Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở Hà nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ hành khách
công cộng bằng xe buýt ở Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu.
Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở Hà Nội.
b. Phạm vi nghiên cứu.
Không gian: Thành phố Hà Nội
Thời gian: Thực trạng từ năm 2000 đến năm 2007. Giải pháp từ
năm 2008 đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu dựa theo phương pháp luận nói chung của kinh
tế chính trị, đặc biệt phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp sử
dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát
thực tế… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp của đề tài.
- Làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ công cộng và dịch vụ vận tải
hành khách công cộng bằng xe buýt.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt từ năm 2000 đến năm 2007.
- Đưa ra một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển dịch vụ
vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội.
7. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu 3 chương 7 tiết.
5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH
CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT Ở ĐÔ THỊ
1.1 Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
1.1.1 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ công cộng.
a. Khái niệm dịch vụ.
Ngày nay, dịch vụ phát triển rất đa dạng, có mặt ở khắp mọi nơi
trong đời sống kinh tế - xã hội, toàn bộ những ngành dịch vụ hợp thành
khu vực thứ ba của nền kinh tế. Một số ngành dịch vụ như bảo hiểm, y tế,
giáo dục, du lịch, vận tải, giải trí v v
Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hóa nhưng là hàng hóa phi vật chất. Mọi người chi tiền mua những
dịch vụ không khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hóa nào khác.
Theo C.Mác, dịch vụ chỉ giá trị sử dụng đặc thù do lao động đem
lại giống như mọi hàng hóa khác, nhưng ở đây, cái giá trị sử dụng đặc thù
của lao động này được gọi bằng một danh hiệu đặc biệt là dịch vụ, bởi vì
lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải với tư cách là một đồ
vật mà với tư cách là một sự hoạt động [5,tr577]. Với tư cách là một loại
hàng hóa, dịch vụ cũng có giá trị và cả giá trị sử dụng, nghĩa là nó đáp
ứng một nhu cầu nào của người mua và do những chi phí sản xuất ra
chúng.
Vậy có thể hiểu khái niệm dịch vụ một cách chung nhất là: Dịch vụ
là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa
không tồn tại dưới hình thái vật thể; nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi,
hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người.
6
Dịch vụ có những đặc tính sau.
- Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không thể tách
rời.
- Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không rõ hình hài, không thể thấy
trước khi tiêu dùng.
- Không dự trữ được, không tích lũy được.
- Dịch vụ có tính không ổn định, không có chất lượng đồng nhất.
b. Khái niệm dịch vụ công cộng.
Khu vực công cộng là tổng thể các hoạt động do nhà nước đầu tư
vốn, trực tiếp thực hiện hoặc một phần do tư nhân đầu tư, tiến hành có sự
trợ giúp tài chính của nhà nước và được nhà nước quản lý với những cơ
chế đặc biệt nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu của
xã hội. Ở đây, cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng vì lợi ích
chung, việc thực hiện là của các tổ chức kinh tế và tư nhân. Hoạt động
của khu vực công cộng là:
- Những hoạt động nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật của quốc
gia có hiệu quả.
- Những hoạt động sản xuất, cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ
cho xã hội. Loại hàng hóa và dịch vụ này được gọi là hàng hóa công cộng
và dịch vụ công cộng.
Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa không có tính cạnh
tranh trong tiêu dùng.
Dịch vụ công cộng có đầy đủ các đặc tính của dịch vụ. Dịch vụ
công cộng là loại hình dịch vụ phục vụ cho khu vực công cộng của xã
hội, đáp ứng các nhu cầu công cộng của xã hội. Không phải tất cả các nhu
cầu công cộng của xã hội đều có thể tự trở thành dịch vụ công cộng của
chính phủ, chúng chỉ trở thành dịch vụ công cộng khi được Chính phủ
cung cấp.
7
Vậy dịch vụ công cộng là những hoạt động của các tổ chức nhà
nứoc hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước
ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp
những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng; theo nguyên tắc không vụ
lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.
Theo kinh tế học, dịch vụ công cộng là các hoạt động cung ứng cho
xã hội những hàng hóa công cộng, đáp ứng lợi ích công cộng cho đồng
đảo dân cư, như các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống cộng đồng, đảm bảo
an ninh xã hội.
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt.
Dịch vụ vận tải hành khách công cộng là một ngành dịch vụ công
cộng cung cấp những phương tiện vận tải đáp ứng nhu cầu di chuyển của
một số lượng hành khách nhất định.
Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là dịch vụ vận
chuyển hành khách bằng các loại xe buýt từ nhỏ đến các loại xe buýt lớn
trên những tuyến đường cố định; được ra đời từ rất sớm và có mặt ở hầu
hết các nước trên thế giới.
Có nhiều loại hình vận tải công cộng khác, nhưng xe buýt vẫn là
loại hình quan trọng trong lĩnh vực vận tải hành khách công cộng, loại
hình xe buýt có những đặc điểm sau:
- Thuận tiện, an toàn, văn minh,
- Tính linh hoạt cao, vốn đầu tư thấp, sử dụng được hệ thống
đường sá của mạng lưới giao thông đường bộ.
- Tuyến đường cố định, đúng về thời gian, giá vé thống nhất, có
quy định nghiêm ngặt.
- Được phân bố hợp lý, đều khắp tất cả các khu dân cư, phù hợp
với quy hoạch của mạng lưới giao thông đường bộ.
8
- Là dịch vụ công cộng, đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhiều loại
đối tượng khác nhau, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp tham gia cung ứng
dịch vụ.
1.2 Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt.
Với sự gia tăng nhanh chóng lưu lượng phương tiện giao thông cá
nhân sẽ dẫn đến gia tăng cao tình trạng ùn tắc giao thông, tai nạn giao
thông. Vậy để vừa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân, vừa giảm
bớt phương tiện giao thông cá nhân nhằm giảm ách tắc giao thông,
phương án hợp lý nhất là phát triển vận tải hành khách công cộng.
Trong điều kiện mạng lưới giao thông đô thị vẫn còn chật hẹp, chưa
được quy hoạch hợp lý, không phù hợp để phát triển các loại hình vận tải
công cộng như tàu điện ngầm, đường sắt nhẹ thì việc phát triển vận tải
hành khách công cộng bằng xe buýt là hợp lý nhất.
Sự phát triển của mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt gắn liền với sự phát triển giao thông đường bộ của thành phố. Các
tuyền đường ở Hà Nội còn khá rắc rối, chưa được quy hoạch hoàn chỉnh,
vậy lựa chọn phát triển xe buýt là hợp lý. Xe buýt có tính linh hoạt cao,
có thể tổ chức, bố trí các tuyến phù hợp với mạng lưới giao thống đường
bộ; có thể thay đổi các tuyến theo sự thay đổi của các tuyến đường.
9
Chương 2
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG
BẰNG XE BUÝT
2.1 Khái quát sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt.
Từ những năm 1960, vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở
Hà Nội đã được hình thành, gồm 28 tuyến trong nội thành và 10 tuyến vế
tháng chuyên trách. Trong những năm 1980 với số lượng 500 xe các loại,
đã vận chuyển được 50 triệu hành khách/năm, đáp ứng 20-25% nhu cầu
đi lại của người dân trong thành phố. [theo 7]
Từ những năm 1990, hoạt động vận tải hành khách công cộng
trong thành phố ngày càng giảm về số lượng tuyến cũng như chất lượng
phục vụ hành khách, dẫn đến số lượng hành khách sử dụng xe buýt giảm.
Trước tình hình đó, Nhà nước thực hiện một số biện pháp để phục hồi
hoạt động xe buýt: áp dụng chính sách trợ giá cho xe buýt.
Tính từ năm 1992 đến năm 2002, sản lượng vận chuyển của xe
buýt Hà Nội tăng 16,4 lần. Tuy vậy, so với thời kỳ phát triển nhất của xe
buýt (năm 1980) thì sản lượng xe buýt năm 2000 chỉ chiếm 24%. Đây là
giai đoạn suy thoái của vận tải hành khách cong cộng bằng xe buýt ở Hà
Nội.
Ngày 26/06/2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết
định thành lập Công ty vận tải và dịch vụ công cộng Hà Nội.
Tháng 05/2004, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định
thành lập Tổng công ty vận tải Hà Nội (Hanoi Transerco) thí điểm hoạt
động theo mô hình công ty mẹ, công ty con.
Đến tháng 01/2005, Hà Nội đã có 57 tuyến xe buýt hoạt động với
tổng chiều dài là 856 km, gần 800 đầu xe mới, hiện đại và vận chuyển
10
được gần 300 triệu lượt khách, chiếm tỷ trọng gần 20%, tăng khoảng 20
lần so với năm 2001.
Năm 2006, vận chuyển được trên 305 triệu lượt hành khách. Toàn
thành phố có 58 tuyến buýt hoạt động trong nội đô, vận chuyển 297,7
triệu khách, chiếm 94% sản lượng của toàn thành phố.
Năm 2007, sáu tháng đầu năm vận chuyển được 143,4 triệu lượt
hành khách.
2.2 Tình hình mạng lưới xe buýt ở Hà Nội.
- Mạng lưới xe buýt công cộng.
Bao gồm các tuyến xe buýt vận chuyển hành khách đi lại trong nội
thành, hành khách ngoại thành vào và ngược lại theo các hướng của Quốc
lộ 1A, Quốc lộ 32, Quốc lộ 5, Quốc lộ 6. Mạng lưới xe buýt chủ yếu tập
trung ở khu vực trung tậm thành phố từ vánh đai II trờ vào. Các tuyến đã
được bố trí đa dạng hơn, liên kết với nhau hơn. Trong phạm vi vành đai II
đến vành đai III, các tuyến xe buýt được bố trí chủ yếu là trên các trục
hướng tâm nhằm phục vụ các bến xe Gia Lâm, sân bay Nội Bài…
- Phương tiện vận tải hành khách công cộng.
Năm 2003, có tổng số xe là 618 chiếc, trong đó tỷ lệ phương tiện
mới chiếm 84,1%. Năm 2004, tổng số xe là 687 chiếc; trong đó 165 chiếc
từ 24-30, 336 chiếc từ 45-60 chỗ. Năm 2005, tổng số xe tăng lên thành
708 chiếc.
- Điểm dừng đỗ xe buýt.
Các điểm dừng xe đã được bổ sung và bố trí hợp lý hơn, khoảng
cách của cách điểm dừng đã được rút ngắn, xây dựng nhiều nhà chờ.
Năm 2003 có 905 điểm dừng, năm 2004 có 1022 điểm dừng, đến năm
2007 có 1197 điểm dừng. Tuy nhiên trong 1197 điểm dừng hiện có, 303
chiếc đang ở tình trạng xuống cấp. Do yếu tố khách quan nên số lượng
điểm dừng với hình thức nhà chờ còn ít, tuyến đường nhỏ, vỉa hè thì lại bị
chiếm dụng làm nơi đỗ xe, hàng quán. Không có tuyến đường riêng nên
11
khi dừng xe đón khách, xe buýt gặp nhiều khó khăn từ các phương tiện
giao thông cá nhân, gây mất an toàn giao thông. Điều quan trọng nhất,
hầu hết tại các điểm dừng đỗ xe, người tàn tật chưa có điều kiện tiếp cận
được xe buýt. Mới chỉ có tuyến 34 (Bến xe Gia Lâm – Bến xe Mỹ Đình)
được thí điểm hạ tầng xe buýt phục vụ người khuyết tật.
- Hệ thống giá vé.
Vé lượt: Có giá trị sử dụng trong 1 lần đi xe Buýt. Giá vé đồng
hạng 3.000 - 4000 đồng - 5.000 đồng.
Vé tháng: gồm vé tháng ưu tiên (học sinh, sinh viên) và bình
thường
Loại vé Đối tượng ưu tiên Đối tượng bình thường
1 tuyến trừ tuyến 54 25.000đ/tháng 50.000đ/tháng
1 tuyến (tuyến 54) 40.000đ/tháng 80.000đ/tháng
Liên tuyến không có tuyến 54 50.000đ/tháng 80.000đ/tháng
Liên tuyến có tuyến 54 80.000đ/tháng 120.000đ/tháng
Vé tháng miễn phí: áp dụng cho thương binh, bệnh binh và những
người tàn tật.
Trên toàn thành phố, có 14 điểm đăng ký và bán vé tháng.
Hiện nay, số lượng khách đi xe buýt sử dụng vé tháng chiếm tỷ
trọng chủ yếu, giá vé tháng của đối tượng ưu tiên chỉ bằng 50% giá vé
bình thường. Tình trạng này dẫn đến việc nhà nước phải chịu bù lỗ khá
lớn.
- Công tác quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng.
Sau khi thành lập, Tổng Công ty vận tải Hà Nội đã triển khai chủ
trương lớn về đổi mới, hợp lý hóa sản xuất, tăng cường công tác quản trị
doanh nghiệp nhằm từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện
chiến lược phát triển của Transerco. Nhờ đó Tổng Công ty đã đạt được
nhiều thành tích lớn, số lượt khách được vận chuyển bằng xe buýt tăng
cao.
12
Tổng công ty tiến hành đẩy mạnh công tác cổ phần hóa: tính đến
đầu năm 2007, Hanoi Transerco đã cổ phần hóa xong công ty Đóng tàu,
công ty Vận tải đường biển, công ty Xăng dầu chất đốt và công ty vận tải
đường thủy Hà Nội.
2.3 Những vấn đề còn tồn tại của dịch vụ vận tải hành khách công
cộng bằng xe buýt.
Nhìn chung hệ thống hạ tầng xe buýt còn nhiều thiếu thốn, yếu
kém. Nhiều biển báo trong thành phố xuống cấp, toàn thành phố chỉ có
268 tấm bản đồ chỉ dẫn luồng tuyến xe buýt, hành khách khó tiếp cận đầy
đủ thông tin.
Cách bố trí điểm dừng chưa hợp lý, khoảng cách giữa các điểm
dừng ở nhiều nơi chưa đúng tiêu chuẩn, nhiều điểm dừng ở gần nút giao
cắt tạo ra nguy cơ tai nạn giao thông cao. Số lượng điểm dừng có nhà chờ
rất ít gây khó khăn cho hành khách khi gặp thời tiết xấu. Hầu hết các
điểm dừng đỗ xe chưa có điều kiện để người tàn tật tiếp cận tới xe buýt.
Nhiều tuyến đường còn quá nhỏ hẹp chưa đáp ứng được sự phát
triển của xe buýt. Xe buýt chưa có đường riêng, làn riêng; do vậy phải
chạy chung với dòng giao thông hỗn hợp, có nhiều phương tiện khác
nhau làm giảm tốc độ chạy xe, dễ gây va chạm và khó khăn khi xe buýt
tiếp cận điểm dừng. Hiện tại, trên địa bàn Hà Nội mới chỉ có đường
Nguyễn Trãi có làn đường riêng dành cho xe buýt.
Việc tổ chức luồng tuyến cũng chưa hợp lí, nhiều tuyến đường nhỏ
nhưng phải gánh chịu nhiều lượt xe buýt hoặc xe buýt lớn gây nguy cơ ùn
tắc giao thông cao. Ví dụ như đường Bưởi có chiều rộng là 7m nhưng
hàng ngày đón tiếp hàng trăm lượt xe buýt từ 7 tuyến ghé qua. Phố Hàng
Than chỉ rộng vẻn vẹn 7m nhưng cũng phải gánh 3 tuyến xe buýt với loại
xe 80 chỗ.
13
Lượng xe buýt vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu đi lại của người
dân trong giờ cao điểm.
Điều kiện bến bãi ở các bến xe liên tỉnh còn chật hẹp. Nhiều bến xe
còn nằm sâu trong nội thành gây ô nhiễm môi trường đô thị như bến xe
Kim Mã, Long Biên, Gia Lâm.
Kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông công cộng còn hạn
chế. Nhà nước thì phải chịu một khoản bù lỗ khá lớn.
Nhiều lái xe, phụ xe ý thức chấp hành chưa tốt, trình độ nghiệp vụ
và tay nghề chưa cao, ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ.
Chương 3
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét