- Phát triển hệ thống giao thông đường bộ là vẫn đề có tính chiến lược nằm
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nước. Do vậy,
việc huy động vốn đầu tư xây dựng và bảo đưỡng GTVT đường bộ cần được
họch định trong khoang thời gian dài và phủ hợp với cân đối chung trong kế
hoạch tổng thể huy động vốn đầu tư phát triển toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Từ những đặc điểm chung, hệ thống giao thống GTVT ở Việt Nam còn
co những đặc điểm riêng: Nhìn chung, mang lưới nước ta đã được hình thành
và phân bổ khác hợp lý so với địa hình, nhưng chưa hoàn chỉnh, còn tồn tại
một số vấn đề sau:
+ Chua co đường cao tốc, đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao (cấp I, cấp II)
chiếm tỷ lệ thấp.
+ Còn nhiều tuyến chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống đường chưa
đồng bộ, một số vùng như vung núi cao đường chưa thông xe được 4 mùa.
+ Hành lang bảo vệ an toàn giao thông chưa đảm bảo đúng tiêu chuẩn,
việc giải phóng mặt bằng để cải tạo,mở rộng nâng cấp rất khó khăn, khối
lượng đền bù rất lớn.
+ Nhiều công trình được xây dựng trước đây có độ cao và nền đường
không còn phủ hợp với chế độ nền móng hiện tại nên trong mùa mưa lũ,
nhiều đoạn đường bị ngập và sụt lở, đặc biệt khu vực miền Trung đường bộ bị
phá hoại nghiêm trọng sau những đợt lũ lụt.
2. Sự cần thiết phải tăng cường huy động vốn đầu tư để duy tư bảo
dưỡng hệ thống giao thông đường bộ ở Việt Nam
Công tác DTBD chỉ được tiến hành khi công trình đường bộ đã được
hoàn thành và phải được làm một cách thường xuyên liên tục theo thơi gian
sử dụng công trình. Tuỳ theo đặc điểm, tính kết cấu của loại công trình đường
bộ mà lập kế hoạch DTBD phù hợp tránh gây sự thất thoát, lãng phí vốn. Đối
với trục đường quốc lộ phải có kế hoạch DTBD thường xuyên và định kỳ,
5
DTBD tống thể và bộ phận và được phân cấp quản lý với nguồn ngân sách
TW hỗ trợ, còn đối với đường tỉnh lộ , huyện lộ do điạ phương tự chủ trì thực
hiện có sự giúp đỡ của cấp trên có thẩm quyền , với đường xã lộ do dân địa
phương thực hiện theo các đường hỏng đến đâu thì DTBD đến đó…
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và địa hình nước ta, công tác duy tu bảo
dưỡng đường bộ của từng vùng, miền, các tỉnh có kế hoạch khác nhau và nguồn
vốn dành cho DTBD đòi hỏi nhưng nhu cầu của nền kinh tế đáp ứng chưa được
là bao. Do vậy việc lập kế hoạch cho DTBD ở cấp cơ sở còn bị bỏ ngỏ.
Mạng lưới GTVT đường bộ của Việt Nam là khá rộng, yêu cầu về DTBD
đối với một mạng lưới như vậy là rất quan trọng . Đặc biệt khi mà hầu hết các
tuyến đường đều phải gánh khí hậu gió mùa ẩm ướt, sự quá tải của phương
tiện và một tỷ lệ lớn các tuyến đường nằm ở khu vực đồi núi mà phương tiện
rửa trôi và xói mòn đã góp phần vào việc tạo them rủi ro cho công tác DTBD.
Chính phủ Việt Nam mong muốn cải thiện được tất cả các mặt của công
tác DTBD đường bộ vả mạng lưới GTVT đường bộ nhất là GTVT nông thôn
còn nhiều bất cập, tại nhiều các tỉnh đường xã, huyện quy mô và tình trạng sử
dụng thấp .
Bảng 1: Mạng lưới GTVT đường bộ một số tỉnh năm 2005 (đơn vị Km)
Nhựa cấp phối Đ.xỉ Đ. đất Đ.tốt Đ.TB Đ.xấu
Bắc Giang 27 376 1219 1712 136 1004 2079
Bình Định 25 400 740 1900 95 725 2245
Hà Tây 1014 1739 1002 301 526 1579 1883
Hà Tĩnh 127 428 567 397 991
Hải Dương 15 881 827 578 335 576 884
Nghệ An 656 1635 1221 2909 920 4492
Quảng Bình 711 483 438
Quảng Nam 63 138 765 786 790 280 912
Thái Bình 556 607 872 181 947 867
Sơn La 345 158 387 48 345 1873
6
Như vậy, mạng lưới GTVT chưa dủ đảm bảo đi lại cho các vùng, chất
lượng đường ké. Công tác quản lý còn nhiều bất cập, công tác DTBD đường
không được quan tâm đúng mức, làm cho đường xuống cấp nhanh.
Đối với các tỉnh nhất là các tỉnh có địa hình đồi núi khó khăn, hệ thống
GTVT đường bộ cần được quan tâm hơn. Như vậy việc tiếp tục đầu tư cho
nâng cấp và khôi phục đương bộ là rất cần thiết bởi:
-Nâng cấp hệ thống đường đi lại trong mọi điều kiện thời tiết sẽ làm cho
việc vận chuyển hang hoá và hành khách ở các vùng dễ dàng hơn rẻ hơn
nhanh chóng hơn và thuận tiện đáng tin cậy hơn.
-Việc tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống đường sẽ làm tăng khẳ năng tiếp
cận của người dân tới các vùng đã phát triển, các khu chợ, tiếp cận với các
đầu vào phục vụ sản xuất, tiêu dùng, những nơi có việc làm, cơ sở y tế, tài
chính, truyền thống.
-Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức Nhà nước và tư nhân cung ứng
tốt hơn các dịch vụ xây dựng và dịch vụ hỗ trợ vớicác nhà kinh doanh, buôn
bán nhỏ. Tạo cơ hội kinh tế và công ăn việc làm cho người dân , việc họ được
hưởng lợi ngày càng nhiều các dịch vụ tốt hơn về y tế và giáo dục …
Thực tế cho thấy. Hệ thống GTVT đường bộ có đồng bộ duy trì bền vững
được hay không lại phụ thuộc rất lớn vào việc DTBD thường xuyên và liên
tục. Việc DTBD hệ thống giao thông GTVT đường bộ cho những năm tiếp
theo là rất cần thiết, nó quyết định đến tuổi thọ của công trình, chất lượng sử
dụng. Nếu không thực hiện công tác bảo dưỡng đường thì được coi như là
hành đông không đầu tư nữa bởi điều đó có ý nghĩa như một sự vứt bỏ những
khoản đầu tư nữa bởi điều đó có ý nghĩa như một sự vứt bỏ những khoản đàu
tư cho các tuyến đường đã đầu tư .Mặt khác đàu tư cho DTBD còn hạn chế
được tai nạn giao thông. Công tác bảo vệ giữ gìn và duy trì tình trạng kỹ thuật
của hệ thống đường bộ hiện có, một tài sản với tổng giá trị hang trăm ngàn tỷ
7
đồng, việc đầu tư cho công tác bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ
đường bộ được quan tâm đúng mức và kịp thời theo chu lứa sửa chữa.
Theo đánh giá của các chuyên gia ngân hang thế giới, trong khoảng hai thập
kỷ qua các nước đang phát triển đã mất đi khoảng 45 tỷ đô la cơ sở vật chất
hạ tầng mà hoàn toàn có thể giữ lại được nếu chi phí khoảng 12 tỷ đô la cho
công tác bảo dưỡng đường. Điều này cũng có nghĩa là: Nếu đầu tư một đồng
vốn kịp thời cho công tác bảo dưỡng đường thì giá trị sinh lợi sẽ gấp 4 lần đầu
tư phát triển mới. Cần kịp thời ngăn chặn những hư hỏng xuống cấp của hệ
thống đường thì việc tiếp tục DTBD là cần thiết và giữ gìn được giá trị tài sản
kết cấu hạ tầng hiện có. Do vậy cần phải đầu tư hơn nữa bảo đảm tỷ lệ vốn
đầu tư cần và đủ hang năm, ổn định cho công tác DTBD đường bộ.
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁC DTBD
HỆ THỐNG GTVT ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
1. Tình hình huy động tổng mức vốn đầu tư cho duy tư bảo dưỡng hệ
thống GTVT đường bộ ở Việt Nam
Bảng 2: Vốn đầu tư cho DTBD dường bộ giai đoạn 2001-2005
Năm Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng VĐT
tỷ đồng 9.987 10.251 10.675 11.899 12.123
Tốc độ pt định gốc
% 2,643 6,889 19,145 21,388
Tốc độ pt liên hoàn
% 2,643 4,136 11,466 1,883
XDCB
tỷ đồng 7.101 7.155 7.334 8.091 8.050
Tốc độ pt định gốc
% 0,760 3,281 13,942 13,364
Tốc độ pt liên hoàn
% 0,760 2,502 10,322 -0,507
DTBD
tỷ đồng 2.886 3.096 3.341 3.808 4.073
Tốc độ pt định gốc
% 7,277 15,766 31,947 41,130
Tốc độ pt liên hoàn
% 7,277 7,913 13,978 6,959
Tốc độ phát triển định gốc
8
Tốc độ phát triển liên hoàn
Nguồn : Bộ GTVT
Qua bảng có thể thấy tổng vốn đầu tư cho phát triển hệ thống đường bộ có xu
hướng tăng dần trong giai đoạn 2001-2005, năm sau tăng nhiều hơn năm
trước, nhưng đến năm 2005 tốc độ tăng này có suy giảm (1,88%). Qua đây có
thể thấy được vấn đề phát triển hệ thống giao thông đường bộ đang ngày được
coi trọng, thể hiện qua việc số vốn huy động cho công tác này ngày càng tăng.
9
Trong vốn đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ thì gồm có vốn đầu
tư XDCB và vốn đầu tư duy tu bảo dưỡng
Có thể thấy được trong những năm gần đây vốn đầu tư duy tu bảo dưỡng
đang tăng nhanh hơn so với vốn đầu tư XDCB. Nếu như năm 2005 vốn đầu tư
XDCB tăng 13,36% so với năm 2001 thì ở vốn đầu tư duy tu bảo dưỡng, con
số này là 41,13% (gấp 3 lần). Tốc độ tăng hàng năm của vốn đầu tư duy tu
bảo dưỡng cũng cao hơn đáng kể so với vốn đầu tư XDCB: năm 2002 vốn
đầu tư XDCB tăng 0,76% thì vốn đầu tư DTBD tăng 7,277%,năm 2003
XDCB tăng 2,5% thì DTBD tăng 7,9%, năm 2005 XDCB còn giảm 0,5% thì
DTBD vẫn tăng 6,96%. Như vậy có thể thấy được trong những năm gần đây
nguồn vốn huy động cho công tác DTBD đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao
trong tổng vốn đầu tư. Điều này thể hiện công tác DTBD đang ngày càng
nhận thức rõ hơn vai trò quan trọng của mình
Tính theo tỷ trọng
Năm Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng VĐT tỷ đồng 9.987
10.25
1
10.67
5
11.899 12.123
XDCB tỷ đồng 7.101 7.155 7.334 8.091 8.050
Tỷ trọng % 71,102
69,80
0
68,70
0
68,00
0
66,400
DTBD tỷ đồng 2.886 3.096 3.341 3.808 4.073
Tỷ trọng %
28,90
0
30,20
0
31,100
32,00
0
33,600
10
Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta nhận thấy, vốn đầu tư chi cho xây
dựng cơ bản hệ thống giao thông quốc lộ đang có xu hướng tăng lên, mặc dù
lượng tăng là không đáng kể. Tuy nhiên, xét về tỷ trọng nguồn vốn đầu tư chi
cho xây dựng cơ bản hệ thống giao thông quốc lộ trong tổng số vốn đầu tư
cho ngành giao thông có xu hướng giảm. Điều này dễ hiểu vì lượng vốn đầu
tư cho giao thông quốc lộ tăng ít hơn so với tổng lượng vốn được đầu tư cho
ngành.
Nhìn vào lượng vốn đầu tư cho duy tu bảo dưỡng cho các công trình giao
thông quốc lộ ta thấy nó có xu hướng tăng lên rõ rệt trong những năm trở lại
đây. Điều này cho thấy, các công trình giao thông quốc lộ trong những năm
gần đây đang được chính phủ quan tâm nhiều hơn. Đây là tín hiệu đáng mừng
bởi như đã nói ở trên, duy tu bảo dưỡng các công trình giao thông đường bộ
có tác dụng rất lớn tới việc đảm bảo chất lượng của công trình, cũng như đảm
bảo tuổi thọ cho nó. Hơn nữa, khi đầu tư cho việc bảo dưỡng duy tu các công
trình thì sẽ tiết kiệm được cho chính phủ nguồn lực rất lớn.
11
Bảng 3: Vốn DTBD phát triển hệ thống giao thông quốc lộ giai đoạn
2000 - 2005
Năm Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng VĐT
Tỷ
đồng 15.425 15.571 15.902 17.148 17.295 17.398
Tốc độ pt định gốc % 0,947 3,092 11,170 12,123 12,791
Tốc độ pt liên
hoàn % 0,947 2,126 7,835 0,857 0,596
BDTX
Tỷ
đồng 465 510 599 848 1.019 1.098
Tốc độ pt định gốc % 9,677 28,817 82,366 119,140 136,129
Tốc độ pt liên
hoàn % 9,677 17,451 41,569 20,165 7,753
BDĐK
Tỷ
đồng 1.390 1.400 1.420 2.052 2.062 2.962
Tốc độ pt định gốc % 0,719 2,158 47,626 48,345 113,094
Tốc độ pt liên
hoàn % 0,719 1,429 44,507 0,487 43,647
Trong giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư phát triển hệ thống giao thông
quốc lộ có xu hướng tăng dần, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định: giai đoạn
2001-2003 tốc độ tăng tăng dần đến năm 2003 là 7,83% nhưng giai đoạn
2003-2005 tốc độ tăng giảm dần, đến năm 2005 còn 0,596%. Năm 2003 là
năm vốn đầu tư DTBD tăng mạnh nhất (7,83%) trong đó BDTX tăng
41,569%, BDĐK tăng 44,507%.
Tính theo tỷ trọng
12
Trong giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư phát triển hệ thống giao thông
quốc lộ có xu hướng tăng dần, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định: giai đoạn
2001-2003 tốc độ tăng tăng dần đến năm 2003 là 7,83% nhưng giai đoạn
2003-2005 tốc độ tăng giảm dần, đến năm 2005 còn 0,596%. Năm 2003 là
năm vốn đầu tư DTBD tăng mạnh nhất (7,83%) trong đó BDTX tăng
41,569%, BDĐK tăng 44,507%.
Tỷ trọng của vốn đầu tư BDTX và BDĐK cũng có xu hướng tăng trong giai
đoạn này. Năm 2000 tỷ trọng của BDTX và BDĐK là 3,015% và 9,011%
nhưng đến năm 2005 con số này đã là 6,311% và 17,025%. Tốc độ tăng tỷ
trọng của BDĐK luôn cao hơn so với của BDTX, điều này cho thấy công tác
BDĐK phần nào được chú trọng hơn.
2. Tình hình huy động tổng mức vốn đầu tư cho duy tư bảo dưỡng hệ
thống GTVT đường bộ phân theo từng nguồn vốn
2.1.Vốn ngân sách
Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu , chi cân đối NSNN. Nguồn ngân
sách Nhà nước được chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng lớn, trong đó có
chi đầu tư xây dựng và DTBD hệ thống GTVT đường bộ ở các nước đang
13
Năm Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng VĐT Tỷ đồng 15.425 15.571 15.902
17.14
8 17.295 17.398
BDTX Tỷ đồng 465 510 599 848 1.019 1.098
Tỷ trọng % 3,015 3,275 3,767 4,945 5,892 6,311
DTCB Tỷ đồng 1.390 1.400 1.420 2.052 2.062 2.962
Tỷ trọng % 9,011 8,991 8,930 11,966 11,923 17,025
Khối lượng
đường SCĐK % 33 36 42 41 49 37
phát triển như đất nước Việt Nam thì nguồn tiết kiệm của ngân sách Nhà nước
còn rất hạn chế, do vậy nó thường chi được khai thác đầu tư các dự án then
chốt cần thiết. Hiện nay nguồn vốn này mới chỉ mới đáp ứng được khoảng
30% nhu cầu vốn đầu tư cho thông đường bộ và khoảng 45% cho công tác
duy tu bảo dưỡng.Tuy nhiên, trong lĩnh vực đầu tư phát triển nói chung và
phát triển đường bộ nói riêng, nguồn vốn tiết kiệm của ngân sách nhà nước gữ
vai trò chủ đạo thể hiện thông qua vai trò chủ đạo của vốn ngân sách trong
quá trình đầu tư, cụ thể:
Trong những năm qua nguồn vốn ngân sách. Nhá nước đã đóng vai trò
chủ chốt trong việc cung cấp vốn để đầu tư nhằm tạo ra một hệ thống GTVT
đường bộ, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Phần lớn hệ thống đường bộ hiện có được đầu tư bằng vốn của ngân
sách. Nhà nước trong việc cung ứng hang hoá công cộng cho xã hội trong
điều kiện thực hiện cơ chế quản lý vốn bao cấp. Mặt khác, đầu tư xây dựng và
duy tư bảo dưỡng kết cầu hạ tầng GTVT đường bộ cần một lương vốn lớn,
quay vòng vốn chậm và thậm chi không có thu. Do vậy. chỉ co Nhà nước mới
có khả năng đảm bảo vai trò chính trong lĩnh vực này. Chính vì lẽ đó vốn
ngân sách nền tảng, quyết định đến việc hình thành và đảm bảo hoạt động của
hệ thống giao thông vận tại nói chung và hệ thống GTVT đường bộ nói riêng.
Các nguồn tài chính được sử dụng cho công tác DTBD đường phụ thuộc vào
tình hình tài chính của NSNN, của ngân sách tỉnh, cơ quan hành chính sự
nghiệp của huyện. Việc hay động các nguồn ngoài quốc doanh ngân sách
dành cho công tác DTBD đường chỉ chiếm một ty lệ rất nhỏ và con số doanh
nghiệp tư nhân trong nước đầu tư cho công tác tác này gần như là con số
không. Thực tế các nguồn tài chính hiện nay gồm: Nguồn vốn NSNN là chủ
yếu (chiếm trên 88%), ngân sách tỉnh, huyện và đóng góp dưới sự hỗ trợ của
các tổ chức trong và ngoài nước theo các chương trình trọng điểm quốc gia,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét