Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing.doc

Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất
đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên.
1.4. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột
thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu
phàn nàn do Nhật Bản có thặng du thương mại còn các nước kia bị thâm hụt
thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường
đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay
tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang.
Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị
trường Bắc Mỹ và châu Âu.
1.5. Khai thác chuyên gia và công nghệ
Dòng vốn FDI không chỉ chảy từ các nước phát triển sang các nước
đang phát triển mà chảy tới khắp mọi nơi, từ các quốc gia phát triển tởi câc
nước phát triển. hai quốc gia thu hút được nhiều FDI nhất trên thế giới là Anh
và Mỹ- hai quốc gia có nền kinh tế rất phát triển. sỏ dĩ như vậy vì dòng FDI
luôn chảy về những nơi “trũng”, những nơi có lợi thế so sánh tương đối so với
các quốc gia khác. Nguồn chuyên gia và công nghệ là nguồn lực chất xám
quan trọng, vì vậy khai thác chuyên gia và công nghệ cũng là mục đích của
FDI.Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ
chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các tập đoàn ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận
thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia Mỹ.
1.6. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Không phải quốc gia nào cũng được ưu ái cho một nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú để khai thác như Mỹ. Nhật Bản là một quóc gia nghèo
tài nguyên thiên nhiên. Có ý kiến cho rằng, một nền kinh tế chỉ có thể vận
hành nếu có 16 loại tài nguyên thiên nhiên, nhưng không có quốc gia nào có
đủ 16 loại tài nguyên trên, Nhập khẩu tài nguyên là một giải pháp, nhưng rất
nhiều các công ty đa quốc gia, với lợi thế của mình đã tìm đến các quốc gia
giàu có về tài nguyên thô để đầu tư. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này
2. Vai trò của FDI với các nước nhận đầu tư
2.1. Bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Các lí thuyết kinh tế và thực tiến đã chứng minh rằng vốn là nguồn lực quan
trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Về mặt vĩ mô, vốn cho sản
xuất và kinh doanh có thể được huy dộng từ hai nguồn: vốn trong nước và
Đề tài nghiên cứu khoa học
5
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
vốn nước ngoài.
So đồ về nguồn vốn huy động của một quốc gia
Với các quôc gia đang phát triển, theo Samuleson, các nước này sẽ
không thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo dói nếu không huy động được
nguồn vốn từ bên ngoài cho sự phát triển kinh tế. nguồn vốn bên ngoài được
huy động và sử dụng có hiệu quả sẽ làm tăng trường kinh té, nâng cao thu
nhập và tạo tích lũy nội bộ cho nền kinh tế. Trong các nguồn vốn nước ngoài
thì nguồn vốn FDI là nguồn vốn khắc phục được các ưu điêm của các nguồn
vốn kia do các đặc điểm vốn có của nó.Vốn FDI do chủ đầu tư trực tiếp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì nguồn vốn tín dụng, và vốn tài trợ
phát triển chính thức ( ODF) đem lại gánh nặng trả nợ cho nước tiếp nhận
vốn. bên tiếp nhận cũng trực tiếp sử dụng và quản lí nguồn vốn này. Các nước
đang phát triển với trình độ quản lí yếu kém và khoa học công nghệ lạc hậu sẽ
khó sử dụng hiệu quả, nguy hại hơn, sẽ gây ra hiệu ứng” tuyết lăn” đối với
các khoản nợ cho thế hệ sau. ODF cón thường đi kèm với các rang buộc phi
kinh tế khác. Trong khi FDI do chủ đầu tư trực tiếp quản lí và chịu trách
nhiệm lỗ lãi, lại không thường đi kèm với các rang buộc phi kinh tế. Hơn nữa,
nguồn vốn này có thể huy động không giới hạn, tùy thuộc vào năng lực huy
động và hấp thụ của bên tiếp nhận đầu tư. Trong điều kiện hiện nay khi mà
trên thế giới đang nắm giữ trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và có nhu
Đề tài nghiên cứu khoa học
Vốn
Vốn trong nước
Vốn nước ngoài
Vón nhà nước
Vốn từ khu vực dân
doanh
Vốn tín dụng
Tài trọ phát triển chính
thức
Đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Nguồn huy động qua
thị trường vốn quôc té
6
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
cầu đâu tư ra nước ngoài thì đó sẽ là cơ hội để các nước đang phát triển có thể
tranh thủ nguồn vốn này, để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế.
Không chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển,
với các nước phát triển, FDI vẫn là nguồn vốn bổ sung quan trọng và có ý
nghĩa to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia này. Thực tế
thì chính các nước công nghiệp phát triển vừa là những nước đầu tư ra nước
ngoài nhiều nhất, nhưng cũng đồng thời là những nước tiếp nhận nhiều FDI
nhất. Trong năm 1994, các nước phát triển đầu tư ra nước ngoài chiếm tới
85% vón đầu tư trực tiêp nước ngoài nhưng lại nhận trở lại tới 60%. Xu
hướng này xuất phát từ lợi ích của các nhà đầu tư khi tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế, mỗi nước sẽ phát huy được những lợi thế của
mình, khai thác các thể mạnh của cac quốc gia khác để phát triển nền kinh tế
của mình
2.2. Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý:
Công nghệ và bí quyết quản lí cũng là nguồn lực quan trọng của tăng
trưởng và phát triển của một quốc gia. Thiếu vốn có thể khắc phục bằng chính
sách tăng tỉ lệ tiết kiệm nhưng công nghệ và bí quyết quản lí thì không thể có
được trong ngày một ngày hai, hơn nữa đầu tư vào công nghẹ nội sinh thường
đỏi hỏi vốn rất lớn trong khi rủi ro cao. Thông qua hoạt động đầu tư FDI, bên
nhận đầu tư có thê tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lí thông qua hoạt động
chuyển giao công nghệ thông qua các hình thức hợp tác, liên doanh, BOT,
BTO… tuy nhiên hiệu quả của sự hấp thu về công nghệ và bí quyết quản lí lại
phụ thuộc rất lớn vào khả năng hấp thụ của bên tiếp nhận đầu tư.
2.3. Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hut FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ mở ra cơ hội tham gia
mạng lưới kinh doanh toàn cầu không chỉ cho các công ty sử dụng vốn FDI ở
nước nhận đầu tư mà cả các công ty có mối quan hệ đối tác với các công ty
này. Chính vì vậy thu hút FDI tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước
tham gia vào mạng lưới sản xuất kinh doanh toàn cầu, đẩy mạnh hoạt dộng
xuất khẩu, và giúp cho nước nhận dầu tư hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế
giới
2.4.Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công
Như đã phân tích ở trên, các nhà đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài
nhằm mục đích hạ chi phí sản xuât, và tận dụng các nguồn lực với giá thấp.
Vì thế các doanh nghiệp FDI thường sử dụng nhiều lao dộng ở dịa phương-
Nhân tố vốn được coi là sẵn có với chi phí thấp nhất là ở các nước đang phát
triển. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng
Đề tài nghiên cứu khoa học
7
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê
mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới
mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung
cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI.
Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương
cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
2.5. Nguồn thu ngân sách lớn cho địa phương
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương,
thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách
quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô
tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.
Những tác động tiêu cực tới bên tiếp nhận đầu tư: bên cạnh những
tác động tích cực, FDI cũng mang lại những tác động tiêu cực cho bên
nhận đầu tư, nhưng các tác động tiêu cực naỳ chủ yếu là ở dạng nguy cơ
và hoàn toàn có thể kiểm soát được nếu bên tiếp nhận đầu tư “tỉnh táo”
trong thu hút và sử dụng FDI
• Cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
• Phá sản các doanh nghiệp địa phương do gặp một thế lực cạnh
tranh quá lớn
• Nguy cơ ô nhiễm Môi trường
• Ânh hưởng tới Phong tục tập quán của địa phương
• Tăng Sự lệ thuộc vào nước ngoài
• Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ
Tuy nhiên những hạn chế này có thể được khắc phục nếu các cơ quan
quản lí nhà nước tỉnh táo trong thu hút và thực hiện dự án FDI
B. Các khái niệm cơ bản của lí thuyết Marketing
I. Các khái niệm cơ bản của lí thuyết Marketing
1. Marketing
Chúng ta thường quen hiểu và dịch marketing thành tiếp thí. Nhưng từ
marketing có nghĩa gốc rộng hơn rất nhiều so với từ “tiếp thị”. Theo giáo sư
Phillip Kolter: Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao
đổi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của con người.
Marketing là một dạng hoạt động của con người, nhằm thỏa mãn các
nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.
Đề tài nghiên cứu khoa học
8
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
2. Sản phẩm
Là tất cả những yếu tố, những cái có thể thỏa mãn nhu cầu, hay ước
muốn, được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý
mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng
Cần phải nhận thấy rằng khi một khách hang mua một hang hóa hay
dịch vụ thì điều họ quan tâm không phải là bản than hang hóa mà là những lợi
ích do việc tiêu dùng hang hóa đó đem lại. Như vậy, những sản phẩm mà
người kinh doanh đem bán chỉ la những phương tiện truyền tải những lợi ích
mà người tiêu dùng chò đợi.
Nhà kinh doanh phải xác định chính xác các nhu cầu mong muốn và do
đó là những lợi ích mà người tiêu dùng cần được thỏa mãn, Từ đó sản xuất ra
các hang hóa và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lọi ích cho người tiêu
dùng.
3. Khách hàng
Khách hàng là tất cả các cá nhân hay tổ chức nào thamgia vào kênh
phân phối hay quyết định (không phải đổi thủ cạnh tranh) mà hành động của
họ có thể tác động tới việc mua sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Cần chú ý
một số điểm trong định nghĩa về khách hàng ở trên:
• Khách hàng bao hàm cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm
năng mà công ty tiềm kiếm trong tương lai.
• Doanh nghiệp nên tập trung vào những cá nhân hay tổ chức có thể
gây ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm hay dịch vụ của công
ty
• Khách hàng tồn tại ở cả hai cấp độ: vi mô và vĩ mô. Ỏ cấp độ vi mô
khách hàng là các cá nhân có quyền ra quyết dịnh hay có tầm ảnh
hưởng trong tổ chức. Ở tầm vĩ mô, khách hàng là một đơn vị tổ
chức doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình. Đứng ở góc độ Marketing,
khách hàng luôn là các cá nhân, các tổ chức không ra quyết định mà
là các cá nhân trong tổ chức ra quyết dịnh. Chính vì vậy nhận diện
khách hàng là điều hết sức cần thiết và quan trọng.
Công ty có khách hàng trực tiếp và khách hàng gián tiếp. khách hàng
trực tiếp là khách hàng trao tiền hoặc hàng để đổi lấy sản phẩm của công ty,
còn khách hàng gián tiếp là khách hàng nhận sản phẩm của công ty từ các
trung gian. Quá trình ra quyết định mua hàng của khách hàng
Khách hàng khi mua hàng quan tâm tới hái khía cạnh: đó là giá trị
tiêu dùng và chi phí. Giá trị tiêu dùng đối với một hàng hóa là sự đánh giá của
Đề tài nghiên cứu khoa học
9
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
người tiêu dùng vể khả năng của sản phẩm trong việc thỏa mãn nhu cầu của
họ. Còn chi phí là tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có
được những lợi ích do tiêu dùng hàng hóa đó đem lại.
Am hiểu nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng, ví khách hàng
không mua sản phẩm khi người bán nói là nó có chất lượng tốt mà sẽ mua nó
khi nó thỏa mãn một nhu cầu nào đó của mình. Am hiểu nhu cầu của khách
hàng mới có thể thỏa mãn nhu cầu của họ, gìn giữ họ, và tăng số lượng khách
hàng lên cao hơn trong tương lai.
4. Thị trường
4.1. Khái niệm thị trường
Có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường tùy theo góc độ tiếp cận
 Theo cách tiếp cận của nhà kinh tế học thì Thị trường là một sự sắp
xếp qua đó người mua và người bán một loái sản phẩm tương tác
Đề tài nghiên cứu khoa học
4.Đưa ra
lựa chọn
1. Nhận
biết các
vấn để
5. Các quá
trinh hậu
mãi
2. Thu thập
thông tin
3.Đánh giá
các lựa
chọn thay
thế
Quá trình
ra quyết
định của
Khách
10
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
với nhau để quyết định giá cả và sản lượng. Hay dơn giản hơn, thị
trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán để mua bán hay
trao đổi một sản phẩm hang hóa hay dịch vụ nào đó.
 Theo cách tiếp cận của Marketing: Thị trường bao gồm những cá
nhân hay tổ chức thích thú và mong muốn mua một sản phẩm cụ thể
nào đó để nhận được những lợi ích thỏa mãn một nhu cầu, ước
muốn cụ thể, và có khả năng( tài chính và thời gian) để tham gia
trao đổi này. Đây là định ngĩa chỉ xem xét thị trường dưới góc độ:
người bán tạo thành ngành kinh doanh, còn người mua tạo ra thị
trường.
Như vậy là hai khái niệm về thị trường của nhà Kinh tế học và
Marketing có sự khác nhau. Nhà kinh tế học cho rằng thị trường bao gồm hai
đối tượng là người mua và người bán, còn theo nhà Marketing thì thị trường
chỉ bao gồm những người mua. Vậy điều gì đã dẫn tới sự khác biệt trong quan
niệm này? Sở dĩ như vậy là do nhà Marketing đững ở vị trí người bán để nhìn
nhận thị trường, cho nên theo anh ta, thị trường chỉ bao gồm những người
mua. Còn nhà kt đứng ngoài thị trường để phân tích thị trường cho nên họ
thấy thị trường bao gồm cả người mua và người bán.
Với cách tiếp cận thị trường từ góc độ người bán, trong Marketing
thuật ngữ khách hang và thị trường thường được dùng thay thế cho nhau.
Cần lưu ý là khái niệm thị trường của Marketing còn chỉ ra mục tiêu
của khách hang trong hành vi mua hang là để nhằm thỏa mãn nhu cầu, ước
muốn cụ thể và nhu cầu này phải có khả năng thanh toán. Ta sẽ phân tích kĩ
hơn nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng ở phần sau.
4.2. Phân loại thị trường:
Dựa vào hành vi và mục đích tiêu dùng sản phẩm của người tiêu dùng,
thị trường được phân ra thành: thị trường sản phầm tiêu dùng và thị trường
sản phầm công nghiệp( hay còn gọi là thị trường các tổ chức)
• Thị trường sản phẩm tiêu dùng là thị trường mà khách hang là cá
nhân và hộ gia đình. Khách hang mua sản phẩm để phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng cho cá nhân và cho hộ gia đình.
• Thị trường tổ chức là thị trường mà khách hang là những tổ chức.
Các tổ chức này tiêu dùng sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp cho việc vận hành của tổ chức mình.
Dựa vào đặc tính vô hình hay hữu hình của sản phẩm trao đổi trên thị
trường:
Đề tài nghiên cứu khoa học
11
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
• Thị trường sản phẩm vô hình
• Thị trường sản phẩm hữu hình
4.3. Phân khúc thị trường:
Khái niệm:phân khúc thị trường là chia thị trường của một sản phẩm
hang hóa hay dịch vụ thành nhiều nhóm nhỏ, gọi là các phân khúc. Các khách
hang trong cùng một phân khúc thị trường có hành vi tiêu dùng tương tự nhau
và khác biệt với các khách hang ở các phân khúc khác. Nhà Marketing không
tạo ra các phân khuc mà chỉ nhận dạng các phân khúc và từ đó tạo cơ sở cho
các Doanh nghiệp lựa chọn phân khúc thị trường phù hợp.
Cơ sở để phân khúc thị trường là “một tập hợp các biến hay đặc tính sử
dụng để phân nhóm khách hàng thành các nhóm có tính đồng nhất cao”. Có
nhiều cách phân khúc thị trường tuy nhiên không phải cách phân khúc nào
cũng có hiệu quả. Căn cứ vào đặc tính sản phẩm để có cách phân khúc thị
trường cho hợp lí và khoa học.
4.4. Khách hàng mục tiêu
Phân khúc thị trường có vai trò rất quan trọng trong việc xác định và
lựa chọn khách hang mục tiêu của doanh nghiệp
Chọn thị trường mục tiêu là đánh giá và lựa chọn một hoặc một vài
phân khúc thị trường thích hợp cho doanh nghiệp
Trong khi quá trình phân khúc thị trường đem đến kết quả là hình
thành nhiều phân khúc thị trường thì bản thân phân khúc thị trường không
đem đến thông tin gì về hành động mà doanh nghiệp cần phải thực hiện, Điều
quan trọng là Doanh nghiệp phải quyết định với phân khúc thị trường nào thì
doanh nghiệp có thể sử dụng có hiệu quả nhất các điểm mạn của Doanh
nghiệp và khai thác các điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh của mình, nhằm
có thể kết nổi tương xúng nhất những nhu cầu của khách hang với đề nghị
chào hang của doanh nghiệp . Hay nói cách khác, Doanh nghiệp phải lựa chọn
phân khúc thị trường hấp dẫn nhất để Doanh nghiệp tiếp cận. Tiếp theo là xã
định mức độ mà doanh nghiệp có thể huy động những nguồn lực để thỏa mãn
những nhu cầu của kahch hang ở phân khúc mà Doanh nghiệp đã lựa chọn.
Hai tiêu chí để lựa chọn thị trường mục tiêu:
i. Mức độ hấp dẫn của từng phân khúc (Marketingket segment athị
trườngractivement)
ii. Nguồn lực của Doanh nghiệp (businesse strength)
Đề tài nghiên cứu khoa học
12
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
C. Thu hút FDI dưới góc độ Marketing
I. Thị trường Thu hút FDI
1.Sản phẩm địa phương
Sản phẩm địa phương có những đặc điểm khác biệt các hàng hóa thông
thường khác.
 Sản phẩm địa phương không phải là kết quả của quá trình sản xuất
nào, cũng không có quy cách cụ thể. Mỗi địa phương là một sản
phẩm duy nhất, với những điều kiện khác nhau về vị trí địa lí, về
không gian, điều kiện tự nhiên, văn hóa – xã hội… mỗi địa phương
là sản phẩm của sự vận động và phát triển của chính lịch sử địa
phương đó.
 Sản phẩm địa phương không có giới hạn về tuổi thọ, không có chu
trình sống. Bản thân mỗi địa phương vẫn luôn trong quá trình “ tự
sản xuất”.
 Sản phẩm địa phương bất động về mặt không gian nhưng lại không
ngừng vận động. Đó là kết quả của sự vận động không ngừng của
các yếu tố cấu thành địa phương và sự tương tác lẫn nhau và với các
yếu tố khác ở bên ngoài phạm vi không gian địa phương.
 Sản phẩm địa phương là sự tổng hòa của các mối quan hệ về địa li-
kinh tế- chính trị- văn hóa – xã hội, trong đó con người là trung tâm.
Thông qua hoạt động của mình, con người vừa đóng vai trò như một
nhân tố cấu thành địa phương dồng thời cũng là người cải tạo sản
phẩm địa phương, theo cả hướng tích cực và tiêu cực.
 Sản phẩm địa phương với tư cách như một sản phẩm có thể được
chào bán cùng lúc trên nhiều thị trường khác nhau: thị trường du
lịch, thị trường đầu tư, thị trường xuất nhập khẩu, thị trường dân
cư… với mỗi thị trường lại có những khách hàng khác nhau. Mỗi thị
trường lại có thể chia nhỏ thành các phân khúc thị trường khác
nhau…. Các thị trường này tuy cùng “kinh doanh” một sản phẩm
địa phương song lại có những đặc tính khác nhau. Để tài này chỉ
dừng lại ở việc phân tích địa phương trong thị trường đầu tư FDI,
một phân khúc trong thị trường đầu tư.
2. Thị trường
Như trên đã nói, với cùng một sản phẩm địa phương, dưới góc độ
Marketing, Có thể khai thác địa phương trên bốn thị trường chủ yếu sau:
• Thị trường du lịch
• Thị trường dân cư
Đề tài nghiên cứu khoa học
13
Thu hút FDI vào Bắc Ninh- phân tích dưới góc độ Marketing
• Thị trường đầu tư
• Thị trường thương mại
Trong thị trường đầu tư có thể phân ra thành nhiều thị trường nhỏ,
trong đó có thị trường đầu tư FDI. Trong phạm vi đề tài này, ta chỉ nghiên
cứu địa phương trong thị trường đầu tư FDI.
Dựa vào khái niệm sẵn có về thị trường, có thể đưa ra một khái niệm về
thị trường đầu tư FDI như sau: thị trường đầu tư FDI là nơi gặp gỡ giữa nhà
đầu tư và chính quyền địa phương để trao đổi sản phẩm “môi trường
kinhdoanh của địa phương”, nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm địa điểm kinh
doanh của nhà đầu tư.
3. Khách hàng là nhà đầu tư
Trong thị trường đầu tư FDI thì khách hàng chính là các nhà đầu tư
đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Điểm đáng lưu ý về khách hàng nhà đầu tư
là: họ là khách hàng tổ chức, nghĩa là họ dùng sản phẩm một cách trực tiếp
hay gián tiếp sản xuất hay cung cấp dịch vụ, nhằm mục tiêu kinh doanh.
Nhưng sản phẩm mà họ tiêu dùng không phải là nguyên nhiên liệu hay các
dịch vụ vận tải mà là môi trường kinh doanh của địa phương.
Nhà đầu tư là đại diện của một tổ chức, điều này ảnh hưởng tới quyết
định “mua hàng” hay quyết định đầu tư của một nhà đầu tư. đặc điểm của
khách hàng là tổ chức là
• Quyết định mua sắm chính thức của tổ chức thường có lượng tiền
lớn vì vậy quá trình ra quyết định thường kéo dài, phức tạp và liên
quan đến nhiều người hơn.
• Đối với khách hàng là tổ chức thì vai trò của người bán hàng trực
tiếp quan trọng hơn so với quảng cáo.
• Các quyết định mua sắm của tổ chức thường chịu tác dộng của các
quy định nhất định về quy trình do tổ chức dưa ra hay tuân thủ theo
quy định của pháp luật
II. Năm biến số Marketing trong thu hút FDI
Trong chương trình cao học quản trị kinh doanh tại đại học Quốc tế
Nhật bản, giáo sư Phillips Sidel đã sử dụng năm biến số để xây dựng và phân
tích một kế hoạch Marketing thông thương, bao gồm: sản phẩm( product),
định vị( positioning). Khách hàng mục tiêu( target audience), phạm vi phân
phối( scope oi distribution), phạm vi truyền thông ( scope of
Đề tài nghiên cứu khoa học
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét