Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phi tập trung ở Việt Nam

Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
- Cùng với Sở Giao dịch chứng khoán, giữ cho giá cả dao động ở mức
thấp nhất thông qua việc kiểm tra chéo thông tin giá cả của các cổ phiếu.
II. VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA OTC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1. Những tác động tích cực của OTC
Thị trường chứng khoán (Thị trường chứng khoán tập trung và thị
trường OTC) là một thể chế tài chính bậc cao mà hoạt động của nó thông qua
các giao dịch cụ thể là mua bán, trao đổi cổ phiếu, trái phiếu với nhiều loại
hình khác nhau, phù hợp với tâm lý muôn vẻ của người dân, qua đó cho phép
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng và Chính phủ huy động
tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư và phát triển kinh tế.
Thị trường chứng khoán ra đời là một bước phát triển cao và hoàn
thiện của thị trường vốn, đồng thời nó cũng trở thành một công cụ quan trọng
của thị trường vốn. Công cụ này có những lợi thế rất căn bản so với các công
cụ khác (thị trường ngầm hoặc thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng),
cụ thể là:
Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC có tính thanh
khoản rất cao nên việc hình thành thị trường này sẽ thoả mãn được nhu cầu
của người có vốn và người cần có vốn.
Tâm lý của người có vốn là muốn để vốn ở nơi vừa có thể sinh lợi
nhuận cao nhưng lại vừa có thể dễ dàng rút vốn về khi cần thiết. Còn người
cần có vốn lại muốn huy động vốn với thời hạn dài, ổn định và với chi phí
thấp. Nếu gửi ngân hàng thì các yêu cầu trên không thể thoả mãn được cùng
một lúc. Song, nếu mua chứng khoán trong điều kiện đã có thị trường chứng
khoán, nhất là thị trường OTC, thì hai yêu cầu trên sẽ được thoả mãn: người
sử dụng vốn có thể mua chứng khoán, khi cần tiền mặt có thể bán chúng vào
bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng gì đến người sử dụng vốn.
5
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
5
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Ngoài ra, trong quá trình vận hành của nền kinh tế, luôn xuất hiện một
số quỹ có vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi như quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi,
quỹ tương hỗ. Hoạt động tách biệt giữa các khoản thu và chi của các loại quỹ
này đã dẫn đến việc thường xuyên có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi. Để
tránh tình trạng “vốn chết” trong qúa trình vận hành, các tổ chức quản lý quỹ
này thường gửi vào ngân hàng lấy lãi hoặc tham gia đầu tư vào thị trường
chứng khoán, nhằm tạo ra khả năng sinh lời cao hơn.
Thị trường OTC tạo ra nhiều cơ hội đầu tư khác nhau, với những mức
độ rủi ro khác nhau, có thể thoả mãn được yêu cầu của tất cả các đối tượng
trong xã hội. Các công ty vừa và nhỏ có thể tham gia huy động vốn cho phát
triển sản xuất kinh doanh v.v trong khi các nhà đầu tư (người có vốn) cũng
tiếp cận nhanh hơn với các đối tượng cần vốn và cơ chế giải phóng vốn thông
thoáng, dễ dàng hơn. Đó là vì các công cụ thị trường chứng khoán rất đa dạng
với nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu khác nhau (cả về thời gian, tính chất và
mức độ an toàn cũng như quy mô).
Thị trường OTC cùng với thị trường chứng khoán tập trung tạo thành
một hệ thống đánh giá giá trị doanh nghiệp và nền kinh tế một cách tổng hợp
nhất, chính xác nhất (kể cả giá trị vô hình và hữu hình) thông qua cung cầu,
giá cả và chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó cũng tạo ra môi
trường cạnh tranh rất mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới, tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm.
So với thị trường chứng khoán tập trung, thị trường OTC có cơ chế
rộng mở hơn nên cũng dễ dàng huy động vốn hơn và tính thanh khoản của
các loại chứng khoán trên thị trường này cũng cao hơn. Thông qua cơ chế
hoạt động của thị trường OTC, Chính phủ cũng có thể huy động các nguồn
vốn trong và ngoài nước phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế. Ở nhiều
nước có thị trường chứng khoán phát triển, các chứng khoán được niêm yết
trên thị trường chứng khoán tập trung thì cũng được tham gia vào thị trường
6
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
6
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
OTC, nhất là các chứng khoán của Chính phủ (trái phiếu Chính phủ, trái
phiếu chính quyền địa phương ).
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế. Nền
kinh tế tăng trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào các chính sách và
các biện pháp kinh tế của Chính phủ. Ngân sách Nhà nước càng lớn mạnh thì
khả năng thực hiện các mục tiêu, chiến lược kinh tế càng dễ dàng. Thông tin
qua thị trường chứng khoán, Chính phủ, chính quyền địa phương và các tổ
chức của Chính phủ có thể phát hành các loại trái phiếu Nhà nước bán cho
các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế xã hội để có tiền bù đắp thiếu hụt ngân
sách hoặc có vốn để xây dựng các công trình công cộng, các dự án của Nhà
nước
Các doanh nghiệp nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì cũng
có thể phát hành trái phiếu để vay vốn trên thị trường sơ cấp là nơi làm tăng
thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
(trong nước và nước ngoài) mà không làm tăng thêm lượng tiền trong lưu
thông.
Cũng như thị trường chứng khoán tập trung, thị trường OTC cũng là
một trong những công cụ kiểm soát và huy động các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Vốn đầu tư nước ngoài có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với
các nước có nền kinh tế đang phát triển. Trên thực tế, các khoản vốn đầu tư từ
nước ngoài thường được thu hút dưới hai hình thức, đó là đầu tư trực tiếp
thông qua các dự án sản xuất kinh doanh, và đầu tư gián tiếp thông qua các
định chế tài chính trung gian. Cả hai loại hình này nếu như không có TTCK
thì sẽ không phát huy hết được hiệu quả của nó. Bản thân các nhà đầu tư
nước ngoài khi xem xét về khía cạnh môi trường đầu tư, họ thường tính đến
khả năng sinh lợi, khả năng hoàn vốn cũng như khả năng chuyển đổi sở hữu
7
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
7
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
khi thấy cần thiết và điều đó chỉ có thể thực hiện được khi có thị trường
chứng khoán, nơi luôn tạo ra sự chu chuyển cho các luồng vốn đầu tư
(chuyển hoá tư bản từ trạng thái này sang trạng thái khác) và cung cấp các
thông tin một cách chính xác nhất để tìm hiểu các đối tác đầu tư.
Việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài còn được thể hiện thông qua
việc mua trực tiếp các chứng khoán là các cổ phiểu, trái phiếu của các công ty
trong nước và việc tham gia vào các công ty chứng khoán liên doanh hoặc
công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài. Điều này sẽ tạo ra tính sôi động
của thị trường trên cơ sở chứng khoán hoá các tài sản và nợ cho các doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho khả năng xâm nhập cũng như vươn ra thị trường
quốc tế cho các doanh nghiệp trong nước và tạo ra khả năng kiểm soát việc
tham gia sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài
Bên cạnh việc tạo ra sân chơi cho các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu
chuẩn niêm yết trên SGDCK, thị trường OTC cũng tạo tiền đề cần thiết để các
chứng khoán hội đủ các điều kiện sẽ được niêm yết trên thị trường chứng
khoán tập trung.
2. Những mặt hạn chế của OTC
Thị trường chứng khoán có tác dụng tích cực là công cụ huy động vốn
trung và dài hạn hữu hiệu mà hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường
đều sử dụng. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nó cũng có những nét
hạn chế nhất định, có thể gây ra những hậu quả khó có thể lường hết được,
làm ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường tài chính nói riêng và nền kinh
tế nói chung. Chính vì vậy, người ta thường ví thị trường chứng khoán như
con dao hai lưỡi, biết sử dụng thì sẽ mang lại rất nhiều sự tiện lợi nhưng
ngược lại không biết cách sử dụng và phát huy hiệu quả thì có thể gây rối
loạn trong nền kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn mở cửa hội nhập hiện nay,
nó có thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính mang tầm quốc
8
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
8
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
gia, khu vực và thế giới. Trong đó, những biểu hiện tiêu cực trên thị trường
chứng khoán thường thấy như:
Thị trường chứng khoán luôn chứa đựng yếu tố đầu cơ. Đây là yếu
tố rất khó kiểm soát trên SGDCK và lại càng khó kiểm soát hơn trên thị
trường OTC. Đầu cơ là một yếu tố có tính toán của những người chấp nhận
rủi ro. Họ có thể mua cổ phiếu với hy vọng giá sẽ tăng lên trong tương lai và
qua đó thu lợi nhuận.
Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho giá cổ phiếu có
thể tăng đột biến và giả tạo. Sự kiện này càng dễ xảy ra và trở nên rất nguy
hiểm khi có nhiều người cấu kết với nhau để đồng thời mua vào hay bán ra
một loại chứng khoán nào đó. Sự cấu kết giữa những người đầu cơ đó sẽ tạo
ra một sự khan hiếm hay thừa thãi giả tạo làm cho giá chứng khoán có thể
tăng lên hay giảm xuống một cách đột ngột, gây nhiều tác động tiêu cực đến
thị trường.
Hiện tượng giao dịch nội gián thường xảy ra trên thị trường chứng
khoán. Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm bắt, tiếp xúc được với những
thông tin nội bộ cũng như các thông tin quan trọng khác, không được phép
công bố của doanh nghiệp và sử dụng các thông tin đó cho giao dịch nhằm
thu lợi bất chính thì được gọi là giao dịch nội gián.
Thị trường chứng khoán là nơi chứa đựng các thông tin nhiều chiều,
trong đó có các thông tin từ nội bộ công ty cũng như các thông tin từ sở giao
dịch, có thông tin chính thức được phổ biến và có thông tin chưa được phép
phổ biến. Hoạt động giao dịch nội gián được xem là một hành động phi đạo
đức về mặt thương mại, vì một số người sử dụng các thông tin không được
công bố để trục lợi và hành động này đã đi ngược với nguyên tắc của thị
trường là các nhà đầu tư đều có quyền bình đẳng và công khai thông tin như
nhau. Luật pháp về thị trường chứng khoán đã có những điều khoản nghiêm
9
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
9
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
cấm về hành vi giao dịch nội gián. Ở Việt Nam, việc mua bán nội gián cũng
là một hành vi bị cấm.
Thông tin sai sự thật: Việc thông tin sai sự thật về hoạt động của công
ty cũng như các chứng khoán giao dịch trên thị trường, tạo ra sự hoảng loạn
của thị trường, dẫn đến tình trạng bán ồ ạt một loại chứng khoán nào đó với
giá quá thấp làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó phục
vụ cho mục tiêu, ý đồ phá hoại công ty hoặc mua vào các chứng khoán với
giá thấp để nắm giữ , thao túng hoặc thâu tóm công ty.
Việc phao tin đồn gây bất lợi cho các nhà đầu tư chân chính thường
được gắn liền với các hoạt động như đầu cơ, trục lợi, lũng đoạn thị trường.
Ngoài ra, cũng cần xét đến yếu tố chính trị tác động bên ngoài do phá hoại thị
trường và biến động dây chuyền từ các Sở Giao dịch chứng khoán. Thông tin
sai sự thật cũng là một trong các hành vi bị cấm trên thị trường chứng khoán
ở Việt Nam.
Dễ huy động vốn, đồng thời cũng dễ bị rút vốn ồ ạt gây nên khủng
hoảng thị trường: Cơ chế vận hành thị trường chứng khoán cho phép các nhà
đầu tư có thể tiến hành đầu tư một cách nhanh chóng, tuy nhiên các đối tượng
đầu tư cũng hàm chứa một tính lỏng rất cao (việc rút vốn nhanh), nhất là trên
thị trường OTC. Chính vì điều này, nhiều lúc đã gây nên những tác hại không
thể lường trước đối với thị trường. Khi một lĩnh vực đầu tư nào đó có xu thế
cao, nhiều khi giá chứng khoán được đánh giá cao hơn rất nhiều so với giá trị
thực.
Tuy nhiên, khi có những xu hướng biến động bất lợi có ảnh hưởng đến
giá chứng khoán, các nhà đầu tư lại bán tống, bán tháo các loại chứng khoán
nhằm thu hồi vốn, bảo vệ lợi ích đầu tư và đồng vốn, điều này trong thực tế
đã gây ra không ít trường hợp làm thị trường hoảng loạn và có thể dẫn đến
sụp đổ. Bài học thực tế qua ba lần khủng hoảng thị trường chứng khoán quốc
10
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
10
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
tế (1929, 1987 và 1997) là một minh chứng điển hình cho việc rút vốn ồ ạt
dẫn đến khủng hoảng thị trường chứng khoán.
IV. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA OTC
Về bản chất, chứng khoán là “tư bản giá”, khác hẳn so với các loại
hàng hoá thông thường khác, do đó, thị trường chứng khoán là một loại thị
trường đặc biệt, tuy có rất nhiều người tham gia nhưng lại có rất ít người có
khả năng phân tích và xác định được giá cả của chứng khoán trên thị trường,
nhất là đối với thị trường OTC. Chính vì vậy, mọi sự cấu kết hoặc mua bán
nội gián xảy ra sẽ gây tác hại rất lớn cho người đầu tư và cho nền kinh tế. Để
hạn chế khiếm khuyết trên, tất cả các thị trường OTC đều đưa ra những
nguyên tắc hoạt động. Trong đó, có một số nguyên tắc đã được tiêu chuẩn
hoá và trở thành chuẩn mực quốc tế, đó là:
1. Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trong lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công
chúng và kinh doanh chứng khoán trên OTC đều phải công khai. Công khai
về hoạt động của nhà phát hành, công khai về các loại chứng khoán được
chào bán, chào mua, công khai về giá cả, số lượng chứng khoán được mua,
bán .
Bản thân các công ty có chứng khoán niêm yết phải có nghĩa vụ công
bố thông tin theo định kỳ, tức thời và thông tin theo yêu cầu một cách trung
thực và đầy đủ cho các nhà đầu tư, ví dụ trong trường hợp công ty phát hành
có những thay đổi như: Thay đổi tên hay địa chỉ của trụ sở chính; tăng hay
giảm vốn; Khi hoá đơn, séc đã phát hành hết hạn hay khi các giao dịch với
ngân hàng bị đình chỉ; Khi các vụ kiện tụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến
việc quản lý công ty, ảnh hưởng không tốt đến công ty; Sát nhập với một
công ty khác; Các hoạt động kinh doanh bị đình chỉ Ngoài ra các tổ chức
11
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
11
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
phát hành phải nộp các báo cáo định kỳ như báo cáo kinh doanh, báo cáo
kiểm toán, danh sách cổ đông.
2. Nguyên tắc trung gian
Giao dịch mua bán chứng khoán qua thị trường OTC cũng tuân theo
các nguyên tắc chung về thị trường chứng khoán đó là phải qua các trung
gian thị trường, tức là qua các công ty môi giới chứng khoán; còn giá giao
dịch được hình thành theo nguyên tắc thoả thuận.
Nguyên tắc trung gian là căn bản cho việc tổ chức và hoạt động của thị
trường chứng khoán (thị trường chứng khoán tập trung và thị trường OTC).
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng
khoán thực, thị trường chứng khoán hoạt động được lành mạnh, hợp pháp và
ngày càng phát triển, bảo vệ được lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư. Bởi lẽ,
trong số các nhà đầu tư chứng khoán không phải ai cũng hiểu biết và nhận
thức được hết tính chất phức tạp của chứng khoán. Chính vì vậy, nếu không
có những người môi giới chứng khoán có kỹ năng phân tích dựa trên những
căn cứ xác đáng một cách kỹ lưỡng, thì người đầu tư có thể bị nhầm lẫn hoặc
bị lừa gạt. Nguyên tắc trung gian trong giao dịch chứng khoán được thể hiện
thông qua các nhà môi giới và các nhà kinh doanh chứng khoán.
Đối với các nhà môi giơí trung gian, họ được hưởng hoa hồng trên cơ
sở môi giới giao dịch cho khách hàng. Khách hàng có thể sử dụng hoàn toàn
các dịch vụ từ nhà môi giới (môi giới trọn gói), trên cơ sở các nhà môi giới
cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng,
như đại diện cho khách hàng để thương lượng, mua bán chứng khoán, thay
mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán, nhận chi
trả cổ tức cho khách hàng, và có thể đáp ứng cho khách hàng trong các
nghiệp vụ mua trước, bán sau (giao dịch bảo chứng), hoặc liên quan đến vấn
đề tư vấn, lựa chọn đầu tư vào các loại chứng khoán. Ngoài ra các trung gian
12
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
12
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
môi giới cũng có thể chỉ nhận môi giới một phần dịch vụ các nhà đầu tư yêu
cầu, như việc chỉ làm trung gian mua bán một số loại chứng khoán nào đó
mà thôi.
Đối với các nhà kinh doanh chứng khoán, đó là những trung gian giao
dịch trên thị trường, nhưng không phải môi giới giao dịch cho khách hàng mà
cho chính bản thân họ (tự doanh), chính bằng nguồn vốn đầu tư của họ, để
hưởng mức chênh lệch giá trong quá trình kinh doanh. Quá trình giao dịch
cho bản thân, các nhà kinh doanh chứng khoán với mục tiêu theo đuổi lợi
nhuận, nên có thể gây ra các hiện tượng đầu cơ, thao túng, làm sai lệch giá
cả, gây ra biến động giá chứng khoán. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh chứng
khoán này vừa có thể là các nhà giao dịch tự doanh, vừa là các nhà tạo lập thị
trường. Khi cung chứng khoán lớn hơn cầu, giá hạ, họ sẽ là người mua vào,
và ngược lại khi cầu chứng khoán lớn hơn cung họ sẽ là người bán ra, nhằm
mục đích bảo đảm cho thị trường được vận hành liên tục và không bị gián
đoạn. Do vậy, trong cơ cấu của thị trường chứng khoán không thể thiếu các
nhà kinh doanh chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường.
3. Nguyên tắc thực hiện công bằng
Các chuyên gia chứng khoán và các nhà tạo lập thị trường trên thị
trường OTC đều là những người được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do
họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, vì vậy họ có
nhiều khả năng là những đầu mối làm “rò rỉ” thông tin khi có sự biến động
thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có
thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện
kinh doanh cho chính mình nhằm thu lợi nhuận. Do vậy, những đối tượng này
thường bị kiểm soát rất chặt chẽ và đều phải khách quan, công bằng đối với
tất cả các khách hàng.
V. CÁC ĐỐI TƯỢNG THAM GIA OTC
13
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
13
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Những nguyên tắc hoạt động trên đòi hỏi việc mua bán chứng khoán
trên thị trường OTC không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa người mua và
người bán, mà phải có sự tham gia của một số đối tượng khác, trước hết là
người làm trung gian, môi giới và người tổ chức việc mua bán, định giá.
Đồng thời, để đảm bảo sự an toàn của thị trường, sự tham gia, quản lý giám
sát của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán là hết sức quan trọng. Như
vậy, có thể thấy thị trường OTC bao gồm một số đối tượng tham gia cơ bản
như sau:
1. Hàng hoá cho thị trường
Việc buôn bán chứng khoán trên các SGDCK bị giới hạn trong những
chứng khoán của các công ty lớn với những điều kiện niêm yết quy định khá
chặt chẽ.Còn thị trường OTC tiến hành buôn bán nhiều loại chứng khoán
khác nhau, bao gồm: các cổ phiếu của các công ty cổ phần, công ty bảo hiểm,
các chứng khoán của Chính phủ và địa phương, cổ phiếu của các quỹ tương
hỗ v.v. Hầu như tất cả các chứng khoán được phát hành đều được buôn bán
trên thị trường OTC. Sau đó, một số chứng khoán mới được niêm yết và buôn
bán trên các sở giao dịch chứng khoán. Số còn lại sẽ vẫn tiếp tục buôn bán
trên thị trường OTC.
2. Các nhà môi giới và các nhà tạo giá
Nhà tạo giá, nói chung, là một công ty có hoạt động kinh doanh chứng
khoán cho riêng mình (tự doanh) và được công nhận tư cách tạo giá đối với
một số lượng chứng khoán nào đó. Ở thị trường sàn giao dịch đó là các
chuyên gia trên sàn (specialist) còn trên thị trường OTC, nhà tạo giá là các
nhà buôn chứng khoán (dealers) tham gia cung cấp giá rao mua (bid) và chào
bán(offer) liên tục cho một chứng khoán đặc thù nào đó.
14
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét