L/C) - Công cụ quan trọng của phơng thức thanh toán tín
dụng chứng từ
Th tín dụng là một bản cam kết trả tiền do NH phát hành (NH mở L/C) mở
theo chỉ thị của ngời NK (ngời yêu cầu mở L/C), để trả một số tiền nhất định
cho ngời XK (ngời thụ hởng) với điều kiện ngời đó phải thực hiện đầy đủ những
quy định trong L/C.
Th tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy đợc hình thành trên cơ sở hợp
đồng ngoại thơng nhng sau khi đợc thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng này. Một khi L/C đã đợc mở và đợc các bên chấp nhận thì cho dù nội dung
của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thơng hay không cũng không làm thay đổi
quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan. Có nghĩa là khi thanh toán
ngân hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ phù hợp
về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì ngân hàng phát
hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK.
Nh vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng
hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế có khớp đúng
với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do ngời bán xuất trình, nếu
thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả tiền cho ng-
ời bán.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phơng thức thanh toán
TDCT mau chóng trở thành phơng thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại
thơng.
1.3. Một số rủi ro chủ yếu trong phơng thức thanh toán TDCT
Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có
mối quan hệ ngợc chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng
lớn và ngợc lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể
tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên
tham gia thờng gặp là:
1.3.1. Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy
trình thanh toán TDCT.
a. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu
Khi tham gia phơng thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:
1.Khi nhận đợc L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện
chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp
ứng đợc trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không đợc thoả mãn,
NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có lợi
thế để thơng lợng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK sẽ
gặp bất lợi.
2.Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán
cho ngời XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ
làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phơng thức thanh toán TDCT đòi
hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định
trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể
bị NH mở L/C và ngời mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ
thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.
Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng đợc các yêu cầu
sau :
Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thơng mại mà hai nớc ngời
mua và ngời bán đang áp dụng và đợc dẫn chiếu trong L/C.
Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải đợc lập theo đúng yêu
cầu đề ra trong L/C.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không đợc mâu
thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó ngời ta không thể
xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lợng, trọng
lợng, giá cả, tổng trị giá, tên của ngời hởng lợi thì các chứng từ đó sẽ bị ngân
hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau.
Bộ chứng từ phải đợc xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời hạn
hiệu lực của L/C.
Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, thờng
gặp vẫn là:
+Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng
vận tải
+Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lợng.
+Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vợt quá giá trị của L/
C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không
khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lợng, trọng lợng, mô tả
hàng hoá ; các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ hàng,
về hãng vận tải, về phơng thức vận chuyển hàng hóa
Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà
XK khi lập bộ chứng từ thanh toán.
Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nớc cho nên dễ dẫn đến
những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh
toán.
3. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản
thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá
nh dỡ hàng, lu kho cho đến khi vấn đề đợc giải quyết hoặc phải tìm ngời mua mới,
bán đấu giá hay chở hàng về quay về nớc. Đồng thời, nhà XK phải chịu những chi
phí nh lu tàu quá hạn, phí lu kho trong khi đó không biết rõ lập tr ờng của nhà
NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.
4. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất
trình là hoàn hảo thì cũng không đợc thanh toán.
5. Th tín dụng có thể huỷ ngang có thể đợc NH phát hành sửa đổi, bổ sung
hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trớc khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần
sự đồng ý của nhà XK.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
b. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu
1.Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho ngời thụ hởng chỉ căn
cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. NH
chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về
tính chất bên trong của chứng từ, cũng nh chất lợng và số lợng hàng hoá. Nh vậy
sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng nh đơn đặt hàng
hay không. Nhà NK có thể nhận đợc hàng kém chất lợng hoặc bị h hại trong quá
trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát hành.
2.Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ
chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK
không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lợng các loại chứng từ, cơ
quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận ) mà chấp nhận bộ chứng từ
có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
3.Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trớc bộ chứng từ, nhà NK cha
nhận đợc bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà
vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không đợc
giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành
phát hành một th bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để đợc bảo lãnh nhận hàng,
nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận
hàng theo qui định thì tiền bồi thờng giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
c. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
1.Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở
L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau
này.
2.Khi nhận đợc bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ
chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi
tiền nhà NK.
3.Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho ngời thụ hởng theo qui
định của L/C ngay cả trong trờng hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị
phá sản do kinh doanh thua lỗ.
4.Trong trờng hợp hàng đến trớc bộ chứng từ thì NH phát hành hay đợc yêu
cầu chấp nhận thanh toán cho ngời thụ hởng mà cha nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
không có sự chấp nhận trớc của ngời NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp
rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không
truy hoàn đợc tiền từ nhà NK.
5.Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full
set off bills of lading) thì một ngời NK có thể lấy đợc hàng hoá khi chỉ cần xuất
trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó ngời trả tiền hàng hoá lại là ngân
hàng phát hành theo cam kết của L/C.
6.NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 500,
đó là đa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vợt quá 7 ngày làm việc của ngân hàng,
theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày.
d. Rủi ro đối với ngân hàng thông báo
NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng th tín dụng là chân thật,
đồng thời phải xác minh chữ ký, mã khoá (test key), mẫu điện của NH phát hành
trớc khi gửi thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này
thông báo một L/C giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính
NH cha xác nhận đợc tình trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C.
e. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
1.Nếu bộ chứng từ đợc xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền
cho nhà XK bất luận là có truy hoàn đợc tiền từ NH phát hành hay không. Nh vậy,
NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.
2.Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà
không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH
phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH
phát hành.
f. Rủi ro đối với ngân hàng đợc chỉ định
Các NH đợc chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trớc khi
nhận đợc tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng
từ đợc xuất trình, các NH đợc chỉ định thờng ứng trớc cho nhà XK với điều kiện
truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH
phát hành hoặc nhà XK.
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.2. Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phơng thức thanh toán
TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C, làm
ảnh hởng tới quyền lợi của bên kia.
a.Rủi ro đạo đức đối với nhà XK
Mặc dù trong thanh toán TDCT đã có sự cam kết của NH mở L/C nhng sự tin
tởng và thiện chí giữa ngời mua và ngời bán vẫn đợc coi là yếu tố quan trọng đảm
bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi ngời NK không thiện chí, cố ý không muốn
thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của bộ chứng từ
để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của ngời bán, thậm chí từ
chối thanh toán.
b.Rủi ro đạo đức đối với nhà NK
Với ngời mua sự trung thực của ngời bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm
việc với các chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay
không. Do đó nhà NK có thể gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo
trong việc giao hàng nh : cố tình giao hàng kém phẩm chất, không đúng số lợng
Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, có bề
ngoài phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có hàng giao, ngời NK vẫn phải
thanh toán cho NH ngay cả trong trờng hợp không nhận đợc hàng hoặc nhận đợc
hàng không đúng theo hợp đồng.
c.Rủi ro đạo đức đối với ngân hàng
NH là ngời gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh
toán cho ngời hởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trờng hợp ngời NK
chủ tâm không hoàn trả.
NH là ngời gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của
mình nh từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng
gây khó khăn trong quá trình thanh toán.
1.3.3. Rủi ro chính trị
Phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phơng thức đợc sử
dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phơng thức
TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề
khác nhau. Do đó, phơng thức TDCT chịu ảnh hởng mạnh mẽ của môi trờng chính
trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của
Lớp 1501 Nguyễn Thị Lan Phơng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét