Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

một số biện pháp thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả trong Ngành giao thông vận tải Việt Nam

LUẬN VĂN ĐƯỢC CHIA LÀM 3 CHƯƠNG:
Chương I : TỔNG QUAN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
Chương II : THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG
NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN (1993-1999)
Chương III : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG
ODA CÓ HIỆU QUẢ TRONG NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM
Em xin chân thành cảm ơn cô ; các cán bộ Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ
Kế hoạch-Đầu tư đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy, cô và bạn đọc đối
với bài viết.
C HƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA)
I. VAI TRÒ CỦA ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức-ODA (official development assistance),
đã xuất hiện từ rất lâu, sau chiến tranh thế giới thư hai, nó tồn tại cùng với
cách hiểu, đặc điểm, vai trò riêng như sau:
1. Các hình thức của ODA
1.1. Khái niệm
Theo cách hiểu chung nhất, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA-
official development assistance), là hình thức hợp tác phát triển giữa Chính
phủ nước nhận tài trợ và các đối tác tài trợ nước ngoài, bao gồm các Chính
phủ, các tổ chức quốc tế (UNDP, WB, IMF ), các tổ chức phi Chính phủ
(NGO) (sau đây gọi là nhà tài trợ). ODA được thực hiện thông qua việc
cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu
đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu
ODA là khoản vay ưu đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên). Về
thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một
quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ bên ngoài.
Hỗ trợ phát triển chính thức được hình thành và phát triển xuất phát
từ sự thoả thuận của các nước công nghiệp phát triển sau đại chiến thế giới
lần thứ hai về sự hỗ trợ dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay
với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển bằng kế hoạch Marshall
của Mỹ cung cấp viện trợ cho Tây Âu. Tiếp đó là các hội nghị CôlômBô
(năm 1955) hình thành những ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác
phát triển (OECD) (năm 1961) và Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC), các nhà
tài trợ đã tập hợp lại thành cộng đồng nhằm phối hợp các hoạt động chung
về hỗ trợ phát triển theo Nghị quyết của Liên Hợp Quốc, các nước giàu cần
trích 0,7% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của mình để thực hiện nghĩa vụ đối
với các nước nghèo.
1.2. Các hình thức của ODA
Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là tài trợ trực tiếp (chuyển giao
tiền tệ). Nhưng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) như hỗ trợ nhập
khẩu bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hoá vào trong nước qua hình thức
hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc có thể được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân
sách.
Tín dụng thương mại: Với các điều khoản “mềm” (lãi suất thấp, hạn
trả dài ) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hoá có ràng buộc.
Viện trợ chương trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là viện trợ khi
đạt được một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng
ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không phải
xác định một cách chnh xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.
Hỗ trợ cơ bản chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu
cống, đê đập, trường học, bệnh viện, hệ thống viễn thông ) Thông thường,
các dự án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng
thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó,
hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ.
Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng
cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu
trước khi đầu tư. Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ như
thường lệ, nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế,
quản lý, thống kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề xã hội,
2. Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu
Quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới là nhân tố quan trọng thúc đẩy
sự phân công lao động giữa các nước. Bản thân các nước cung cấp ODA
(các nước phát triển) nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác, giúp đỡ
các nước chậm phát triển. Bên cạnh đó còn nổi lên các vấn đề về bùng nổ
dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống trong sạch và an ninh, phòng
chống bệnh AIDS, Vì vậy, nguồn vốn này ngày càng tăng thêm với nhiều đối
tác tham gia.
Trong thời kì chiến tranh lạnh và đối đầu Đông Tây, trên thế giới
tồn tại ba nguồn ODA chủ yếu:
- Thứ nhất là Liên Xô cũ, Đông Âu;
- Thứ hai là các nước thuộc Tổ chức OECD;
- Thứ ba là các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ;
Hiện nay, trên thế giới có hai nguồn ODA chủ yếu: các nhà tài trợ đa
phương, và các tổ chức viện trợ song phương
* Các nhà tài trợ đa phương gồm các tổ chức chính thức sau:
+ Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc bao gồm:
- Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)
- Quỹ trẻ em Liên Hợp Quốc (UNICE )
- Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO)
- Chương trình Lương thực Thế giới (WFP)
- Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA)
- Tổ chức y tế Thế giới (WHO)
- Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO)
- Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFDA),
Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc đều
được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, ưu đãi cho các nước
đang phát triển, có thu nhập thấp và không bị ràng buộc các điều kiện chính
trị. Viện trợ này thường tập trung cho các nhu cầu có tính chất xã hội (văn
hoá, giáo dục, sức khoẻ, dân số, xoá đói giảm nghèo, ). Mặc dù còn có
một phần viện trợ phát triển song chỉ là thực nghiệm, thí điểm, phần tư vấn,
đào tạo thường chiếm tỷ lệ cao so với phần thiết bị.
Liên Hợp Quốc cấp vốn cho các tổ chức này hoạt động. Ngoài ra,
các tổ chức này cũng vận động các nước công nghiệp phát triển tài trợ thêm
vốn cho các chương trình hoạt động cụ thể của mình
- Các tổ chức tài chính quốc tế: là các cơ quan hợp tác phát triển
thông qua phương thức tài trợ tín dụng ưu đãi. Các tổ chức tài chính quốc
tế chính thức có quan hệ tài trợ cho Việt Nam gồm:
+ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Nhóm ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
- Liên minh Châu Âu (EU): Là tổ chức có tính chất kinh tế-xã hội
của 15 nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu (chủ yếu là Tây-Bắc Âu).
EU có quỹ lớn, song chủ yếu dành ưu tiên cho các thuộc địa cũ ở Châu Phi,
Caribê, Nam Thái Bình Dương, nay bắt đầu tập trung cho Đông Âu và mở
rộng quan hệ với một số nước Đông Nam Á (với Việt Nam từ tháng
11/1990).
- Các tổ chức phi Chính phủ (NGO). Trên thế giới có hàng trăm tổ
chức phi Chính phủ hoạt động theo các mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ
thiện nhân đạo, y tế, thể thao, tôn giáo ) Quỹ của các NGO thường nhỏ,
chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tài trợ của các Chính phủ.
Hiện nay có khoảng gần 150 NGO đã thiết lập quan hệ đối tác ở Việt
Nam, 20 NGO đã thành lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam.
- Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
- Quỹ Cô oét
* Các nước viện trợ song phương:
- Các nước thành viên Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) là những nước công nghiệp phát
triển, xuất khẩu tư bản: Áo, Bỉ, Canađa, Đan mạch, Pháp, Đức, Ai len, Hà
Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Thuỵ Điển, Vương Quốc Anh, Mỹ, Úc,
Niu-di-lân, Nhật Bản, Phần Lan, Lucxămbua. Trong đó, ODA từ các nước
thành viên DAC chiếm phần lớn nguồn viện trợ của thế giới và tăng liên
tục trong suốt 30 năm qua. Từ những năm 1970 đến nay Nhật Bản đã thực
sự đứng vào hàng ngũ các nước tài trợ chủ yếu, và từ năm 1993 Nhật Bản
trở thành nước cung cấp ODA lớn nhất thế giới. Tính chung cho DAC, từ
năm 1970 đến nay ODA về cơ bản tăng theo nhịp độ tăng trưởng ổn định ở
mức 0,32-0,33%. Tuy nhiên đã có sự thay đổi đáng kể tỉ lệ này ở các nước
thành viên trong những năm 80. Về khối lượng tuyệt đối, những khoản
đóng góp chủ yếu trong thời kỳ này thuộc về Nhật Bản và Pháp, hai nước
thành viên của DAC này tăng mức viện trợ của họ 3,5% mỗi năm. Bên
cạnh đó, thì một số thành viên khác có mức đóng góp cao hơn như: Phần
Lan, Ý, Na Uy, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Pháp, Thụy Điển, và
Canađa. Những nước còn lại tăng dưới 2% mỗi năm.
- Các nước đang phát triển, bao gồm:
Một số nước đang phát triển cũng có nguồn ODA cung cấp cho các
nước chậm phát triển. Năm 1990 (trước khi xảy ra chiến tranh Vùng Vịnh),
Ả rập Xê út đã cung cấp 3,7 tỷ đôla, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
0,9 tỷ đôla chủ yếu cho các nước thuộc thế giới Ả rập.
Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan cũng cung cấp trên dưới
100 triệu đôla ODA mỗi năm.
Các nước ASEAN vẫn là những nước nhận viện trợ, nhưng thời gian
gần đây Singapore, Thái Lan cũng bắt đầu cung cấp ODA cho các nước chậm
phát triển.
3. Vai trò của ODA đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Với đặc điểm của các nước phát triển có mức thu nhập bình quân
đầu người thấp, dưới 1000 USD/năm. Nhìn nhận về mức thu nhập này thay
đổi tuỳ theo quan điểm của từng nước, từng tổ chức đa phương. Ngân hàng
phát triển Châu Á (ADB) dành tín dụng từ quỹ phát triển Châu Á (ADF)
cho các nước có thu nhập bình quân đầu người dưới 650 USD với thời hạn
40 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 1%.
Với đặc điểm của nền kinh tế các nước nghèo có biểu hiện như nền
tảng hạ tầng xã hội lạc hậu không thúc đẩy được hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển dẫn đến năng suất lao động thấp. Năng suất lao động thấp
dẫn đến thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) thấp dẫn đến tiết kiệm
và đầu tư thấp. Tiết kiệm và đầu tư thấp dẫn đến làm giảm tốc độ tích luỹ
vốn. Vốn tích luỹ thấp sẽ không đầu tư vào đổi mới công nghệ nhằm tăng
năng suất lao động nên thu nhập đầu người thấp dẫn đến tiết kiệm và đầu tư
thấp dẫn đến tốc độ tích luỹ vốn thấp Đó là “cái vòng luẩn quẩn “, nếu
Chính phủ các nước này không có một chính sách đúng đắn sẽ không thoát
khỏi.
Điều quan trọng, trong chính sách của Chính phủ là cần có vốn để
tăng vốn đầu tư, với khối lượng lớn thì nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ đóng
vai trò rất quan trọng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có đặc điểm là
nguồn vốn phần lớn là của tư nhân, chỉ đầu tư vào những lĩnh vực đem lại
lợi nhuận cao, thời hạn thu hồi vốn ngắn nên không thể phù hợp để phát
triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong khi đó, ODA lại phù hợp do đặc
điểm là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Chính phủ nước ngoài
và các tổ chức quốc tế cho các nước đang phát triển là nguồn vốn cho phép
sử dụng trong thời gian dài, với lãi suất ưu đãi và chủ yếu dùng để đầu tư
vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội.
Tính ưu việt của ODA với hình thức thu hút vốn từ nước ngoài khác
(dưới dạng đầu tư trực tiếp, các khoản tín dụng nhập khẩu, đầu tư cổ phiếu
của người nước ngoài) là ở chỗ sự chuyển nhượng ODA mang tính chất
trợ giúp. ODA là hình thức tài trợ Chính thức của Chính phủ và các cơ
quan chính thức của nước viện trợ. Để phân biệt giữa viện trợ và cho vay,
các nước quy định với nhau là chỉ khi nào yếu tố cho không, nghĩa là bộ
phận không phải hoàn lại chiếm từ 25% tổng viện trợ trở lên, thì khoản
viện trợ đó gọi là ODA. Thời gian sử dụng vốn dài, từ 20 đến 50 năm và
gồm hai phần: thời kỳ ân hạn (miễn trả lãi) từ 5 đến 10 năm: thời gian chịu
lãi suất với lịch trả đa dạng: gồm nhiều giai đoạn và những tỉ lệ trả nợ khác
nhau ở từng giai đoạn.
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc kêu gọi các nước phát triển dành GNP
để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển và chậm phát triển, bắt đầu
từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Các nước đang phát triển, chậm phát
Tốc độ tích luỹ vốn thấp
Năng suất lao động thấp
Thu nhập bình quân đầu
người thấp
Tiết kiệm và đầu tư thấp
triển thiếu vốn để phát triển hay thiếu vốn tạo nên “chất xúc tác”, từ đó tạo
điều kiện khai thác các nguồn vốn đầu tư khác trong và ngoài nước. Vì vậy,
ODA đã ra đời, góp phần không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội, khi mà hiện trạng phát triển của chúng còn quá thấp kém so với các
nước tiên tiến có hàng chục năm phát triển. Chính phủ và các tổ chức tài
chính quốc tế cung cấp ODA cũng định hướng vào các dự án, chương trình
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: Năng lượng, Giao thông vận tải, Thuỷ lợi,
Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thông tin liên lạc, Y tế, Giáo dục, Kế hoạch hoá
gia đình, Giáo dục và đào tạo, Các vấn đề xã hội (xoá đói giảm nghèo, phát
triển nông thôn, miền núi, cấp nước sinh hoạt ), Bảo vệ môi trường, Hỗ
trợ nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và công nghệ, Viện trợ giúp điều chỉnh
cơ cấu, Chuyển đổi hệ thống kinh tế, Bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán
quốc tế, Cải cách các hệ thống tài chính và quản lý ngân sách. Đây là các
vấn đề cần phải giải quyết của các nước chậm phát triển để tiến đến với
các nước phát triển.
Nguồn ODA cung cấp cho các nước nhận viện trợ được hiểu là sự
trợ giúp bằng vật tư, thiết bị, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức
(cung cấp chuyên gia; đào tạo cán bộ; ) dưới các hình thức viện trợ không
hoàn lại, được thực hiện theo những thoả thuận kí kết bằng văn bản giữa
Chính phủ các nước nên nguồn ODA là một trong những nguồn quan trọng
của Ngân sách nhà nước, được sử dụng cho các mục tiêu ưu tiên của công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội là tạo điều kiện thuận lợi thu
hút các nguồn vốn khác. Gần đây, chỉ riêng việc Nhật Bản tăng vốn ODA
cho Việt Nam đã thúc đẩy các nhà đầu tư Nhật Bản tăng nhanh vốn đầu tư
trực tiếp vào Việt Nam.
Nguồn vốn ODA của Mỹ, Nhật và một số nước khác chủ yếu được
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nước Đông Á. Tác động của nguồn vốn
này có thể nhận thấy ở chỗ, cơ sở hạ tầng của các nước Đông Á được cải
thiện. Singapore, Malaixia, Thailan nhờ cơ sở hạ tầng phát triển mà có
điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ở
một số nước, điển hình như Philippin là nơi cơ sở hạ tầng kém phát triển
hơn họ đã đầu tư ít hơn vào nước này.
Bên cạnh những mặt góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội đối với các nước đang phát triển thì ODA cũng có những
hạn chế nhất định.
Do ODA là sự chuyển giao một tỷ lệ nhất định GNP từ quốc gia phát
triển sang các nước đang phát triển với những điều kiện tài chính mang tính
ưu đãi cao nên nó chứa đựng nội dung chính trị, xã hội. Nói cách khác, các
quốc gia viện trợ đều có mục đích riêng và có những ràng buộc nhất định
áp đặt cho nước nhận viện trợ. Như kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ sau
chiến tranh thế giới II, cung cấp viện trợ cho các nước Tây Âu bại trận sau
chiến tranh thế giới II này. Để nhận được viện trợ, các nước Tây Âu đã trở
thành công cụ đắc lực trong chính sách chống cộng của nhà cầm quyền Mỹ,
gây nên cục diện đối đầu Đông - Tây hàng thập kỷ. Cụ thể là để được nhận
viện trợ, các nước Tây-Âu phải thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô
và khối xã hội chủ nghĩa nói chung. Họ cũng phải chấp nhận việc Mỹ xây
dựng hàng trăm căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình.
Các nước viện trợ ngoài mong muốn ảnh hưởng về chính trị, các
nước nói chung đều cân nhắc đến lợi ích kinh tế của mình thu được khi bắt
bên nhận viện trợ của mình phải dùng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và tư
vấn trong nước của nước cung cấp. Bỉ, Đan Mạch, và Đức yêu cầu 50% số
tiền viện trợ phải dùng để mua hàng hoá, dịch vụ của nước mình. Tỷ lệ này
của Canađa cao nhất với 65%. Tính trung bình toàn nhóm DAC, 22% viện
trợ phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện
trợ.
Các nước nhận viện trợ, ngoài những thiệt thòi kể trên còn bị buộc
phải thực hiện những cải cách kinh tế theo khuôn mẫu do phía nhà tài trợ
đưa ra. Điển hình là WB và IMF chỉ viện trợ cho một số nước đang phát
triển khi nước này thực hiện những điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo tiêu
chuẩn và tiến trình của các tổ chức này yêu cầu.
Nước tiếp nhận viện trợ phải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ. Sự
lên giá của đồng tiền viện trợ trong thời gian vay sẽ là gánh nặng nợ cho
các nước tiếp nhận. Thông thường nước tiếp nhận không có quyền lựa chọn
đồng tiền để vay ODA, càng không có quyền sử dụng tiền địa phương làm
viện trợ mà buộc phải vay bằng đồng tiền của nước cung cấp ODA. Chẳng
hạn, Hiến pháp Nhật Bản quy định rõ chỉ cho vay, viện trợ bằng Yên Nhật.
ODA là nguồn vốn cần thiết trong quá trình phát triển của các quốc
gia đang phát triển .Nó có những ưu việt và những hạn chế nhất định. Các
nước đang phát triển cần phải nắm bắt được xu hướng vận động ODA của
thế giới để phát huy tính ưu việt và hạn chế bớt những vấn đề tồn tại đối
với mình.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ODA
Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số đặc điểm quan trọng
sau:
1. Tỷ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa
phương có xu thế giảm đi
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã
tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị, giữa các quốc gia ngày
càng được đẩy mạnh và tăng cường. Hoạt động của một số tổ chức đa
phương tỏ ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp
cho các tổ chức này. Điều đó là nguyên nhân chính tạo nên sự dịch chuyển,
tỷ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu
hướng giảm đi. Một trong các minh chứng cho điều đó là trong các năm
1980-1994 trong tổng số ODA của thế giới, tỷ trọng ODA song phương từ
67% tăng lên 69% trong khi đó tỷ trọng ODA đa phương giảm từ 33%
xuống 31%. Tại một số tổ chức quốc tế, nơi một số nước có nhiều ảnh
hưởng (có đóng góp lớn) thường chi phối các tổ chức này, hướng việc cung
cấp ODA vào việc thực hiện các mục tiêu chính trị và kinh tế của họ. Trước
tháng 10/1993, Mỹ đã không cho phép các tổ chức tài chính quốc tế IMF
và WB nối lại quan hệ với Việt Nam. ADB tích cực triển khai hợp tác tiểu
vùng, tiểu vùng sông Mê Kông mở, trên thực tế là hợp tác phát triển toàn
diện Đông Dương nằm trong chiến lược củng cố tư thế chính trị và vị trí
kinh tế của Nhật Bản ở Châu Á nói chung và ở khu vực Đông Nam Châu Á
nói riêng. Cùng với xu thế đó thì kết cấu ODA phần cho không giảm, phần
cho vay tăng lên (nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư)
2. Sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét